Khảo sát ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên - Huế - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG
 HOÀNG LÊ THUÝ NGA

KHẢO SÁT NGÔN NGỮ PHỎNG VẤN
TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở THỪA THIÊN -
HUẾ

CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ : 60.32.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Hoàng Trọng Phiến

HÀ NỘI - 2008

MỤC LỤC
Trang MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 6
5. Đóng góp của đề tài 7
6. Kết cấu của luận văn 7
Chương 1. Một số vấn đề lý luận chung có liên quan đến đề tài 8
1.1. Phỏng vấn và phỏng vấn báo chí 8
1.1.1. Khái niệm 8
1.1.2. Đặc trưng của thể loại phỏng vấn 11
1.1.3. Phỏng vấn-một thao tác nghiệp vụ báo chí 13

3.2.2. Hạn chế 97
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và tính hấp dẫn
của các cuộc phỏng vấn trên Truyền hình ở Thừa Thiên - Huế 102
3.4. Tiểu kết 108
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU KHAM KHẢO 112
PHỤ LỤC

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giao tiếp đại chúng, ngôn ngữ là phƣơng tiện hết sức quan
trọng, không có phạm vi giao tiếp đại chúng nào có thể hoạt động nếu thiếu
ngôn ngữ-một trong những yếu tố chính tạo nên sự hoạt động đó. Vì vậy,
hiệu quả của các phƣơng tiện giao tiếp đại chúng phụ thuộc trực tiếp vào
ngôn ngữ và phong cách diễn đạt. Giao tiếp trên truyền hình cũng không
nằm ngoài yếu tố đó.
Theo quan niệm của ngữ dụng học, hoạt động giao tiếp trên truyền
hình là hoạt động không chỉ đơn thuần là đơn thoại, một chiều, một phía mà
về cơ bản là quan hệ tƣơng tác, trong đó phải kể đến giao tiếp hội thoại-đối
thoại, tức là trao đổi giữa hai bên tham gia giao tiếp, luân phiên và tác động
lẫn nhau đến công chúng. Dạng giao tiếp này xuất hiện rất nhiều ở các
chƣơng trình truyền hình nhƣ: Trò chơi truyền hình, giao lƣu, tọa đàm, đàm
thoại, các chuyên mục đƣợc thể hiện dƣới hình thức đối thoại Trong tất cả
các chƣơng trình đó, giao tiếp hội thoại đƣợc thể hiện rõ nét nhất là ở các
cuộc phỏng vấn.
Với sự kết hợp giữa lời nói và những hành động phi ngôn ngữ, phỏng
vấn truyền hình đƣợc xem là cuộc nói chuyện sống động và hấp dẫn. Đây là
cách khai thác thông tin trực diện dƣới dạng đối thoại, trong đó nhà báo nêu

2. Lịch sử vấn đề
Từ nhiều năm nay, khi nghiên cứu về truyền hình, các nhà khoa học
đã quan tâm nhiều về cách thức, quy trình, nghiệp vụ để xây dựng các
chƣơng trình truyền hình nhƣ cách làm tin, phóng sự, các chƣơng trình giao
lƣu trò chơi, phim tài liệu, dàn dựng các chƣơng trình giao lƣu giải trí…
Việc nghiên cứu ngôn ngữ thể hiện trên truyền hình chỉ mới bắt đầu từ
khoảng mấy năm gần đây. Có thể đánh giá sơ bộ một vài công trình khoa

3
học, các bài báo nghiên cứu ngôn ngữ ở phƣơng tiện giao tiếp truyền
thông này nhƣ sau:
Nếu bắt đầu từ 1999 thì có lẽ phải kể đến các bài viết của Nguyễn Thế
Kỷ nhƣ: “Mấy nhận xét về nói và viết trên đài truyền hình” (tạp chí Ngôn
ngữ và đời sống, số 8/99), “Vài nhận xét về dạng thức nói trên đài truyền
hình từ vai giao tiếp với công chúng” (Tạp chí ngôn ngữ, số 4/1999) và rất
nhiều bài viết của các tác giả khác nhƣ: Nguyễn Đức Hạnh, Nguyễn Thị
Thanh Bình, Vũ Bá Hùng, Nguyễn Đức Tồn đƣợc đăng trong Kỷ yếu hội
thảo khoa học “Tiếng Việt trên các phƣơng tiện truyền thông đại chúng”
Bài viết “Mấy nhận xét về nói và viết trên đài truyền hình” của tác
giả Nguyễn Thế Kỷ chủ yếu nêu những “hạt sạn” khi sử dụng ngôn ngữ trên
đài truyền hình. Từ đó, tác giả đƣa ra yêu cầu cần phải có một sự lựa chọn
trong cách nói, cách viết nhƣ thế nào để diễn tả chính xác tƣ tƣởng, tình cảm
của ngƣời chuyển tải thông tin và giúp ngƣời tiếp nhận hiểu đúng ý đồ của
nhà đài. Trong bài “Vài nhận xét về dạng thức nói trên đài truyền hình từ
vai giao tiếp với công chúng”, Nguyễn Thế Kỷ cũng đã nêu một cách khái
quát về hình thức giao tiếp đối thoại trên truyền hình cùng với các nhân tố
giao tiếp tƣơng ứng. Đồng thời tác giả cũng đã xác định đƣợc phong cách
ngôn ngữ đƣợc sử dụng trên đài truyền hình là phong cách khẩu ngữ văn
hóa. Để tiếp tục nghiên cứu vấn đề này, năm 2004, tác giả đã thực hiện công
trình luận án Tiến sĩ Ngữ văn của mình với tên gọi “Dạng thức nói trên

trên truyền hình.
Ở mức độ luận văn cử nhân và thạc sĩ, khi nghiên cứu về cách sử
dụng ngôn ngữ trên truyền hình cũng đã có Mai Thị Minh Thảo bàn về
“Ngôn ngữ truyền hình trong bản tin thời sự Đài Truyền hình Việt Nam”
(2004), Vũ Thị Kim Dung “Tìm hiểu những dạng lỗi thường gặp về ngôn
ngữ trong chương trình thời sự của truyền hình Hà Nội” (2004) và Hà
Nguyên Sơn “ Ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình”(2006) . Luận văn của

5
tác giả Minh Thảo nêu các đặc trƣng về ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh và lời
bình trong bản tin thời sự của đài THVN. Về phƣơng diện ngôn ngữ, mặc
dù luận văn chƣa có đóng góp gì nhiều nhƣng cũng đã nêu đƣợc một số lỗi
về cách dùng từ, đặt câu, phong cách ngôn ngữ đƣợc sử dụng trong chƣơng
trình. Tác giả góp một tiếng nói đề nghị khắc phục những nhƣợc điểm trong
cách sử dụng ngôn ngữ của nhà đài. Luận văn của Vũ Thị Kim Dung nêu rõ
những hạn chế về phƣơng tiện diễn đạt ngôn từ trên đài truyền hình Hà Nội .
Gần đây, nghiên cứu về ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình đã có
luận văn thạc sĩ của Hà Nguyên Sơn. Đóng góp của công trình này là đã tìm
hiểu diễn tiến ngôn ngữ trong các chƣơng trình thời sự, thể loại chân dung,
Gameshow và sự chi phối của ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình đối với
vấn đề tác nghiệp, nghệ thuật đặt câu hỏi đối với các vị khách mời.
Kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trên, chúng tôi đi sâu khảo
sát các cuộc phỏng vấn ở các đài truyền hình ở TTH. Khi nghiên cứu đề tài,
chúng tôi không phân chia theo từng chuyên mục, chƣơng trình nhƣ tác giả
Hà Nguyên Sơn mà nghiên cứu một cách tổng quát. Bởi vì tất cả các cuộc
phỏng vấn trên đài truyền hình TTH đều giống nhau về hình thức và tính
chất. Hƣớng nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là: cấu trúc cuộc thoại, câu
hỏi phỏng vấn, hành vi nghi thức cuộc thoại, các yếu tố phi ngôn ngữ, các
phƣơng tiện ngôn ngữ, văn hoá ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp truyền
hình. Tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi chọn các cuộc phỏng vấn trên truyền

kê, phân loại, phân tích, so sánh, …nhằm đƣa ra những nhận định có tính lý
luận và thực tiễn
Ngoài ra, để có một cái nhìn khách quan về ƣu điểm và hạn chế của
các cuộc phỏng vấn truyền hình ở TTH chúng tôi đã có so sánh với những
cuộc phỏng vấn trong chƣơng trình “Ngƣời đƣơng thời” của đài Truyền
hình Việt Nam.

7
Tất cả những phƣơng pháp trên xuất phát từ lý luận báo chí học và
dụng học ngôn ngữ.
Về thao tác phân tích, chúng tôi dùng cách phân tích ngôn ngữ hội
thoại, quan hệ liên nhân giữa các vai tham gia cuộc phỏng vấn.
5. Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận, luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận
báo chí và dụng học Việt ngữ, cho nên những kết quả nghiên cứu của luận
văn có thể góp phần làm rõ thêm về giao tiếp hội thoại trong phỏng vấn
truyền hình. Ngoài ra, luận văn cũng muốn khẳng định việc vận dụng lý
thuyết hội thoại trong ngữ dụng học để nghiên cứu cuộc phỏng vấn báo chí
là hợp lý, khoa học. Đây là cách tiếp cận liên ngành. Ở một góc độ nào đó,
chính sự vận dụng khảo sát này gia tăng phạm vi nghiên cứu, phạm vi ứng
dụng của lý thuyết hội thoại nói riêng và ngữ dụng học nói chung.
Về mặt thực tiễn, luận văn góp thêm tƣ liệu cho những nhà nghiên
cứu, giảng dạy, sinh viên chuyên ngành báo chí quan tâm đến cách sử dụng
ngôn ngữ của các nhà đài. Đồng thời, ở phạm vi tỉnh TT-Huế, luận văn là cứ
liệu để giúp cho những ngƣời làm báo nâng cao chất lƣợng và tính hấp dẫn
của các cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình địa phƣơng.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, tài liệu
tham khảo và phụ lục. Trong phần nội dung, luận văn trình bày làm 3
chƣơng nhƣ sau:

thuật giao tiếp và cũng vừa là nghệ thuật sử dụng câu hỏi. Thao tác nghiệp vụ
báo chí này nhằm tìm kiếm thông tin và phản ứng hiện thực trong các thể loại
báo chí nhƣ: tin, phóng sự, ghi nhanh, phỏng vấn, tƣờng thuật …
Phỏng vấn đƣợc xem là một thể loại báo chí độc lập đƣợc thể hiện
dƣới hình thức đối thoại thông qua các hệ thống câu hỏi (của nhà báo) và

9
câu trả lời (của đối tƣợng đƣợc phỏng vấn) nhằm làm rõ một vấn đề, sự kiện
hiện tƣợng nào đó trong đời sống xã hội có tính thời sự, thoả mãn nhu cầu
“đƣợc biết” của công chúng.
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các thể loại báo chí
luôn vận động biến đổi cùng với sự phát triển sôi động của đời sống báo chí.
Bởi vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau trong hệ thống lý luận chung về
phỏng vấn.
Có quan niệm cho rằng: phỏng vấn chỉ cần hỏi và trả lời đơn thuần.
Một sự kiện, một hiện tƣợng chỉ cần “xới xáo” bằng vài câu hỏi là xong
một cuộc phỏng vấn. Quan niệm này quá đơn giản, thật chƣa ổn.
Lại có quan niệm cho rằng phỏng vấn là một cuộc hỏi đáp giữa những
ngƣời làm báo với một nhân vật có danh tiếng. Quan niệm này đã thu hẹp
vai trò, chức năng chuyển tải nội dung của phỏng vấn.
Trong cuốn “Phỏng vấn trong báo viết” của Trƣờng Đại học báo chí
Lille (ESJ), Cộng hoà Pháp do Hội Nhà báo Việt Nam dịch và xuất bản năm
2002 có viết “mọi bước thu thập thông tin trong báo chí đều là một dạng
phỏng vấn. Phỏng vấn là một thể loại viết báo cơ bản bởi nó tồn tại:
- Như một thực hành chuyên nghiệp;
(Phóng viên gặp một con ngƣời cụ thể để đặt những câu hỏi và sau đó
đăng nội dung của cuộc gặp gỡ đó, cô đọng hơn, dƣới dạng câu hỏi và câu
trả lời)
-Như một thực hành cơ bản
(Tất cả phóng sự, điều tra, câu hỏi nhân chứng đều đƣợc tạo nên từ

Tác giả Đinh Văn Hƣờng trong cuốn “Các thể loại báo chí thông
tấn” đã đƣa ra định nghĩa khái quát và phản ánh đƣợc bản chất của phỏng
vấn nhƣ sau: “Phỏng vấn báo chí là một trong những thể loại thuộc nhóm
các thể loại báo chí thông tấn, trong đó trình bày cuộc nói chuyện giữa nhà
báo với một hoặc một nhóm người về vấn đề mà xã hội quan tâm, có ý nghĩa

11
chính trị-xã hội nhất định, được đăng, phát trên các phương tiện thông tin
đại chúng”. [22, 57]
Nhìn chung, có rất nhiều quan niệm khác nhau về thể loại phỏng vấn.
Điều này chứng tỏ sự sôi động của làng báo nƣớc ta và sự quan tâm của các
nhà lý luận báo chí. Các quan niệm trên tuy chƣa hoàn toàn đầy đủ, chính
xác nhƣng đã góp phần không nhỏ vào việc định hình và phát triển của hệ
thống thể loại báo chí nói chung, phỏng vấn nói riêng.
Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển của thể loại trong đời
sống báo chí hiện nay, chúng tôi đƣa ta một khái niệm về phỏng vấn nhƣ sau:
Phỏng vấn là một thể loại thuộc nhóm thông tấn báo chí sử dụng
hình thức trao đổi, hỏi -đáp giữa phóng viên và đối tượng được lựa chọn để
trao đổi về một vấn đề thời sự có ý nghĩa xã hội nhất định nhằm thoả mãn
nhu cầu thông tin mà công chúng quan tâm.
Qua các ý kiến, quan điểm trên cho thấy khái niệm, định nghĩa về
phỏng vấn rất đa dạng, phong phú. Cũng nhƣ các định nghĩa về các thể loại
báo chí khác, định nghĩa về phỏng vấn là một định nghĩa “mở” phù hợp với
sự phát triển của bản thân thể loại, của báo chí và sáng tạo của ngƣời làm báo.
Vậy là, đối với nhà báo thì phỏng vấn, một mặt, là phƣơng pháp thu
thập thông tin bằng cách giao tiếp trực tiếp với ngƣời sở hữu thông tin đó,
và mặt khác, đó còn là thể loại thông tấn báo chí dƣới hình thức đối thoại,
cuộc trao đổi trong đó nhà báo sử dụng hệ thống các câu hỏi để giúp ngƣời
đƣợc phỏng vấn (nguồn thông tin) làm rõ chủ đề đã định một cách hết sức
đầy đủ, theo trình tự lôgích.

Nội dung phỏng vấn gồm đủ các chủ đề về chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội…liên quan đến mọi quan tâm của xã hội và tác động đến đời sống
của đông đảo quần chúng. 13
1.1.3. Phỏng vấn- một thao tác nghiệp vụ báo chí
Trong một tác phẩm báo chí, tác giả xuất hiện với tƣ cách là cái tôi
nhân chứng. Nhƣng trong hoạt động báo chí thực tế, không phải bao giờ nhà
báo cũng là ngƣời chứng kiến đƣợc sự kiện. Đa số các trƣờng hợp sự kiện
xảy ra rồi, phóng viên nhận thông tin từ một nguồn tin theo một cách nào
đó. Những lúc nhƣ vậy, việc tiếp xúc đối tƣợng, những ngƣời trong cuộc,
những chính kiến đều thông qua trao đổi, phỏng vấn. Những câu hỏi đƣợc
đặt ra chủ yếu là nhằm mục đích khai thác thông tin trƣớc hết là cho chính
nhà báo. Vấn đề xảy ra đƣợc nhà báo đánh giá mức độ quan trọng, có ý
nghĩa xã hội hay không rồi lựa chọn hình thức để chuyển tải thông tin đến
với công chúng. Do đó, để có đƣợc thông tin, thao tác nghiệp vụ quan trọng
nhất của ngƣời làm báo là phỏng vấn. Muốn thực hiện phỏng vấn trƣớc hết
ngƣời phỏng vấn phải nắm đƣợc tình hình; có kiến thức rộng về các vấn đề
của đời sống xã hội; hiểu biết các đƣờng lối, chính sách, chủ trƣơng của
Đảng và Nhà nƣớc; có sự chuẩn bị và chủ động trong mọi tình huống;
hƣớng câu chuyện theo ý đồ của mình nhằm khai thác thông tin.
Nhƣ vậy, phỏng vấn là một trong những nội dung tác nghiệp quan
trọng đối với bất kỳ một loại hình báo chí nào. Đây là một hƣớng tiếp cận
hiện thực đặc thù, là một “cách khai thác thông tin trực diện”. Phỏng vấn
không có gì khó. Nhƣng biến nó thành một kỹ năng thực sự có chất lƣợng,
có nghề thì rõ ràng không phải dễ. Hỏi sao cho ra hỏi và đáp sao cho ra đáp
thực sự là một vấn đề mang tính nghệ thuật.
Thao tác nghiệp vụ phỏng vấn báo chí bao gồm: lựa chọn đối tƣợng
phỏng vấn, lựa chọn phƣơng thức phỏng vấn, sử dụng câu hỏi và các thao

vào trình độ, nghề nghiệp, giới tính, sở thích, thói quen…thậm chí cả tâm
trạng của đối tƣợng mà phóng viên cần lựa chọn cách hỏi và cách đặt vấn đề
để phù hợp với mục đích nhằm thu đƣợc đầy đủ, chính xác và nhanh chóng

15
nhất thông tin. Vì vậy, việc tiếp cận đối tƣợng sẽ giúp ích cho công tác
phỏng vấn dễ dàng và đạt hiệu quả nhƣ mong muốn.
Điều quan trọng là phải tạo đƣợc mối quan hệ và sự cảm thông, sự
gần gũi, tin cậy giữa phóng viên và ngƣời đƣợc phỏng vấn. Phóng viên phải
tạo đƣợc cảm giác tự nhiên, thoải mái cho ngƣời trả lời phỏng vấn. Điều này
hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực của phóng viên.
1.1.3.3. Về câu hỏi phỏng vấn
Phỏng vấn là một nghiệp vụ chuyên môn báo chí có tính độc lập, mặc
dù không có nhà báo nào lại không thực hiện nghiệp vụ phỏng vấn. Tuy
nhiên, nhiều ngƣời nghĩ đơn giản rằng không có gì dễ cho bằng đặt một vài
câu hỏi với một ngƣời nào đó rồi ghi lại những câu trả lời. Thực ra công việc
này không kém phần phức tạp. Câu hỏi phỏng vấn phải thiết kế sao cho
đúng vấn đề, phải đúng mục đích đã đƣợc xác định, trực tiếp và ngắn gọn,
đơn giản và dễ hiểu, kích thích đƣợc ngƣời trả lời. Nếu làm đƣợc điều đó,
phóng viên không chỉ nhận đƣợc lời giải thích, câu trả lời mà còn cả quan
điểm của đối tƣợng đƣợc phỏng vấn.
Ngƣời phóng viên phải tạo cho đối tƣợng sự thoải mái, tự tin để cuộc nói
chuyện diễn ra một cách tự nhiên. Lựa chọn câu hỏi xã giao thích hợp, vào đề
là bƣớc chuẩn bị cần thiết giúp đối tƣợng dễ dàng bƣớc vào cuộc với sự thoải
mái, tự tin cao. Có khi phóng viên phải dùng một số câu hỏi không mấy liên
quan đến vấn đề muốn hỏi để khai thác thông tin cần thiết hơn và đạt đến độ
khách quan, trung thực hơn. Vì vậy, câu hỏi phỏng vấn phải luôn đạt độ linh
hoạt cao. Thực chất các câu hỏi đầu tiên này làm chức năng dẫn nhập cuộc
thoại. Nói theo ngôn ngữ học giao tiếp thì đó là chức năng tiếp xúc (contact).
Câu hỏi trong phỏng vấn đặt ra phải ở dạng câu hỏi chất vấn chứ

tự nhiên. Tuy nhiên, cũng không nên ngồi quá xa bởi điều này sẽ tạo ra bầu
không khí hơi căng thẳng hoặc nhạt nhẽo.Theo lý thuyết hội thoại, đó là
khoảng cách. Chính khoảng cách quy định hiệu lực của hành vi trao-đáp.

17
Khi tiến hành phỏng vấn, phong cách phóng viên phải chững chạc,
khéo léo và nhạy bén; tôn trọng thể diện của ngƣời đƣợc phỏng vấn, tránh
thái độ dạy đời, không bị tình cảm cá nhân chi phối.
1.1.4. Sự khác nhau của thể loại phỏng vấn trong các loại hình báo chí
Do đặc điểm của mỗi loại hình nên phỏng vấn trên báo in, phát thanh,
truyền hình cũng có những đặc trƣng riêng biệt. Mỗi loại hình có hình thức
diễn đạt, phƣơng thức làm việc khác nhau nhƣng mục đích chung đều nhằm
đáp ứng sự tìm hiểu của công chúng.
1.1.4.1. Phỏng vấn trên báo in
Đối với báo in, độc giả có thể xem đi xem lại nếu thấy cần thiết. Do
đó, các câu hỏi cũng nhƣ câu trả lời đều đƣợc biên tập kỹ lƣỡng trƣớc khi in
trên mặt báo. Tuy dành quyền chủ động trong biên tập nhƣng không nên tuỳ
tiện thêm thắt ý này, ý kia vào câu trả lời. Nếu bài phỏng vấn thuộc các lĩnh
vực quan trọng mà tuỳ tiện trong khâu biên tập thì nhà báo tự giết chết mình.
Trong những trƣờng hợp cần thiết thì chỉ nên “cắt” bớt đi nhƣng không nên
có “thêm” vào. Khi biên tập phải cố gắng đến mức tối đa để giữ đƣợc khẩu
khí của ngƣời trả lời. Phỏng vấn báo in phải ngắn gọn, không tạo cảm giác
nhàm chán cho ngƣời đọc khi gặp phải những câu hỏi, câu trả lời sáo rỗng,
khô khan, cứng nhắc. Phóng viên phải sắp xếp, đảo lộn trật tự câu hỏi để bài
logic hơn. Cái hay, hấp dẫn đƣợc chuyển lên đầu để đáp ứng nhu cầu và lôi
cuốn ngƣời đọc. Thông thƣờng những câu hỏi, câu trả lời phải ngắn gọn, súc
tích, tập trung đi thẳng vào vấn đề cần tìm hiểu.
Phỏng vấn trên báo in kích thích tính tò mò, suy nghĩ, tƣởng tƣợng
của độc giả. Bài phỏng vấn phải chú ý đến chân dung của ngƣời đƣợc
phỏng vấn, tránh trƣờng hợp ngƣời đƣợc phỏng vấn là một ngƣời ở độ tuổi

của nó về phép hùng biện, sắc thái ngữ điệu, cảm xúc (nhƣ trong lĩnh vực
phát thanh), mà còn cả điệu bộ, cử chỉ, cách ứng xử của những ngƣời đối
thoại, và nhiều khi còn gồm cả môi trƣờng chung quanh họ (trang trí nội thất

19
nơi diễn ra đối thoại, cảnh quan, những ngƣời chung quanh). Phỏng vấn
truyền hình thoả mãn đƣợc các tham tố một cuộc thoại nhƣ D. Hymes đề
xuất trong một từ tiếng Anh: Speaking. Ở đây: S là thoại trƣờng; p là vai
ngƣời tham gia; e là mục đích; a là hành vi ngôn từ; k là cách thức; i là
phƣơng tiện (kể cả ngôn ngữ); n là chuẩn mực; g là thể loại hoặc loại hình
giao tiếp (ở đây là thể loại phỏng vấn) [ Trích theo Hoàng Trọng Phiến, Tập
bài giảng Ngôn ngữ văn chương và báo chí, Hà Nội, 2008]
Theo tác giả Trần Bảo Khánh, phỏng vấn truyền hình có 2 tầng thông
tin: [25,128]
Tầng thông tin thứ nhất: bao gồm lời nói của phỏng vấn (các câu hỏi)
và lời nói của ngƣời đƣợc phỏng vấn (các câu trả lời) thông qua đó, nắm
đƣợc nội dung sự kiện. Những thông tin về sự kiện trong cuộc phỏng vấn
chủ yếu là thông tin qua lời nói. Tuy nhiên trong truyền hình, còn có tầng
thông tin thứ hai.
Tầng thông tin thứ hai: đây là tầng thông tin chỉ có đƣợc trong phỏng
vấn truyền hình. Thông qua phỏng vấn truyền hình không chỉ bao gồm sự
kiện, nội dung mà còn cả bối cảnh, thái độ biểu cảm, động tác đều đƣợc thể
hiện một cách đầy đủ, trọn vẹn hơn. Tiến trình của cuộc phỏng vấn truyền
hình chân thật, không bị cắt xén, sự sai lệch về thông tin giữa ngƣời phỏng
vấn đƣợc giảm ở mức tối thiểu. Dĩ nhiên là trong truyền hình, montage (dịch
ra tiếng Việt có nghĩa là: sự lắp ghép; ở truyền hình “montage” có nghĩa là
kỹ thuật dựng hình) có thể làm cuộc phỏng vấn có khác đi, nhƣng nếu lạm
dụng thì ngƣời xem dễ nhận ra sự cắt xén, xuyên tạc.
2. Phỏng vấn truyền hình có độ dồn nén cao về không gian, thời gian
Phỏng vấn truyền hình là một cuộc nói chuyện có sự gò bó về không


21
Trong ba loại hình trên, truyền hình có ƣu thế nổi trội hơn vì có hình
ảnh sống động minh họa đi kèm theo lời, tạo cảm giác thật trực tiếp, lôi
cuốn ngƣời xem. Tuy nhiên, phát thanh lại thông dụng hơn truyền hình ở
miền núi, các vùng sâu, vùng xa. Phƣơng tiện chuẩn bị cho phỏng vấn trên
phát thanh lại đơn giản hơn, ít tốn kém hơn. Báo in trong quá trình cạnh
tranh cũng chẳng thua kém phát thanh và truyền hình. Báo in có ƣu thế riêng
của mình: thông dụng và tính chất định kỳ của nó. Ngƣời đọc có thể tìm
thấy dễ dàng nội dung thông tin mà mình cần tìm hiểu trên mặt báo. Đặc
biệt, báo in với lối hành văn sẽ kích thích trí tò mò, tƣởng tƣợng của công
chúng. Nếu cần thiết, báo in vẫn có thể chi tiết, tỉ mỉ về một vấn đề đƣợc
quan tâm bằng những câu, từ ngữ đầy đủ ý nghĩa.
1.2. GIAO TIẾP HỘI THOẠI TRÊN TRUYỀN HÌNH
Các nhà dụng học ngôn ngữ đã quan niệm hai hình thức giao tiếp cơ
bản, đó là đơn thoại và hội thoại (tƣơng tác). Giao tiếp trên truyền hình cũng
đƣợc diễn ra dƣới hai hình thức nhƣ vậy.
Đơn thoại là hình thức giao tiếp lời nói của ngƣời nói hƣớng đến
chính họ mà không quan tâm đến phản ứng hồi đáp của ngƣời nghe.
Ở truyền hình, đơn thoại là sản phẩm ngôn từ của một cá nhân trong
hoàn cảnh giao tiếp chỉ có anh ta là ngƣời nói. Ngoài ra ở truyền hình còn có
hình thức giao tiếp hội thoại -là một chuỗi những hồi đáp với tƣ cách là
những phản ứng qua lại giữa (ít nhất) hai cá thể nào đó.
Trong luận văn này, chúng tôi không khảo sát hình thức giao tiếp đơn
thoại mà chỉ khảo sát hình thức giao tiếp đối thoại hay còn gọi là song thoại.
Dụng học ngôn ngữ khi đề cập đến lý thuyết giao tiếp hội thoại có bàn
về: vận động hội thoại, cấu trúc hội thoại, phƣơng châm, chiến lƣợc hội
thoại, nguyên tắc cộng tác hội thoại, các yếu tố kèm lời và phi lời… Tiếp thu
cách tiếp cận lý thuyết hội thoại, luận văn vận dụng để tìm hiểu giao tiếp hội
thoại trên truyền hình, cụ thể là các cuộc phỏng vấn ở dạng đối thoại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status