LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Bích San.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo
tính khách quan, khoa học, dựa trên kết quả khảo sát thực tế. Các tài liệu tham
khảo đều có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tác giả
Nguyễn Thanh Ngọc
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2. Ý NGHĨA KHOA HỌC, Ý NGHĨA THỰC TIỄN 4
2.1 Ý NGHĨA KHOA HỌC 4
2.2 Ý NGHĨA THỰC TIỄN 4
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5
3.1. Mục đích nghiên cứu: 5
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: 5
4. KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU : 5
4.1. Khách thể nghiên cứu : 5
4.2. Đối tượng nghiên cứu : 5
4.3. Phạm vi nghiên cứu: 5
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
5.1. Phương pháp thu thập thông tin 6
SỞ DĨ TRONG MẪU NGHIÊN CỨU VỀ LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP CHỈ XUẤT HIỆN 4 NHÓM
DOANH NGHIỆP LÀ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI, TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN, CỔ PHẦN
VÀ LIÊN DOANH MÀ KHÔNG CÓ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LÀ BỞI LẼ PHẦN LỚN
CÁC DOANH NGHIỆP, ĐƠN VỊ NHÀ NƯỚC THƯỜNG KHÔNG ĐĂNG TIN TRÊN BÁO KHI CÓ
NHU CẦU TUYỂN DỤNG HOẶC MỘT BỘ PHẬN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐÃ ĐƯỢC
CHUYỂN ĐỔI THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN. DO ĐÓ, VIỆC CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
KHÔNG XUẤT HIỆN TRONG MẪU NGHIÊN CỨU ĐƯỢC COI LÀ HỢP LÝ 7
6. Giả thuyết nghiên cứu 8
2. Ý NGHĨA KHOA HỌC, Ý NGHĨA THỰC TIỄN 4
2.1 Ý NGHĨA KHOA HỌC 4
2.2 Ý NGHĨA THỰC TIỄN 4
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5
3.1. Mục đích nghiên cứu: 5
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: 5
4. KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU : 5
4.1. Khách thể nghiên cứu : 5
4.2. Đối tượng nghiên cứu : 5
4.3. Phạm vi nghiên cứu: 5
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
5.1. Phương pháp thu thập thông tin 6
SỞ DĨ TRONG MẪU NGHIÊN CỨU VỀ LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP CHỈ XUẤT HIỆN 4 NHÓM
DOANH NGHIỆP LÀ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI, TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN, CỔ PHẦN
VÀ LIÊN DOANH MÀ KHÔNG CÓ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LÀ BỞI LẼ PHẦN LỚN
CÁC DOANH NGHIỆP, ĐƠN VỊ NHÀ NƯỚC THƯỜNG KHÔNG ĐĂNG TIN TRÊN BÁO KHI CÓ
NHU CẦU TUYỂN DỤNG HOẶC MỘT BỘ PHẬN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐÃ ĐƯỢC
CHUYỂN ĐỔI THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN. DO ĐÓ, VIỆC CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
KHÔNG XUẤT HIỆN TRONG MẪU NGHIÊN CỨU ĐƯỢC COI LÀ HỢP LÝ 7
6. Giả thuyết nghiên cứu 8
1.1.1. Phương pháp luận 10
1.1.3. Khái niệm công cụ 14
1.2.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 16
1.2.2. Tổng quan về trang tuyển dụng vietnamworks.com 21
2.1. Các nhóm kỹ năng cơ bản của sinh viên tốt nghiệp Đại học 24
3.1. Những tiêu chí quan trọng của nhà tuyển dụng khi đánh giá 55
Bảng 3.1: Phân loại mức độ quan trọng của các tiêu chí đối với 57
nhà sử dụng lao động (%) 57
Bảng 3.3: Đánh giá của nhà tuyển dụng về tỷ lệ số người lao động có trình độ ĐH được trang bị kỹ năng
mềm (%) 63
liên quan mật thiết với sự hưng vong của xã hội nên muốn tồn tại, phát triển,
Nhà nước phải đẩy mạnh giáo dục trong đó chú trọng nâng cao chất lượng
1
nguồn nhân lực bậc cao ở nước ta. Đặt mình vào bức tranh chung của giáo
dục thế giới, nền Giáo dục Việt Nam có nhiều cơ hội hơn, đồng thời những
thách thức đặt ra cũng không nhỏ.
Những năm sau đổi mới, mục tiêu xây dựng, cải cách nền giáo dục đại học
luôn luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm nhằm đào tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội và công cuộc phát triển đất nước.
Cùng với sự khởi sắc của điều kiện kinh tế, xã hội, nền giáo dục nói chung và giáo
dục Đại học nói riêng của Việt Nam cũng có những thay đổi đáng kể về chất và
lượng. Năm 1987, Việt Nam có 101 trường Đại học, Cao đẳng, đến năm 2000 con
số này là 178 trường. Như vậy sau 13 năm đã có thêm 77 trường Đại học và Cao
đẳng ra đời. Tính đến tháng 9/2009 con số này là 412 trường, tăng 234 trường so
với thời điểm năm 2000. Cùng với sự gia tăng của số trường, số lượng sinh viên
cũng tăng mạnh từ 162,5 nghìn (2000) lên 222,7 nghìn (2008), đội ngũ giáo viên,
các Giáo sư, Phó Giáo sư cũng tăng gấp 3 lần so với thời điểm 1987. Năm 1997 tỷ
lệ sinh viên/1 vạn dân là 80 đến năm 2009 con số này đạt 195 [3]. Bên cạnh đó,
chất lượng giáo dục Đại học Việt Nam cũng đã có những thay đổi tích cực theo
hướng tiên tiến, hiện đại, đáp ứng theo nhu cầu xã hội. Sinh viên đã và đang được
tiếp cận với nhiều phương pháp dạy học mới, vị trí trung tâm trong hoạt động
giảng dạy đã và đang được chuyển từ người dạy sang người học thay thế dần cho
phương pháp dạy và học truyền thống.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu thì giáo dục Đại học vẫn còn tồn
tại nhiều vấn đề bất cập liên quan tới chất lượng giáo dục mà nguyên nhân
chủ yếu là do Việt Nam chưa có được một công cụ giám sát, đánh giá chất
lượng giáo dục Đại học mang tính phổ quát và được thừa nhận rộng rãi. Khi
chất lượng đào tạo của giáo dục Đại học đang bỏ ngỏ thì vấn đề về đầu ra ở
bậc đại học càng nhận được sự quan tâm của dư luận xã hội. Việc làm của
sinh viên (SV) sau khi tốt nghiệp là một trong những chỉ báo quan trọng để
2. Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn.
2.1 Ý nghĩa khoa học.
Về phương diện khoa học, chất lượng đầu ra của giáo dục Đại học luôn
nhận được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học trong đó xã hội học nghiên
cứu vấn đề này trên nhiều chiều cạnh, góc độ tiếp cận khác nhau để tìm ra bản
chất của vấn đề. Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận từ góc độ thị trường
lao động để tìm hiểu, nhìn nhận và giải thích, coi sản phẩm của giáo dục là
một loại hàng hóa được làm ra nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng (ở
đây là thỏa mãn yêu cầu của các tổ chức, doanh nghiệp và nhà tuyển dụng).
Thông qua việc phân tích những đánh giá của nhà tuyển dụng về những kỹ
năng thực tế của sinh viên cũng như yêu cầu của nhà tuyển dụng về những kỹ
năng cơ bản đối với sinh viên tốt nghiệp Đại học, nghiên cứu góp phần làm
sáng tỏ các lý thuyết xã hội học như lý thuyết nhu cầu, lý thuyết lựa chọn hợp
lý,… cũng như áp dụng, chứng minh các quan điểm của xã hội học giáo dục,
xã hội học lao động,…
2.2 Ý nghĩa thực tiễn.
- Nghiên cứu góp phần cung cấp các dữ liệu về nhu cầu của thị trường
lao động về những kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp đại học, làm cơ sở cho
các trường đại học thiết kế chương trình đào tạo gắn với thực tiễn lao động.
- Nghiên cứu còn giúp sinh viên có định hướng trong việc trang bị các
kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu tuyển dụng.
- Kết quả nghiên cứu còn là thông tin tham khảo cho các nhà tuyển
dụng trong việc thiết kế chương trình tuyển dụng, huấn luyện, đào tạo và phát
triển nhân viên của mình.
4
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu hướng đến làm rõ những yêu cầu của nhà tuyển dụng về
các kỹ năng cơ bản đối với sinh viên tốt nghiệp đại học, qua đó cung cấp cho
Giáo dục Đại học có được định hướng tốt hơn trong việc hoạch định chương
tuyển dụng.
Ưu điểm của phương pháp này là đảm bảo được tính khách quan của
thông tin thu được so với một số phương pháp khác như phỏng vấn sâu hay
trưng cầu ý kiến.
Đặc điểm mẫu nghiên cứu:
Loại hình công ty:
Loại hình công ty Tần suất Tỷ lệ (%)
Cổ phần 102 34,0
Nước ngoài 61 20,3
TNHH 94 31,3
Liên doanh 43 14,3
6
- Các vị trí tuyển dụng:
Vị trí tuyển dụng Tần suất Tỷ lệ (%)
Hành chính/nhân sự 82 27,3
Dịch vụ khách hàng 79 26,3
Kỹ sư/kiến trúc sư/ xây dựng 61 20,3
Tài chính/Kế toán 78 26,0
Sở dĩ trong mẫu nghiên cứu về loại hình doanh nghiệp chỉ xuất hiện 4
nhóm doanh nghiệp là doanh nghiệp nước ngoài, trách nhiệm hữu hạn, cổ
phần và liên doanh mà không có các doanh nghiệp nhà nước là bởi lẽ phần
lớn các doanh nghiệp, đơn vị nhà nước thường không đăng tin trên báo khi có
nhu cầu tuyển dụng hoặc một bộ phận doanh nghiệp nhà nước đã được
chuyển đổi thành công ty cổ phần. Do đó, việc các doanh nghiệp nhà nước
không xuất hiện trong mẫu nghiên cứu được coi là hợp lý.
Về vị trí tuyển dụng, 4 vị trí được lựa chọn được coi là đại diện cho 4
nhóm ngành cơ bản hiện nay đó là xã hội, kinh tế, kỹ thuật và dịch vụ với cơ
cấu mẫu tương đối đồng đều.
Ngoài ra, nghiên cứu này còn sử dụng các nguồn tài liệu khác như sách,
báo, tạp chí, tài liệu trên mạng Internet… nhằm bổ sung thêm các thông tin
thực tiễn công việc của sinh viên tốt nghiệp Đại học như kỹ năng liên quan đến
trình độ chuyên môn, nhóm kỹ năng mềm và nhóm kỹ năng về quản lý.
- Có sự khác biệt nhất định trong yêu cầu của nhà tuyển dụng về các kỹ năng
đối với từng vị trí tuyển dụng, ngành nghề và loại hình tổ chức, doanh nghiệp.
- Nhìn chung nhà tuyển dụng đánh giá chưa cao về các kỹ năng thực tế
của sinh viên tốt nghiệp Đại học.
7. Khung lý thuyết.
8
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
Điều kiện Kinh tế - Xã hội
Đặc điểm của loại hình
tổ chức, doanh nghiệp
Sinh viên tốt nghiệp đại
học
Nhu cầu tuyển dụng
(cầu)
Thị trường lao động
(cung)
Yêu cầu của nhà tuyển dụng
về các kỹ năng cơ bản
Kỹ năng liên quan đến
trình độ chuyên môn
Kỹ năng về quản lýKỹ năng mềm
Đánh giá của nhà tuyển dụng về những kỹ
năng thực tế của người lao động có trình độ
Đại học
9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận
các tác giả của lý thuyết trao đổi xã hội, nổi tiếng với chủ trương đưa con
người trở lại xã hội học. Trong các lý thuyết của mình Homans đưa ra mô
hình lựa chọn duy lý của hành vi cá nhân trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản
đã được khái quát thành các định đề sau:
•
Định đề phần thưởng: đối với tất cả các hành động của con người,
hành động nào càng thường xuyên được khen thưởng thì càng có khả năng
được lặp lại.
•
Định đề kích thích: nếu một (nhóm) kích thích nào trước đây đã từng
khiến cho một hành động nào đấy được khen thưởng thì một (nhóm) kích
thích mới càng giống với kích thích đó bao nhiêu thì càng có khả năng làm
cho làm cho hành động tương tự trước đây được lặp lại bấy nhiêu.
•
Định đề giá trị: Kết quả của hành động càng có giá trị cao đối với
chủ thể bao nhiêu thì chủ thể đó càng có xu hướng thực hiện hành động đó
bấy nhiêu. Và khi thấy mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ ra nhiều “chi
phí” vật chất và tinh thần để đạt được nó.
•
Định đề duy lý: Cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào mà giá trị của kết
quả hành động đó và khả năng đạt được kết quả đó là lớn nhất.
•
Định đề giá trị suy giảm (nhàm chán): Càng thường xuyên nhận được
một phần thưởng nào đó bao nhiêu thì giá trị của nó càng giảm đi bấy nhiêu
đối với chủ thể hành động.
•
Định đề mong đợi: nếu sự mong đợi của con người được thực hiện thì
11
người ta sẽ hài lòng, còn nếu không được thực hiện thì cá nhân sẽ bực tức,
không hài lòng.
Nhu cầu an toàn: Khi tất cả các nhu cầu sinh học được thỏa mãn và
không còn làm cho con người lo lắng, bận tâm, thì cái nhu cầu cho sự an toản có
thể phát sinh. Người lớn có ít nhận thức về nhu cầu an toàn, ngoại trừ trong
trường hợp xẩy ra tình trạng khẩn cấp hoặc thời kỳ xáo trộn trong cơ cấu xã hội
(đối với trường hợp bạo loạn lan rộng, chiến tranh). Trẻ em thường tỏ ra các dấu
hiệu cần phải có được sự bảo bọc, chở che, an toàn từ những người lớn.
•
Nhu cầu tình cảm, tình yêu và được nhìn nhận: Khi nhu cầu về an
toàn và sinh học được đáp ứng, cái nhu cầu kế tiếp tiếp là nhu cầu tình cảm,
tình yêu và được nhìn nhận xuất hiện. Maslow nói rằng con người luôn tìm
cách vượt qua cảm giác cô đơn và xa lánh. Điều này liên quan đến cả tình
cảm cho và nhận tình yêu, và ý thức thuộc về lẫn nhau.
•
Nhu cầu cần được tôn trọng: Khi ba loại nhu cầu đầu tiên được thỏa
mãn, nhu cầu lòng tự trọng có thể phát sinh. Điều này liên quan đến lòng tự
trọng mà con người tạo ta cho mình và cả lòng tự trọng mà họ nhận được từ
người khác. Con người luôn cần có một nhu cầu về lòng tự trọng được duy
trì, vững chắc, ở mức độ cao, và cần có sự tôn trọng từ người khác nữa. Khi
những nhu cầu này được thỏa mãn, con người cảm thấy tự tin chính mình và
cảm thấy mình có giá trị như là một con người trên thế giới, không thua gì ai
cả. Nếu không được như thế, khi những nhu cầu này mất đi, con người cảm
thấy kém cỏi, yếu đuối, bất lực và vô giá trị.
•
Nhu cầu tự chứng tỏ mình: Khi tất cả các nhu cầu nói trên được thỏa
mãn, thì nhu cầu muốn hiện thực hóa, tự chứng tỏ bản thân xuất hiện. Maslow
mô tả việc tự chứng tỏ bản thân như là nhu cầu vốn dĩ của con người và họ có
13
khả làm được điều đó, có nghĩa họ được "sinh ra là để thể hiện chính mình."
Maslow nói, "Một nhạc sĩ phải sáng tác âm nhạc, một nghệ sĩ phải biết vẽ, và
một nhà thơ phải làm thơ." Các nhu cầu này làm cho con cảm thấy luôn trăn
Khi tham gia vào bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào phục vụ cho cuộc
sống của chúng ta đều đòi hỏi chúng ta phải thỏa mãn những kỹ năng tương
ứng. Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một
hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công
việc nào đó phát sinh trong cuộc sống. Đa số kỹ năng mà chúng ta có được và
hữu ích với cuộc sống của chúng ta là xuất phát từ việc chúng ta được đào tạo.
Và như thế, nền tảng của sự thành công của chúng ta trong cuộc sống là do 98%
là do được đào tạo và tự đào tạo rèn luyện kỹ năng, chỉ có 2% là kỹ năng bẩm
sinh tham gia vào sự thành công của chúng ta. Có người đã phân loại kỹ năng
thành 2 loại cơ bản là Kỹ năng cứng và Kỹ năng mềm. Kỹ năng cứng là kỹ năng
mà chúng ta có được do được đào tạo từ nhà trường hoặc tự học, đây là kỹ năng
có tính nền tảng. Loại thứ 2 là kỹ năng mềm là loại kỹ năng mà chúng ta có
được từ hoạt động thực tế cuộc sống hoặc thực tế nghề nghiệp.
Theo từ điển Wikipedia có viết: Kỹ năng mềm là thuật ngữ dùng để chỉ
các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người như: kỹ năng sống, giao
tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, thư giãn, vượt
qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới Theo một cách hiểu khác, kỹ năng
mềm chủ yếu là những kỹ năng thuộc về tính cách con người, không mang
tính chuyên môn, không thể sờ nắm, không phải là kỹ năng cá tính đặc biệt,
chúng quyết định bạn có khả năng trở thành nhà lãnh đạo, nhà thương thuyết
hay người hòa giải xung đột,… Kỹ năng mềm là loại kỹ năng cực kỳ phong
phú và không kém phần quan trọng như Kỹ năng cứng. Kỹ năng mềm khác
với kỹ năng cứng để chỉ trình độ chuyên môn, kiến thức chuyên môn hay
15
bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn. Nhìn chung, kỹ năng mềm thiên nhiều về
yếu tố bẩm sinh, tuy nhiên nếu chịu khó rèn luyện con người vẫn có thể nâng
cao đáng kể những kỹ năng mềm của bản thân.
•
Tuyển dụng [19]:
Tuyển dụng có nhiều định nghĩa, trong đó có một định nghĩa được thông
học Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tiến hành trong 2 năm 2009- 2010 trong đó
phần lớn các nội dung của dự án được thực hiện trong năm 2010. Nội dung
chính của báo cáo bao gồm 4 phần chính: (i) Phần I: Những thành tựu và hạn
chế của giáo dục Đại học Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2010, (ii) Phần II:
Hiện trạng chất lượng giáo dục Đại học Việt Nam dưới góc độ thị trường lao
động, (iii) Phần III: Nguyên nhân yếu kém về chất lượng giáo dục Đại học ở
Việt Nam hiện nay và (iv) Phần IV: Các khuyến nghị và giải pháp nâng cao
chất lượng giáo dục Đại học ở Việt Nam hiên nay. Trọng tâm của báo cáo tập
trung vào việc làm rõ hiện trạng của chất lượng giáo dục Đại học từ góc độ thị
trường lao động, trong đó báo cáo nhấn mạnh: “Trong khoảng 10 năm trở lại
đây giáo dục Đại học của Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể về chất và
lượng. Song, nhiều hạn chế cũng đang song song tồn tại và thậm chí còn phát
triển mạnh cùng nền giáo dục Đại học, đặc biệt là những vấn đề có liên quan
tới chất lượng. Các số liệu thống kê cho thấy, số trường Đại học, Cao đẳng
của Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi trong giai đoạn này nhưng sự tăng trưởng
đó dường như lại đang tỷ lệ nghịch với sự tăng trưởng về chất lượng.” Bên
cạnh đó, báo cáo cũng chỉ ra một thực tế đó là dù tỷ lệ thất nghiệp của Việt
Nam trong những năm qua được duy trì ở mức thấp và hầu hết sinh viên ra
trường đều tìm được việc làm, tuy nhiên phần lớn trong đó đang làm việc trái
ngành. Xem xét vấn đề này từ góc độ thị trường lao động, nhóm nghiên cứu
17
cho rằng việc nhà sử dụng lao động nói riêng và thị trường lao động đang dần
thay đổi hình thức tuyển dụng và có 3 yếu tố làm căn cứ đánh giá trong quá
trình tuyển dụng nhân sự: (i) khả năng chuyên môn, (ii) khả năng tự đào tạo
và (iii) kỹ năng mềm. Đây là cơ sở quan trọng để các trường Đại học, Cao
đẳng nói chung và sinh viên nói riêng có được những định hướng cụ thể trong
việc hoạch định, xây dựng các chương trình đào tạo nhằm trang bị cho sinh
viên những kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng và thị
trường lao động, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Đại học ở
Việt Nam.
cầu của nhà tuyển dụng về những kỹ năng đối với sinh viên mới tốt nghiệp
các ngành quản lý – kinh tế : Ứng dụng phương pháp phân tích nội dung ”
của các tác giả Vũ Thế Dũng - Trần Thanh Tòng, Khoa Quản Lý Công
Nghiệp – Đại Học Bách Khoa Tp.HCM) làm nổi bật vấn đề khá rõ nét.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nội dung với khoảng 300 mẫu tin
quảng cáo tuyển dụng trên các trang báo tuyển dụng lớn của Việt Nam đối với
sinh viên mới tốt nghiệp Đại học để tìm hiểu yêu cầu của nhà tuyển dụng về
những kỹ năng cần có của nhóm nhân viên này. Trên cơ sở xem xét các yếu
tố về loại hình doanh nghiệp, vị trí tuyển dụng và ngành nghề, các tác giả đã
chỉ ra được các nhóm kỹ năng chính theo yêu cầu của nhà tuyển dụng đối với
sinh viên mới tốt nghiệp các ngành quản lý – kinh tế. Nghiên cứu đã chỉ ra 17
kỹ năng chính xuất hiện trong các mẫu tuyển dụng, và các kỹ năng này được
chia thành 3 nhóm kỹ năng chính: Nhóm 1 là nhóm các kỹ năng cơ bản, bắt
buộc phải có, nếu không có các ứng viên sẽ rất khó khăn hay không thể được
tuyển dụng. Nhóm này bao gồm 4 kỹ năng chính: Ngoại ngữ, tin học văn
19
phòng, giao tiếp, và làm việc độc lập. Trong đó ngoại ngữ và tin học văn
phòng là 2 kỹ năng quan trọng hàng đầu. Tuy rất quan trọng nhưng nhóm kỹ
năng này chỉ là điều kiện cần để được tuyển dụng, nó chưa phải là điều kiện
đảm bảo. Nhóm 2 là nhóm giá trị gia tăng, nhóm này chính là nhóm kỹ năng
giúp các ứng viên thực sự tạo ra sự khác biệt của mình với đối thủ cạnh tranh.
Nhóm này bao gồm 8 kỹ năng chính là: tổ chức, quản lý, phân tích, làm việc
nhóm, tin học chuyên ngành, truyền thông, hoạch định, và đàm phán. Đây là
rõ ràng là những kỹ năng cao hơn, khó hơn rất nhiều so với nhóm cơ bản. Nó
thực sự sẽ là những thách thức cho các ứng viên mới rời ghế nhà trường.
Nhóm 3 là nhóm dành cho nhà lãnh đạo tương lai. Nhóm này bao gồm các kỹ
năng cần có của các nhà lãnh đạo tương lai như: tổng hợp, lãnh đạo, xây dựng
và phát triển quan hệ, tổ chức nguồn nhân lực, và ra quyết định. Bên cạnh
việc chỉ ra sự khác biệt trong các yêu cầu tuyển dụng trong các lĩnh vực,
ngành nghề và các vị trí tuyển dụng khác nhau, nghiên cứu còn đưa ra mô