ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ HƯƠNG LÝ LUẬN BÁO CHÍ
QUA MỘT SỐ TẠP CHÍ LÝ LUẬN VÀ NGHỀ NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH BÁO CHÍ
HÀ NỘI – 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
NLB : Người làm báo
NB : Nghề báo
LLCT&TT : Lý luận chính trị & Truyền thông 1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
1. Tính thời sự và lý do chọn đề tài
3
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
5
3. Giả thuyết nghiên cứu
6
4. Mục đích, nhiệm vụ đề ra
6
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
7
6. Phương pháp nghiên cứu
8
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
8
38
2.2.2. Các vấn đề Chức năng báo chí, công chúng báo chí, cơ chế và đối
44
2
tượng tác động của báo chí, hiệu lực và hiệu quả báo chí
2.2.3. Các vấn đề về chủ thể hoạt động báo chí
50
2.2.4. Các tạp chí lý luận nghề nghiệp báo chí – diễn đàn trao đổi, chia sẻ
kinh nghiệm, kỹ năng trong lao động sáng tạo sản phẩm báo chí
60
2.2.5. Các vấn đề về công nghệ và kỹ thuật truyền thông
70
2.2.6. Một số số liệu thống kê trên 4 tạp chí khảo sát
76
2.3. Lý luận báo chí nhìn từ đối tượng tiếp nhận
81
Tiểu kết chương 2
88
Chương 3:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ
90
3.1. Những thành tựu, kinh nghiệm
90
3.1.1. Thành tựu lý luận báo chí
93
3.1.2. Một vài kinh nghiệm
3.2. Một số tồn tại và vấn đề đặt ra cho việc phát triển lý luận báo chí ở
Việt Nam hiện nay
những năm qua, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự mở cửa
hội nhập ngày càng sâu, rộng của đất nước với thế giới, lĩnh vực báo chí
truyền thông luôn đi trước một bước và không ngừng đổi mới để hoàn thành
chức năng, nhiệm vụ và bổn phận của mình, góp phần không nhỏ vào những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới, vào sự phát
triển bền vững của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Hoạt động báo chí bao gồm nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, trong đó, lý luận
báo chí là một lĩnh vực đóng vai trò ngày càng quan trọng. Lý luận báo chí
làm nhiệm vụ tổng kết thực tiễn, chỉ đạo, định hướng, làm cơ sở cho hoạt
động thực tiễn báo chí về mọi phương diện. Quan trọng hơn, một nền lý luận
phát triển phù hợp, đúng hướng sẽ là cơ sở nâng cao tính chuyên nghiệp của
hoạt động báo chí – hướng phát triển về chất của báo chí nước ta đang được
chú trọng.
Những năm qua, hoạt động nghiên cứu lý luận báo chí nước ta có sự
phát triển vượt trội, gắn bó mật thiết với thực tiễn báo chí thay đổi nhanh
chóng từng ngày. Có được thành tựu trên chính nhờ vào sự cộng hưởng của
sức mạnh nội tại của tập thể những người quản lý, những người nghiên cứu,
hoạt động trong lĩnh vực báo chí Việt Nam và quá trình giao lưu, hội nhập và
học hỏi từ các nền báo chí tiến bộ trong khu vực và trên thế giới.
Kết quả nghiên cứu lý luận báo chí thể hiện bằng nhiều con đường khác
nhau. Chúng ta có thể kể đến các bộ giáo trình và rất nhiều cuốn sách tham
4
khảo về chuyên ngành báo chí - truyền thông ngày càng xuất hiện trong sự đa
dạng, phong phú do các giảng viên của các cơ sở đạo tạo báo chí chính của cả
nước là Học viện Báo chí và Tuyên truyền và Khoa Báo chí của Trường đại
học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội biên soạn. Chúng ta cũng không thể
không kể đến các bộ giáo trình, cẩm nang nghề báo được dịch từ tài liệu nước
ngoài thời gian qua liên tục được xuất bản; những tài liệu của Hội Nhà báo
Việt Nam, Hội nhà báo các tỉnh.
Người làm báo, Nghề báo, Lý luận chính trị và Truyền thông, Tuyên giáo từ
năm 2005 đến năm 2008).
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cho đến nay, đã có khá nhiều khoá luận tốt nghiệp đại học của sinh
viên báo chí, luận văn thạc sĩ báo chí (Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại
học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh) tiếp cận, khai thác
các mảng khác nhau của lý luận báo chí như: loại hình, thể loại, tác phẩm,
lịch sử báo chí, ngôn ngữ báo chí, công chúng báo chí, quản lý báo chí Bên
cạnh đó, nhiều công trình, bài viết dù mang tính chuyên biệt cũng đã được
công bố khá liên tục trên các tờ báo, tạp chí chuyên ngành báo chí - truyền
thông những năm trở lại đây.
Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách tổng quan về lý luận báo chí trên tất cả các bình diện của vấn đề, để
có thể phác thảo bức tranh tổng quát về lý luận báo chí nước ta trên một số tạp
chí lý luận, nghề nghiệp. Vì lẽ đó, một công trình nghiên cứu, khảo sát tổng
quan về lý luận báo chí rất cần thiết và hữu ích trong giai đoạn hiện nay. Bởi
nó có thể cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về những vấn đề lý luận báo chí
được công bố trên các tạp chí chuyên ngành tiêu biểu ở nước ta trong những
năm gần đây. Tuy vậy, trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ báo chí, chúng
6
tôi chỉ có thể có đủ thời gian và điều kiện để khảo sát, hệ thống các bài nghiên
cứu, bài viết về lý luận báo chí trên một số tạp chí lý luận, nghề nghiệp nhằm
góp một góc nhìn về lý luận báo chí Việt Nam. Đây là một đề tài mới, hy
vọng cũng có thể góp một góc tiếp cận có ích của người nghiên cứu đối với
hoạt động báo chí hiện nay.
3. Giả thuyết nghiên cứu.
Giả thuyết thứ nhất, có những nhận thức chưa thống nhất, chưa đầy đủ
về các lĩnh vực thuộc lý luận báo chí giữa các nhà báo, thậm chí giữa các nhà
nghiên cứu lý luận báo chí nước ta; do đó cần có sự chia sẻ về bức tranh tổng
- Nêu ra những vấn đề và đề xuất một số khuyến nghị khoa học cụ thể
với mong muốn hoạt động nghiên cứu lý luận báo chí ở Việt Nam được phát
triển hài hòa, cân đối hơn, phù hợp với sự phát triển chung của báo chí hiện
đại.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận báo chí. Đối tượng khảo
sát là các bài báo khoa học; các bài viết có tính chất tổng kết kinh nghiệm
hoạt động báo chí trên các tạp chí lý luận và nghề nghiệp: Lý luận chính trị
và truyền thông (tên cũ là Báo chí & tuyên truyền), Người làm báo, Nghề báo,
Tuyên giáo (Trước đây là tạp chí Tư tưởng và Khoa giáo) và một số ấn phẩm
có liên quan.
Phạm vi khảo sát:
Lý luận báo chí bao gồm nhiều vấn đề, nhiều mảng khác nhau. Trong
khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi tiến hành phân nhóm và tập trung khảo
sát trên các tạp chí Người làm báo, Nghề báo, Lý luận chính trị và Truyền
thông, Tuyên giáo.
8
Thời gian khảo sát giới hạn từ tháng 01 năm 2005 đến tháng 12 năm
2008. Tất nhiên, khoảng thời gian trước giai đoạn này cũng được xem xét với
mục đích so sánh đối chiếu để thấy rõ hướng phát triển liên tục của vấn đề
nghiên cứu.
6. Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận của luận văn lấy lý luận Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng và dựa vào quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về
hoạt động báo chí, về vị trí, vai trò của báo chí đối với sự nghiệp cách mạng
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Dựa vào hệ thống lý luận báo chí nước ta hiện nay, đặc biệt là những
thành tựu lý luận được tiếp thu trong quá trình đào tạo, về các nguyên tắc,
lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận báo chí và vai trò của nó đối với hoạt động thực
tiễn báo chí. Chương này chủ yếu hệ thống hóa các khái niệm liên quan vấn
đề nghiên cứu, cố gắng làm rõ nội hàm khái niệm công cụ như lý luận và lý
luận báo chí. Trên cơ sở ấy, nói đến vai trò của lý luận, chia sẻ quan niệm và
làm tiền đề cho việc khảo sát ở chương 2.
Chương 2: Những vấn đề lý luận báo chí Việt Nam được công bố trên
các tạp chí lý luận và nghề nghiệp. Như tên gọi của nó, chương này cố gắng
khảo sát những vấn đề lý luận báo chí được đăng tải trên một số tạp chí lý
luận và nghề nghiệp; từ đó góp phần phác thảo bức tranh sống động của lý
luận báo chí nước ta, mức độ của tính mới mẻ, cập nhật của nó.
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và những khuyến nghị. Chương này
chủ yếu đưa ra một số nhận xét bước đầu, phát hiện những vấn đề qua khảo
sát; trên cơ sở đó, đề xuất một số khuyến nghị cho việc tiếp tục phát triển lý
10
luận báo chí nước ta, góp phần thúc đấy hoạt động báo chí phát triển trong
quá trình nâng cao tính chuyên nghiệp của báo chí.
Trong ngôn ngữ đời sống hàng ngày, lý thuyết và lý luận vẫn thường
được dùng với ý đối lập với thực tiễn. Ví dụ cho rằng, “ông ấy là người rất lý
thuyết”, tức nói về một con người luôn coi trọng lý thuyết, sách vở nhưng lại
xem nhẹ (hoặc thiếu) các kinh nghiệm, kiến thức rút ra từ thực tiễn. Tức là
không (hoặc thiếu) thực tiễn, thực tế.
Từ đó, trong lĩnh vực hoạt động báo chí, nói đến lý thuyết báo chí hay
lý luận báo chí chính là nói đến hệ thống kiến thức chuyên ngành báo chí
được tổng kết và đúc rút từ kinh nghiệm thực tiễn hoạt động báo chí.
Anghen từng khẳng định trong “Phép biện chứng tự nhiên”: “Một dân
tộc muốn đứng trên đỉnh cao của khoa học, thì không thể phút giây nào vắng
tư duy lý thuyết”. Tất nhiên, sẽ rất khôi hài nếu ta quá đề cao vai vai trò của
lý thuyết, lý luận đối với một quá trình sáng tạo cụ thể như trong lĩnh vực báo
12
chí. Nhưng một thực tế không thể phủ nhận rằng: hầu như các nền báo chí lớn
trên thế giới đều tương ứng với di sản lý luận phong phú và sâu sắc. Còn ở
Việt Nam, lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực hoạt động báo chí còn tồn tại
khoảng cách khá xa, bởi vậy lâu nay chúng ta vẫn thường nghe nhắc đến
những câu, những nhận định đại loại như: “coi trọng lý thuyết hơn thực
hành”, hay ngược lại, “chỉ dựa vào kinh nghiệm mà bỏ rơi nền tảng lý luận”,
hoặc đặt dấu hỏi “chọn kiến thức chuyên ngành hay năng khiếu bẩm sinh?”
Báo chí và lý luận báo chí
Báo chí
Khái niệm báo chí ban đầu được dùng để gọi tên báo và tạp chí của loại
hình Báo in. Theo đó, báo chí được hiểu là những ấn phẩm xuất bản định kỳ,
được in ấn với khối lượng lớn, phát hành rộng rãi đến đông đảo công chúng
trong toàn xã hội. Sau hơn ba trăm năm chỉ có loại hình Báo in thống trị, lịch
sử báo chí thế giới lần lượt đón nhận sự ra đời của các loại hình báo chí mới
trong thế kỷ XX: đầu thế kỷ với loại hình Phát thanh, Truyền hình xuất hiện
vào đầu và giữa thế kỷ; cuối thế kỷ là sự ra đời của loại hình Báo điện tử đăng
bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên
mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt
Nam, tiếng nước ngoài.
Tóm lại, báo chí là một trong những hiện tượng phức tạp, tuỳ theo góc
độ tiếp cận khác nhau sẽ có những định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, hiểu báo
chí một cách trực diện nhất, như đã phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng: Theo
nghĩa hẹp, báo chí là những ấn phẩm được xuất bản định kỳ (bao gồm nhật
báo, báo thưa kỳ, bản tin thời sự, bản tin thông tấn) với số lượng lớn nhằm
phục vụ đông đảo các tầng lớp công chúng. Theo nghĩa rộng, thuật ngữ báo
chí được dùng để chỉ chung các loại hình truyền thông đại chúng hiện đại bao
14
gồm báo in, báo phát thanh (báo nói), báo truyền hình (báo hình) và báo mạng
điện tử. Có một số ý kiến gọi báo mạng điện tử là báo điện tử, theo chúng tôi
là không chính xác. Bởi thuật ngữ báo điện tử bao gồm cả báo phát thanh và
báo truyền hình.
Về khái niệm báo chí và khái niệm truyền thông đại chúng, trên thực tế
những năm gần đây, nhiều người vẫn dùng lẫn lộn hai khái niệm này. Có một
số văn bản còn viết: truyền thông đại chúng (gọi tắt là báo chí). Cách nói này
không thật chính xác bởi lẽ, khái niệm truyền thông đại chúng có nghĩa rộng
hơn khái niệm báo chí rất nhiều. Truyền thông đại chúng bao gồm báo chí và
các kênh truyền thông khác, như sách, điện ảnh, các dịch vụ tin tức, internet,
trạm thu phát sóng vệ tinh, các phương tiện nghe - nhìn, panô-áp phích, tờ
rơi Trong các kênh của truyền thông đại chúng, “do tính chất và đặc trung
vốn có của mình, báo chí chiếm vị trí trung tâm, nền tảng và có vai trò chi
phối, quyết định khuynh hướng, sức mạnh của truyền thông đại chúng nói
chung. Do đó, trong nhiều trường hợp, người ta dùng khái niệm báo chí để chỉ
các phương tiện truyền thông đại chúng; và ngược lại, khi nói truyền thông
đại chúng thì trước hết và chủ yếu cũng nói đến báo chí” [57, tr.41].
Lý luận báo chí
Chúng ta có lý luận báo chí của Liên Xô, của Anh, của Mỹ, của Trung Quốc
Mỗi nhà nước, mỗi chế độ chính trị và văn hóa khác nhau sẽ có những nền lý
luận báo chí mang đậm dấu ấn của mình trên cơ sở những điểm chung của
khoa học lý luận báo chí. Như vậy, khi nói đến Lý luận báo chí Mỹ hay Lý
luận báo chí Việt Nam, chúng ta hiểu rằng, đó là tình hình lý luận báo chí hay
là kết quả tổng kết, đúc rút kinh nghiệm và sự giao lưu chia sẻ, những khuynh
hướng nghiên cứu báo chí ở Mỹ hay ở Việt Nam trong giai đoạn cụ thể, chứ
16
không phải hiểu đó là một ngành khoa học hay một bộ môn khoa học riêng
của Mỹ, kiểu Mỹ hay riêng của Việt Nam, kiểu Việt Nam. Ví dụ ở nước ta
thời bao cấp, báo chí được quan niệm đơn thuần là công cụ tuyên truyền, do
đó, lý luận báo chí của ta tuyệt đối hoá chức năng tuyên truyền của báo chí.
Bước sang thời kinh tế thị trường, chức năng thông tin được nhìn nhận, được
tổng kết
Trên đây là bức tranh tổng quan về những vấn đề của Lý luận báo chí
cho đến ngày nay. Thực tiễn đời sống báo chí vô cùng sôi động và đang thay
đổi từng ngày, “bức tranh” lý luận báo chí vì thế sẽ tiếp tục được thay đổi, bổ
sung và hoàn thiện. Việc thống kê những vấn đề lý luận báo chí như trên giúp
chúng ta có thể hình dung bước đầu về hình hài của lĩnh vực lý luận báo chí;
đồng thời, làm cơ sở cho việc phân chia thành các nhóm vấn đề lý luận báo
chí được trình bày ở phần sau.
1.2. Vai trò của lý luận báo chí đối với hoạt động thực tiễn báo chí
1.2.1. Vai trò lý luận đối với hoạt động thực tiễn nói chung
Theo triết học Duy vật biện chứng, lý luận khoa học là hệ thống những
tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn và cả những mối liên
hệ bản chất mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách
quan và được biểu đạt bằng hệ thống các nguyên lý, phạm trù, khái niệm có
tính quy luật.
Trong mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, thực tiễn đóng vai trò
3
. Làm mò mẫm
chính là biểu hiện của bệnh kinh nghiệm. Kém lý luận, coi khinh lý luận
không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa mà còn dẫn tới bệnh giáo điều.
Đó là việc không vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực
tiễn mới nảy sinh, hoặc do không hiểu nên dù có vận dụng cũng không sát
thực tế, không phù hợp với thực tiễn.
Tất nhiên, lý luận phải bắt nguồn từ thực tiễn, được kiểm nghiệm trong
thực tiễn, phục vụ thực tiễn. Lý luận nảy sinh trên nền tảng thực tiễn, là kết 1
Các Mác và P.Ăngghen, Tuyển tập, t1, NXB Sự thật, H, 1980, tr.25
2
Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG 1995, tập 5, tr. 234 – 235
3
Hồ Chí Minh, toàn tập, NXB CTQG 1995, tập 6, tr. 47
18
quả của sự đúc rút, khái quát thực tiễn. Chính vì thế, việc nghiên cứu và tổng
kết thực tiễn là một yêu cầu không thể thiếu của công tác lý luận. “Lý luận cốt
để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công việc
thực tế là lý luận suông”. Khi vận dụng lý luận vào thực tiễn phải xuất phát từ
thực tiễn, nếu không, cũng mắc bệnh giáo điều. Như vậy, lý luận chỉ có ý
nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn, phục vụ thực tiễn, đóng vai
trò soi đường, dẫn dắt chỉ đạo thực tiễn.
Thực tiễn thay đổi thì lý luận cũng phải được điều chỉnh, đổi mới. Thực
tiễn đời sống xã hội thay đổi không ngừng, vì vậy, các nguyên lý lý luận có
thể đúng ở một thời điểm nhất định nhưng ở những thời điểm khác lại không
phù hợp. Cho nên không thể coi mọi nguyên lý lý luận đều có thể vận dụng
được thể hiện và phát huy ở những thời điểm khó khăn của thực tiễn. Ví dụ
khi xã hội bước vào một giai đoạn mới, tiếp nhận những giá trị mới trong khi
thực tiễn sáng tạo báo chí giẫm chân tại chỗ, chưa đáp ứng được những đòi
hỏi của thời đại, của xã hội Ở các nước phát triển trên thế giới, những vấn
đề lý luận báo chí cũng như kinh nghiệm, phương pháp hoạt động của các
phương tiện truyền thông đại chúng được quan tâm nghiên cứu một cách
thường xuyên. Bởi rằng không riêng gì lĩnh vực báo chí, bất cứ hoạt động có
mục đích nào của con người nếu không dựa trên một phương pháp luận sáng
rõ và một nền lý luận khoa học thì khó lòng đạt được hiệu quả cao.
Lý luận báo chí góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động
báo chí, trước hết là đối với hoạt động của nhà báo. Đối với những người trực
tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo tác phẩm báo chí, hơn ai hết, phần đông
trong số họ ý thức được tầm quan trọng của kiến thức lý luận nền tảng chi
phối trong suốt quá trình làm nghề. Không riêng lĩnh vực hoạt động báo chí,
lý luận cần thiết cho mọi hoạt động của con người. Con người khác với các
20
sinh vật khác, trước khi làm một việc gì đều hình dung trong óc công việc sắp
làm, nghĩa là có ý niệm, có lý tưởng, có lý luận về nó. Đặc trưng này còn thể
hiện rõ hơn trong những hoạt động đòi hỏi cao về năng lực tư duy, về sự sáng
tạo mà hoạt động báo chí là một điển hình.
Lâu nay, ở nước ta, tồn tại nhiều ý kiến tranh luận xung quanh việc
làm báo chọn kiến thức chuyên ngành hay năng khiếu bẩm sinh. Và trên thực
tế ở nước ta, người làm báo vẫn thường chỉ dựa vào một thứ năng lực đó là
khả năng viết lách tốt, cử nhân văn khoa đôi khi được đánh giá cao trong lĩnh
vực truyền thông hơn là cử nhân báo chí. Dẫu rằng báo chí là một nghề
nghiệp đặc thù quy tụ lao động từ rất nhiều ngành nghề khác nhau (văn học,
sử học, ngôn ngữ học, triết học, xã hội học, kinh tế, luật ), nhưng rõ ràng,
mỗi nghề nghiệp đều cần phải dựa trên một hệ thống kiến thức chuyên biệt
mà ai muốn vào nghề phải nắm vững qua quy trình giáo dục bài bản. “Nếu
nghiệp) nhất định là một nền báo chí phát triển. Từ đó có thể khẳng định, lý
luận báo chí có vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính chuyên nghiệp của
hoạt động báo chí.
Vai trò quan trọng của lý luận báo chí đối với thực tiễn báo chí chỉ
được thực hiện khi lý luận ấy xuất phát từ thực tiễn báo chí sôi động mỗi
ngày, được kiểm nghiệm trong thực tiễn và áp dụng giải quyết những vấn đề
do thực tiễn báo chí đặt ra. Trong điều kiện thực tiễn báo chí phát triển quá
nhanh chóng hiện nay, lý luận báo chí phải liên tục được nhìn nhận, bổ sung,
tổng kết kịp thời, thậm chí lý luận phải đi trước chứ không phải chạy theo
thực tiễn. Lý luận ngày hôm qua dù đúng đắn, cao xa đến mấy cũng lạc hậu
với hôm nay, nhất là trong thời đại mới. Sự lạc hậu trong lý luận là nguyên
nhân dẫn đến thất bại trong thực tiễn.
Ở Việt Nam, nghiên cứu lý luận báo chí là một lĩnh vực còn khá mới
mẻ và muộn màng. Nhìn chung là lý luận báo chí của ta chưa theo kịp với
thực tiễn, do đó, vai trò dẫn đường đối với thực tiễn báo chí chưa được ghi
nhận đúng mức. Dù vậy, lý luận báo chí của ta bước đầu đã tạo dựng được
diện mạo của mình dù rất khiêm tốn trong dòng chảy lịch sử báo chí nước
nhà. Khoảng chục năm trở lại đây, các kết quả nghiên cứu lý luận báo chí trên
22
các khía cạnh, bình diện liên tục được công bố là một cố gắng đáng ghi nhận.
Hoạt động của những người nghiên cứu lý luận báo chí không chỉ có vai trò to
lớn đối với thực tiễn nghề nghiệp mà còn dần khẳng định được vị trí của một
lĩnh vực khoa học trong đời sống xã hội Việt Nam.
1.3. Bước đầu tìm hiểu lĩnh vực “lý luận báo chí”
So với báo chí thế giới thì báo chí Việt Nam xuất hiện muộn. Và càng
muộn hơn nữa là sự hình thành và phát triển khoa học lý luận báo chí. Kể từ
khi tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên - tờ Gia Định báo ra đời năm 1865 –
cho đến khi đất nước hoàn toàn thống nhất năm 1975, báo chí đã trở thành
một hoạt động tinh thần đóng vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội. Nhưng