Tính phản biện xã hội của tác phẩm báo chí Việt Nam (Khảo sát qua hai báo Tuổi trẻ TP.HCM và Thanh niên các năm 2006-2008 - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG THỦY CHUNG
TÍNH PHẢN BIỆN XÃ HỘI
CỦA TÁC PHẨM BÁO CHÍ VIỆT NAM
(Khảo sát qua hai báo Tuổi trẻ TP.HCM và Thanh niên các năm 2006-2008)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Minh Thái
Hà Nội, 2010

MỤC LỤC Trang

Chương 1: TÍNH PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRONG BÁO CHÍ
VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI


10
1.1 Bối cảnh hội nhập văn hóa thông tin đầu thế kỷ XXI

10
1.2 Bước đầu tìm hiểu về tính phản biện xã hội của báo chí

13
1.3 Tính phản biện xã hội ở các loại hình báo chí, đặc biệt ở
báo in

20
1.4 Báo Tuổi trẻ và báo Thanh niên là hai ví dụ tiêu biểu về
tính phản biện xã hội

23
1.5 Yêu cầu nội tại của từng tờ báo đối với tính phản biện xã
hội

24
Tiểu kết chương

27
Chương 2: TÍNH PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRONG CUỘC


Chương 3: NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC TÁC PHẨM MANG
TÍNH PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA BÁO IN VIỆT NAM QUA
HAI TRƯỜNG HỢP BÁO TUỔI TRẺ VÀ THANH NIÊN


84
3.1 Cách triển khai tác phẩm mang tính phản biện xã hội ở
hai tờ báo

84
3.2 Nghệ thuật trình bày tác phẩm mang tính phản biện xã
hội ở hai tờ báo

92
Tiểu kết chương

95
KẾT LUẬN

97
TÀI LIỆU THAM KHẢO

99
PHỤ LỤC

104

2

đủ niềm tự hào kiêu hãnh và ý thức trách nhiệm nghiêm túc. Đây vừa là sự thúc đẩy
khách quan của thời đại và xã hội, vừa là sự thúc đẩy nội tại của một nền báo chí
đang vận động để tìm ra hướng đi bền vững cho chính mình.
Những thông tin mà báo chí đem lại từ lâu đã là một món ăn tinh thần không thể
thiếu đối với phần lớn công chúng. Truyền hình phủ sóng hầu hết các địa phương,
phát thanh giúp đem thông tin đến cả những vùng sâu vùng xa nhất, báo in tăng
đáng kể về số đầu báo và lượng phát hành, báo trực tuyến có những bước phát triển
mới lạ chưa từng thấy. Diện mạo báo chí Việt Nam hiện nay có thể nói không thua
kém bất cứ nền báo chí nào trên thế giới xét về loại hình và số lượng.
Dù chưa thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu thông tin của tất cả dân số, báo chí Việt Nam
cũng đã thành công bước đầu trong việc tạo ra thói quen đọc báo, xem đài để tiếp
nhận thông tin và cập nhật tri thức cho công chúng. Không những thế, báo chí Việt
Nam còn đang tích cực thực hiện nhiệm vụ quan trọng là hình thành một phương
pháp tư duy khoa học cho công chúng.
Công chúng hiện đại không thể chỉ đọc báo, xem đài và tiếp nhận thông tin một
cách thụ động và đơn chiều, họ cần phải đọc báo, xem đài với một tinh thần chọn
lọc và tiếp nhận thông tin với một tư duy phản biện xã hội. Đó là khi công chúng có
thể phân tích và đánh giá thông tin mà mình tiếp nhận theo nhiều cách, nhiều mặt và
nhiều khía cạnh, cũng như đưa ra nhận định của riêng mình một cách chắc chắn và
khoa học sau khi đã lật đi lật lại vấn đề một cách nghiêm túc và chủ động. Đó là khi
công chúng mỗi khi đứng trước một thông tin hay tri thức mới, không thể không đặt
ra những câu hỏi, không thể dễ dàng chấp nhận mức độ sẵn có mà không muốn đào
sâu tìm hiểu tận ngọn ngành vấn đề. Đó là khi công chúng sẵn sàng đảm nhiệm
không chỉ vai trò hưởng thụ thông tin, tri thức mà còn cả vai trò sản xuất và phổ
biến thông tin, tri thức. Đó là khi với những thông tin, tri thức do báo chí trang bị,
công chúng có thể tự tin phát biểu quan điểm của mình và tranh luận một cách khoa
học những vấn đề còn tồn tại nhiều ý kiến trái chiều trong cuộc sống. Đó là khi các
quyết sách có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội là kết quả của sự đồng thuận

4

tranh này diễn ra hàng ngày, trong từng số báo và trong từng sự kiện, vấn đề được
đưa lên mặt báo. Khoảng thời gian khảo sát của luận văn, ba năm 2006 - 2008, cũng
là khoảng thời gian cuộc cạnh tranh này diễn ra sôi nổi và quyết liệt nhất.
Chính cuộc cạnh tranh này đã tạo nên một diện mạo báo chí Việt Nam giai đoạn
2006-2008 khá rực rỡ và sống động, phản ánh tương đối toàn diện bức tranh xã hội
với nhiều biến chuyển và thay đổi, bằng chứng cho thấy đất nước cũng đang tiến
bước đi lên với những bước đi mạnh mẽ.
Cuộc cạnh tranh thông tin phản biện xã hội trên mặt giữa hai tờ báo phần nào phản
ánh sự nóng bỏng và bức thiết của các vấn đề tương ứng trong xã hội, nói một cách
hình tượng là “sức nóng của các vấn đề xã hội đã được thổi thành lửa trên mặt báo”.
Cuộc cạnh tranh này không những “giữ nhiệt” cho những vấn đề sôi sục cần được
giải quyết rốt ráo, mà còn lôi kéo các tờ báo khác và cả công chúng vào những cuộc
tranh luận nhằm tìm ra câu trả lời tối ưu cho những câu hỏi không thể chờ đợi của
cuộc sống.
Với mỗi trang báo tương ứng của hai tờ báo, công chúng quan sát thấy những vấn
đề mà họ quan tâm được mổ xẻ, lật đi lật lại, thậm chí “nội soi” để tìm ra bản chất
vấn đề và quan trọng hơn là tìm ra giải pháp thay đổi hiện trạng. Cuộc cạnh tranh là
cuộc đua ngầm giữa hai tờ báo, nhưng là một lợi ích rõ ràng cho công chúng khi họ
nhận được những thông tin không hời hợt và những tri thức không chung chung.
Vì vậy, nếu để có một phác thảo tương đối sát về tính phản biện xã hội được thể
hiện ra sao qua các tác phẩm báo chí Việt Nam, tác giả lựa chọn khảo sát và phân
tích một số tác phẩm tiêu biểu nổi bật của hai tờ báo Tuổi trẻ và Thanh niên trong
giai đoạn 2006 – 2008.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về phản biện xã hội và vai trò của phản biện xã hội đối với sự phát triển
của đất nước, Tiến sĩ Trần Đăng Tuấn đã có cuốn sách Phản biện xã hội xuất bản
năm 2007. 31 tác phẩm báo chí được tập hợp trong cuốn sách bám sát thực tiễn sinh
động nhưng không dừng ở việc bình luận sự kiện mà đã để lại ấn tượng mạnh mẽ

6

niên, Tuổi trẻ” của tác giả Hà Lệ Giang, hệ đào tạo liên thông (VL-VH) lại khảo sát
hai chuyện mục Chào buổi sáng của báo Thanh niên và Thời sự & Suy nghĩ của báo
Tuổi trẻ để phân tích tính phản biện xã hội của thể loại bài bình luận ngắn.
Bên cạnh đó có hai đề tài “Cuộc cạnh tranh về chất lượng thông tin giữa hai tờ báo
Thanh niên và Tuổi trẻ” của tác giả Nguyễn Thị Hải, K46HN và “So sánh phong
cách hai tờ báo in Thanh niên và Tuổi trẻ” của tác giả Phạm Thị Mai, K48.
Trong công trình của mình, tác giả Nguyễn Thị Hải tập trung phân tích tính cạnh
tranh của hai tờ báo kể trên thông qua khảo sát và phân tích trang nhất của hai tờ
báo, việc thu hút các cây bút có tiếng, những chuyên mục có cá tính, các đề tài lớn
và nghệ thuật làm makét của hai tờ báo.
Trong khi đó, tác giả Phạm Thị Mai so sánh phong cách của hai tờ báo nói trên
thông qua khảo sát và phân tích cách tiếp cận đề tài của hai tờ báo trên các lĩnh vực
chính như kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá và quốc tế, phong cách ngôn ngữ cũng
như hình thức trình bày của hai tờ báo.
Hai tác giả trên đã khảo sát và phân tích kỹ lưỡng các yếu tố tạo nên sức hấp dẫn
của hai tờ báo, cũng là cơ sở để xác định tính cạnh tranh giữa hai tờ báo. Tuy nhiên,
tính phản biện xã hội - đặc trưng ngày càng nổi bật và ngày càng tạo nên cá tính của
hai tờ báo – mới chỉ được hai tác giả trên đề cập một cách hạn chế và chưa tiến
hành phân tích sâu sắc.
Cùng nghiên cứu về mối tương quan giữa báo Tuổi trẻ và báo Thanh niên còn có đề
tài “Khảo sát trang nhất hai tờ Thanh niên và Tuổi trẻ” của tác giả Nguyễn Hoàng,
K47 và đề tài “Tìm hiểu cách thức tổ chức thông tin trên báo Thanh niên và Tuổi
trẻ”của tác giả Phạm Thị Thu Hà, K47.
Nghiên cứu về tính phản biện xã hội, đã có các đề tài “Tính phản biện xã hội trong
chuyên mục “nóng” trên báo Lao động, Tuổi trẻ và Người Hà Nội” của tác giả
Phạm Bá Ngọc, K46HN và “Tham nhũng - vấn đề nóng trên báo Tuổi trẻ” của tác
giả Nguyễn Xuân Long, K45HN. Hai công trình trên đã phân tích tính phản biện xã
hội thể hiện trên một số tờ báo in, trong đó có báo Tuổi trẻ và đưa ra một số nhận

8

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các tác phẩm báo chí được chọn lọc trong số tất cả các tác
phẩm báo chí được đăng tải trên hai tờ báo Tuổi trẻ và Thanh niên trong ba năm
2006 – 2008. Đây là các tác phẩm báo chí theo đánh giá của tác giả là chứa đựng
thông điệp phản biện xã hội.
Phạm vi nghiên cứu: tập trung vào các số báo ra hàng ngày của hai tờ báo Tuổi trẻ
và Thanh niên trong ba năm 2006 – 2008.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận, luận văn mong muốn làm rõ vai trò của tính phản biện xã hội trên báo
chí đối với đời sống xã hội cũng như những nền tảng để báo chí Việt Nam phát huy
hiệu quả vai trò phản biện xã hội của mình.
Về thực tiễn, luận văn mong muốn chỉ ra tính tất yếu và sự cần thiết phải có tính
phản biện xã hội trong báo chí, và đặc biệt là có một cuộc cạnh tranh về tính phản
biện xã hội trong báo chí.
Luận văn còn có ý nghĩa đối với bản thân học viên, góp phần giúp tác giả tự nâng
cao trình độ và biết cách tổ chức một công trình khoa học.
6. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử để xây dựng phương pháp luận tư duy.
Luận văn sử dụng thao tác sưu tầm, thống kê, phân loại các tác phẩm báo chí (bài
viết là chủ yếu) theo sự kiện, vấn đề hoặc chuyên mục để phân tích.
Luận văn áp dụng phương pháp phân tích tác phẩm báo chí đối với mỗi tác phẩm
được lựa chọn phân tích để chỉ ra tính phản biện xã hội thể hiện trong tác phẩm,
trong mối liên hệ với các tác phẩm khác và dấu ấn của sự chỉ đạo của tòa soạn trong
mỗi tác phẩm và tập hợp các tác phẩm.
Luận văn còn sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh để làm rõ tính chất, đặc điểm
9


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) của Đảng đã khai mở công cuộc
đổi mới, đến nay đã hơn 20 năm. Trong quãng thời gian ấy, đất nước ta đã ra khỏi
khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những bước chuyển cơ bản và toàn diện.
Kinh tế tăng trưởng khá, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thu được những thắng lợi quan trọng. Đời
sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết
toàn dân tộc được củng cố, tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an
ninh được giữ vững. Thế và lực của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được
nâng cao. Công cuộc đổi mới của chúng ta thu được những thành tựu to lớn và có ý
nghĩa lịch sử.
Trong thành tích chung ấy, có phần đóng góp xứng đáng của đội ngũ báo chí. Với
khẩu hiệu "Đổi mới báo chí vì sự nghiệp đổi mới đất nước", báo chí nước ta những
năm vừa qua tiếp tục phát triển mạnh mẽ về số lượng, loại hình, ấn phẩm, công
nghệ, phạm vi tác động đến công chúng.
Với bốn loại hình báo chí (báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử), báo chí nước ta
đã trở thành hệ thống thông tin đa loại hình, đa phương tiện, làm tốt chức năng,
nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước đến với nhân dân, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đến với
Đảng, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hoặc xã hội - nghề
nghiệp.
Do những tác động qua lại với các yếu tố kinh tế, xã hội trong và ngoài nước, cũng
như những ảnh hưởng mạnh mẽ từ sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền
thông trong môi trường toàn cầu hóa mà báo chí Việt Nam hiện nay đã có những
biến đổi cả về lượng và chất.
11

Trước hết, chính sách đối ngoại cởi mở, hội nhập quốc tế theo phương châm "làm
bạn với tất cả" tạo ra các điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ, hợp tác
quốc tế của hệ thống báo chí. Mặt khác, công nghệ thông tin và mạng Internet đã
mang đến cho báo chí Việt Nam phương tiện tuyệt vời để mở ra các hình thức quan

thông qua.
Trong 10 năm qua, hệ thống cơ quan báo chí, đội ngũ phóng viên có sự phát triển
nhanh chóng về lượng và chất. Theo số liệu đến giữa tháng 12/2007) của Hội Nhà
báo Việt Nam, chỉ tính riêng số hội viên của Hội đã tới con số gần 16 nghìn. Theo
Cục Báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông), nếu như năm 1999 mới có khoảng
8000 phóng viên được cấp thẻ nhà báo thì năm nay, con số đã là 15000. Cả nước
hiện có 702 cơ quan báo chí, trong đó có 634 cơ quan báo in với 813 ấn phẩm. Hệ
thống phát thanh và truyền hình phát triển mạnh, chỉ tính riêng Đài Tiếng nói Việt
Nam đã có 6 hệ phát thanh, phủ sóng 97,5% lãnh thổ. Đài Truyền hình Việt Nam
phát chương trình trên 7 kênh, chưa kể số chương trình phát trên mạng truyền hình
cáp. Sự xuất hiện của VTC, sự phát triển của hệ thống phát thanh - truyền hình 63
tỉnh, thành phố, trong đó có những đài rất mạnh như Đài Truyền hình TP Hồ Chớ
Minh, Bình Dương, sự vươn lên nhanh chóng của báo điện tử đã tạo sự cạnh tranh
trong lĩnh vực thông tin bằng hình ảnh - âm thanh ở Việt Nam.
Tính đến tháng 12-2009, cả nước có: 706 cơ quan báo in (178 báo in và 528 tạp
chí); 1 hãng thông tấn quốc gia; 2 đài phát thanh, truyền hình quốc gia, 1 đài truyền
hình ngành, 64 đài truyền hình, phát thanh tỉnh thành,trên 600 đài cấp huyện; 37
báo điện tử, 160 trang điện tử của các cơ quan báo chí và hàng ngàn trang thông tin
điện tử (Nguồn: báo cáo của ban chấp hành Hội Nhà báo VN ngày 12-8-2010)
Theo đánh giá chung, trong 8 năm qua, Luật Báo chí đã tạo thuận lợi cơ bản cho các
cơ quan báo chí và nhà báo hoạt động hiệu quả hơn, góp phần đắc lực vào sự nghiệp
đổi mới đất nước. Cũng nhờ có luật, nhờ công tác tuyên truyền về luật mà nhân dân
hiểu hơn về quyền được thông tin của mình, từ đó chủ động phát huy quyền và vai
trò của mình trong hệ thống truyền thông.
13

1.2 Bước đầu tìm hiểu về tính phản biện xã hội của báo chí
Sách Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X của Đảng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006, trang 182 và 183 giải
thích: Phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự

sự xung đột lợi ích khi tiến hành một hành động xã hội. Về bản chất chính trị, phản
biện là một quyền tự do được xây dựng trên cơ sở quyền tự do ngôn luận.
Ông cho rằng điều kiện thứ nhất cho phản biện xã hội là cần phải thực thi tự do
ngôn luận. Phản biện là biểu hiện chuyên nghiệp của việc người ta thực thi quyền tự
do ngôn luận nên phải khẳng định quyền tự do nói trước. Tự do ngôn luận là quyền
đầu ra của mọi ý kiến phản biện. Nếu không có tự do ngôn luận thì không có cách
gì để phản biện. Nếu hạn chế quyền tự do phổ biến các quan điểm thì có nghĩa là
dành toàn bộ các quyền tự do cho một loại quan điểm và nếu xã hội chỉ được hướng
dẫn bằng một loại quan điểm thì vô cùng nguy hiểm vì nó tất yếu sẽ dẫn đến sự đơn
điệu và lệch lạc của đời sống.
Cho nên, tự do ngôn luận chính là một trong những chìa khoá cực kỳ quan trọng để
làm cân bằng tất cả các khuynh hướng, để mỗi một điểm trong đời sống xã hội nhận
được nhiều thông tin khác nhau giúp cho các thành viên trong xã hội có năng lực
lựa chọn. Bản chất của tự do là quyền được lựa chọn và sự phong phú để lựa chọn.
Muốn có sự phong phú để lựa chọn thì con người phải có quyền phổ biến quan
điểm, tức là quyền tự do ngôn luận. Quyền tự do ngôn luận là tiền đề, là điều kiện
cơ bản để con người thực thi các quyền tự do lựa chọn.
Thứ hai, phản biện xã hội là trạng thái chuyên nghiệp của quá trình thảo luận cho
nên nó cần có sự tham gia của hai lực lượng, lực lượng thứ nhất là để nói một cách
chuyên nghiệp và lực lượng thứ hai là để nghĩ một cách chuyên nghiệp. Trước khi
nói phải nghĩ, nghĩ chuyên nghiệp là giới trí thức và nói chuyên nghiệp là giới báo
chí. Phản biện xã hội là sự tranh luận một cách chuyên nghiệp giữa các lực lượng xã
hội với nhau hoặc là với nhà cầm quyền để tạo sự chính xác chính trị của mỗi một
hành động có chất lượng chính sách hoặc định hướng, cho nên, nếu không có sự
15

tham gia của hai lực lượng này thì quá trình còn lại là quá trình phản ứng xã hội chứ
không phải là phản biện xã hội. Báo chí cần phải góp những tiếng nói có hệ thống
để xã hội thức tỉnh về câu chuyện tổ chức và rèn luyện nền dân chủ.
TS. Trần Đăng Tuấn trong cuốn sách Phản biện xã hội [41] thì định nghĩa phản

dung sau: Một là, chống tham nhũng, lãng phí; hai là giải quyết vấn đề đất đai và
xây dựng cơ bản; ba là, vấn đề quy hoạch và phát triển nông thôn; bốn là, vấn đề cải
cách hành chính; năm là, tính cạnh tranh của hàng hóa; sáu là, giá điện, nước, xăng
dầu; bảy là, cước phí lưu thông, bảo đảm dan toàn giao thông; tám là, thanh lọc các
định chế tài; chín là, vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc (với những định chế xã hội dân
sự trong một nhà nước pháp quyền xã hội dân sự và mở rộng giao lưu, hợp tác quốc
tế).
PGS Đào Công Tiến trong bài viết Vùng cấm của phản biện xã hội? [52] đăng trên
“Tuổi trẻ cuối tuần” cũng nhận định còn nhiều việc phải làm để đưa phản biện xã
hội vốn từ cuộc sống trở lại được với cuộc sống. Những việc phải làm là tiếp tục
loại bỏ độc thoại theo kiểu “độc quyền chân lý, áp đặt tư duy” của những giáo điều
đã bị chối bỏ trên thực tế cuộc sống, để tiếp tục gỡ bỏ những rào cản đối với sự
phản biện xã hội. Tư vấn và phản biện xã hội cần phải được nâng chất, nâng tính
thuyết phục hơn nữa bằng việc nâng cao sự hiểu biết, tính trung thực của phản biện.
Phản biện từ hiện thực xã hội cần có cách tiếp cận khoa học, cần có cách thu thập
thông tin tư liệu, phân tích, đánh giá và đề xuất hợp lý - tức là khoa học cũng phải
vào cuộc. Phải mở rộng và làm thông thoáng các kênh thông tin, truyền những tác
động phản biện đến những đối tượng của nó, tạo điều kiện và khuyến khích báo chí
vào cuộc.
Ông Nguyễn Vi Khải - nguyên Viện trưởng Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học –
trong bài viết “Phản biện xã hội” trên báo Lao động ngày 13/7/2008 cũng phân tích:
Nhiều người nói phản biện khoa học khác phản biện xã hội. Phản biện khoa học
khách quan, phản biện xã hội luôn gắn với "lập trường" và rất dễ bị "lợi dụng". Phải
nói ngay, không có phản biện nào là khách quan cả. Chẳng phải các bài báo mang
17

tính cách mạng của nhiều nhà khoa học nổi tiếng lúc đầu đã bị các "phản biện" bác
bỏ đó sao?
Phản biện là ý kiến độc lập (không nhất thiết là phản bác mà rất có thể là khen và
chê) của một người hay một tổ chức nào đó. Nó luôn mang tính chủ quan. Cái hay

Nhân tố mới xuất hiện với sự hợp lý hơn sẽ thay thế cho hiện thực cũ đang tiêu
vong. Đối với triết học biện chứng thì không có gì là tuyệt đối cả. Vì thế sẽ là phản
biện chứng với những ai tự dành cho mình cái quyền luôn luôn đúng tuyệt đối đúng,
thậm chí chỉ "đúng trở lên"!
Nếu chúng ta tạo môi trường cho phản biện xã hội phát triển như một hoạt động phê
phán có chất lượng khoa học, sẽ tạo ra được động lực thường xuyên cho sự phát
triển. Muốn vậy, điều đầu tiên là chúng ta phải tạo ra một môi trường xã hội, trong
đó quyền được nói cần phải được coi trọng. Có như thế, chúng ta mới có những
hoạt động phản biện một cách có chất lượng.
Để đạt được điều đó trước hết chúng ta phải có một xã hội dân sự. Thêm vào đó là,
Việt Nam phải xây dựng một Nhà nước pháp quyền hoàn thiện, đúng nghĩa của từ
này. Bởi lẽ, chỉ cô một Nhà nước pháp quyền với những yếu tố đầy đủ của nó, mới
có thể tạo ra sự độc lập của các cơ quan quyền lực. Sự độc lập của các cơ quan
quyền lực là điều kiện cần để sự phản biện xã hội tồn tại và phát triển.
Xã hội dân chủ cũng là điều kiện cần cho việc mở rộng dân chủ. Khi người dân
được quyền bày tỏ, sẽ giúp cho các nhà chính trị có thể lắng nghe một cách chân
thành và nghiêm tức tiếng nói từ bên dưới, từ đó mới có thể nhận được những thông
tin phản hồi trung thực để điều chỉnh và sửa sai nhằm hoàn thiện chủ trương, đường
lối chính sách. Quá trình dân chủ hóa xã hội ta đã có những khởi sắc nhưng đây đó
thói quen chỉ muốn độc thoại chứ không thích đối thoại vẫn chưa hẳn đã hết.
Sự hạn chế của năng lực tư duy khiến người ta không muốn thay đổi, từ đó họ cho
mình cái quyền độc thoại để chỉ ban phát ý kiến dẫn dắt, mà không quen lắng nghe
và tiếp nhận thông tin từ cuộc sống, từ dòng chảy cuồn cuộn của cuộc cách mạng
khoa học công nghệ. Thói quen độc thoại tự cho mình đã biết tất cả, chân lý là đã có
19

sẵn, chỉ cần lấy ra rao giảng, chính là biểu hiện tha hóa của quyền lực. Ngược lại tác
phong đối thoại được xác lập từ nhận thức rằng chân lý đến từ quá trình tìm tòi, suy
ngẫm phân tích và tiếp nhận trong dòng chảy miệt mài liên tục của cuộc sống.
Sự mở cửa giao lưu với thế giới bên ngoài, sự hội nhập ngày càng sâu của nền kinh

nhận định “nếu sự phản biện là một đặc tính của xã hội dân sự thì chúng ta đang
chứng kiến một xã hội dân sự mới mẻ đang hình thành dần trong xã hội chúng ta, và
xã hội ấy sẽ còn can dự nhiều hơn vào công việc điều hành đất nước và làm công
cuộc phát triển bền vững”.
1.3 Tính phản biện xã hội ở các loại hình báo chí, đặc biệt ở báo in
Bắt đầu bước sang thế ký XXI, báo chí Việt Nam thực sự đã có một bước chuyển
mình mạnh mẽ với sự vươn lên của những tờ báo với phong cách làm báo mởi mẻ
và không đi theo lối mòn. Đó là cách làm báo có tính phản biện.
Rất nhiều tờ báo đã không còn chỉ là người tuyên truyền một chiều mà đã tìm cách
đưa thông tin đa chiều hơn, lật đi lật lại vấn đề, đặt những câu hỏi hóc búa để tìm ra
bản chất hiện tượng, không hài lòng với những góc nhìn phiến diện, cố gắng đem
đến cho độc giả cái nhìn toàn diện về các sự kiện hiện tượng, khơi gợi những tư duy
mở và lôi kéo độc giả tham gia vào công tác thông tin.
Đó thực sự là một dấu hiệu tốt đối với sự phát triển tất yếu của báo chí Việt Nam.
Tính phản biện xã hội đã nhanh chóng trở thành mục tiêu phấn đấu của nhiều tờ báo
và đã góp phần xây dựng uý tín và chỗ đứng cho nhiều tờ báo.
Trong những năm gần đây, báo chí có ảnh hưởng ngày càng to lớn trong việc thúc
đẩy tiến trình các sự kiện. Nói cách khác, báo chí không chỉ đơn thuần là người đưa
tin, phản ánh thụ động các sự kiện. Hơn thế nữa, nó còn đóng vai trò ngày càng tích
cực, tham gia trực tiếp vào các sự kiện như một trong những yếu tố, những điều
kiện thúc đẩy và quy định chiều hướng vận động của các sự kiện. Bản chất của vai
trò đó chính là áp lực của dư luận xã hội do báo chí tạo ra.
TS. Nguyễn Quang A trong bài viết “Báo chí và phản biện” [44] đăng trên báo Tiền
21

Phong ngày 22/06/2010 cũng phân tích: Báo chí là một trong những kênh phản biện
xã hội hữu hiệu nhất. Từ phản biện có lẽ có xuất xứ từ các ý kiến nhận xét (khen,
chê hoặc góp ý) của những người được yêu cầu (họ được gọi là các nhà phản biện)
để đọc và cho ý kiến nhận xét về một luận văn nào đó.
Rồi người ta dùng từ phản biện xã hội theo ý nghĩa tương tự đối với các chủ trương,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status