ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THỊ THANH MAI
NGHIÊN CỨU THÁNH TỔ KỆ DIỄN QUỐC ÂM
(VẤN ĐỀ VĂN BẢN VÀ GIÁ TRỊ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành:Hán Nôm
NGHIÊN CỨU THÁNH TỔ KỆ DIỄN QUỐC ÂM
(VẤN ĐỀ VĂN BẢN VÀ GIÁ TRỊ) Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hán Nôm
Mã số: 60 22 40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Kim Sơn Hà Nội - 2012
1
MỤC LỤC
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích, lí do chọn đề tài
Phật giáo với những triết lí vi diệu, u huyền thâm sâu tự lâu đã trở thành
niềm an ủi tinh thần cho con ngƣời. Mỗi ngƣời tìm đến Phật theo cách thức
khác nhau và nhằm những mục đích khác nhau: Có ngƣời tìm đến cửa Phật cầu
đông con nhiều cháu, cầu phúc thọ, cầu tài lộc; có ngƣời tìm đến Phật để quên
đi quá khứ khổ đau, để tìm niềm hy vọng; có ngƣời đến chốn cửa Thiền để tìm
nguồn cảm hứng sáng tác thi ca… Thực tế, đã có không ít những nhà văn, nhà
thơ đã đánh dấu bƣớc ngoặt của đời mình qua những bài thơ đƣợc chắp bút từ
Thiền. Trong số đó, có ngƣời là thiền sƣ, mặc áo tu mà lòng phơi phới dạt dào
cảm xúc.
Nhìn lại thời Lý- Trần, một thời đại hoàng kim của Phật giáo, chúng ta thấy
rằng, xã hội phát triển về mọi mặt. Từ vua đến dân, ai ai cũng sùng mộ đạo
Phật. Không Lộ Thiền sƣ, một trong những thiền sƣ tham Thiền, học Thiền đắc
đạo đã làm nhiều việc giúp ích cho nƣớc cho dân. Tài đức của ông đƣợc lƣu
truyền rộng rãi trong dân chúng và trong sử sách. Thông qua sáng tác của nhà
sƣ, ngƣời đọc có thể hiểu rõ hơn về con ngƣời, cuộc đời và quá trình tu Thiền
của Không Lộ. Bên cạnh một thánh tổ, là một thi nhân với ngọn bút giáng thần.
Chiêm ngƣỡng cảnh sắc thiên nhiên non xanh núi thẳm, cảnh chùa yên tĩnh
tƣơi đẹp tựa cõi thiên thai, chúng ta thấy lòng mình thật thanh thản để lại phía
sau những phiền muộn đời thƣờng. Hơn nữa, đối với ngƣời yêu thích và nghiên
cứu Hán Nôm, tìm hiểu về Thiền dƣới góc độ ngôn từ là một việc làm cần thiết
và ý nghĩa. Đề tài có thể rèn luyện và giúp học viên thể hiện đƣợc những năng
lực phiên Nôm và phân loại cấu tạo chữ Nôm. Trong tình hình địa phƣơng các
nơi thờ phụng Không Lộ chƣa có văn bản cũng nhƣ bản dịch này ,việc
nghiên cứu, giới thiệu và dịch thuật tác phẩm có ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa
nhiều mặt (lịch sử, văn hóa, văn học, Thiền học ). Văn bản ra đời vào thời kỳ
cuối 19 đầu 20 ( nhƣ sẽ trình bày ở sau) là giai đoạn cuối của thời trung đại,
174. Hiểu bài thơ Ngư nhàn của Dương
Không Lộ từ góc độ không gian của tác giả Thanh Phong đăng trên báo Giác
Ngộ online vào ngày 29 tháng 07 năm 2008…. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng các
sách hoặc các bài nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến Không Lộ dƣới góc độ
tiểu sử cuộc đời và một vài bài thơ ( Ngư nhàn, Ngôn hoài) của ông. Từ thực tế
nghiên cứu nổi lên hai quan điểm trái chiều: quan điểm đồng nhất Không Lộ,
Minh Không là một và quan điểm cho rằng Minh Không với Không Lộ là hai
3
con ngƣời riêng biệt nhƣng có nhiều điểm tƣơng đồng với nhau. Lí lẽ mà giới
nghiên cứu, học giả đƣa ra đều có sức thuyết phục, trở thành nguồn tƣ liệu
phong phú cho ngƣời thực hiện đề tài thông qua đó tìm hƣớng đi riêng cho
mình. Bên cạnh mặt thuận lợi đó, cái khó khăn của những ngƣời yêu mến thiền
sƣ khi nghiên cứu về ông chính là sự nhập nhằng (tên húy, quê quán, hành
trạng…) giữa Không Lộ và Minh Không. Việc tách bạch rạch ròi Minh Không,
Không Lộ vẫn luôn là đề tài đƣợc đông đảo ngƣời quan tâm dƣới nhiều bình
diện. Thực hiện đề tài Nghiên cứu văn bản Thánh tổ kệ diễn quốc âm, chúng tôi
đi tìm hiểu Không Lộ dƣới góc độ: văn bản và giá trị. Chúng tôi hy vọng rằng,
đề tài Nghiên cứu văn bản Thánh tổ kệ diễn quốc âm (vấn đề văn bản và
giá trị) sẽ góp một hơi thở mới trong việc tìm hiểu về Không Lộ - một trong
những vị Thánh của Việt Nam và về Thiền tông Việt Nam, con ngƣời thực
thấm đƣợm màu huyền thoại.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Để rút ra hƣớng giải quyết thấu đáo hợp lí nhất, đòi hỏi ngƣời viết phải xác
định đúng đối tƣợng nghiên cứu. Đây là việc làm thiết yếu, cần thiết trƣớc khi
bắt tay vào triển khai đề tài. Chọn đối tƣợng đúng sẽ giúp ngƣời thực hiện đề
tài triển khai đúng hƣớng, và ngƣợc lại. Hiểu rõ tầm quan trọng của việc lựa
chọn đối tƣợng nghiên cứu, khi đi vào đề tài Nghiên cứu văn bản Thánh tổ kệ
diễn quốc âm (vấn đề văn bản và giá trị), chúng tôi xác định đối tƣợng
nghiên cứu chính là tác phẩm Thánh tổ kệ diễn quốc âm ( kí hiệu AB 599, Thƣ
5. Cấu trúc của đề tài
Trên cơ sở đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, các
phƣơng pháp đã lựa chọn, ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phần phụ
lục, đề tài của chúng tôi đƣợc bố cục gồm hai chƣơng:
Chƣơng 1. Những vấn đề văn bản của tác phẩm Thánh tổ kệ diễn quốc âm
1.1. Văn bản Thánh tổ kệ diễn quốc âm
1.2. Không Lộ Thiền sƣ, tình hình nghiên cứu về hành trạng và sáng
tác văn học
1.2.1. Tình hình nghiên cứu
1.2.2. Hệ thống văn bản Hán Nôm của Không Lộ
5
Chƣơng 2:Văn chƣơng và Thiền học, chữ Nôm và việc diễn Nôm trong tác
phẩm Thánh Tổ kệ diễn quốc âm
2.1. Văn chƣơng và Thiền học
2.1.1. Giá trị văn học trong văn bản
2.1. 2. Giá trị Thiền học
2.2. Chữ Nôm và việc diễn Nôm
2.1. Sơ lƣợc về cấu trúc chữ Nôm
2.2. Tình hình sử dụng chữ Nôm trong văn bản
6. Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu Thánh tổ kệ diễn quốc âm (vấn đề văn bản và giá trị) đã giới thiệu
một cách tổng quát thân thế, sự nghiệp cũng nhƣ quá trình tu thành chánh quả, ca ngợi tài,
đức của Không Lộ thiền sƣ; giới thiệu về những ngôi chùa đƣợc xem là những danh
thắng mà đức Thánh tổ từng đặt chân đến. Đồng thời, luận văn cũng mang đến cái nhìn
khá hoàn chỉnh về các kiểu loại chữ Nôm mà văn bản sử dụng.
Có thể nói, những giá trị của văn bản mà luận văn chỉ ra đã giúp cho độc giả và
những nhà nghiên cứu hiểu sâu sắc hơn về thiên nhiên, con ngƣời và sự vi diệu của Thiền.
Đồng thời luận văn có thể làm tài liệu để sinh viên, học viên, đồng nghiệp cùng chuyên
ngành tham khảo.
Về mặt hình thức, văn bản sử dụng ba thể loại: thơ (lục bát, thơ tự do,
thơ bảy chữ), văn vần, văn xuôi làm công cụ để biểu đạt nội dung. Cụ thể:
7
Ngoài bài tựa và phần phụ lục ra, mỗi trang sách đều đƣợc chia làm hai phần.
Phần chính văn (phần chữ Nôm in to) đƣợc sử dụng thể lục bát (6-8) làm thể
loại chính; phần phụ văn (nhằm để giải thích cho các điển cố chữ Hán đã dùng
trong phần chính văn)) lúc dùng văn vần, lúc dùng văn xuôi, cũng có khi dùng
thơ để diễn giải.
Về mặt nội dung, văn bản ca ngợi quá trình tu tập của đức thánh Không
Lộ từ khi còn nhỏ cho đến khi lớn, mộ Thiền, đi tìm đƣờng học Thiền….thành
chính quả. Đồng thời ca ngợi cảnh chùa cao đẹp, ca ngợi sự vi diệu của Phật
pháp; ca ngợi công sức đóng góp của thiện nam tín nữ trong làng. Cũng qua
văn bản này, ít nhiều ngƣời học có đƣợc cái nhìn khái quát về một thời đại Phật
pháp hƣng thịnh. Thời đại mà từ vua cho đến dân đều sùng mộ Phật giáo.
Không Lộ thiền sƣ là một trong những con ngƣời tiêu biểu. Cùng làm bạn với
ông là Từ Đạo Hạnh và Giác Hải cũng đều là những bậc chân tu hết lòng vì dân
vì nƣớc.
Về năm in sách, căn cứ vào dòng chữ Long Phi Khải Định Canh Thân và
một số chữ húy triều Nguyễn nhƣ chữ Tông [22b] và chữ Thời [12a,17a,
27a,32a] (viết theo cách kiêng húy của triều Nguyễn), chúng ta có thể khẳng
định sách đƣợc khắc in vào năm 1920 ( thời vua Khải Định) . Địa điểm in sách ,
không ghi rõ nhƣng thông qua lời thơ ở trang 43a là:
Chùa Cổ Lễ nguyên thờ thánh tổ
Chữ Lý xưa thoát hổ tôn thầy
Nước Nam từ đấy mới hay
Có chùa có Phật có người anh linh
[43a]
Chúng ta có thể ƣớc đoán Thánh tổ kệ diễn quốc âm do chùa Cổ Lễ khắc
ván ấn hành vào đầu năm Thành Thái (1890).
thông tin cần thiết về danh tính, quê quán và hành trạng của Không Lộ thiền sƣ.
Trong sách Thơ văn Lý- Trần, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1977, Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà
Nội, 1991 chƣa có sự phân biệt rõ ràng tiểu sử và hành trạng của Không Lộ với
Minh Không – thiền sƣ có nhiều nét tƣơng đồng với thiền sƣ Không Lộ.
Giáo sƣ Bùi Duy Tân trong bài viết Không Lộ…sư tổ chùa Keo…cuộc
đời, văn nghiệp công bố trên nội san Nghiên cứu Phật học số 5- 1992, đã chỉ ra
9
sự nhầm lẫn của một số tác giả khi đồng nhất Không Lộ thiền sƣ và Minh
Không thiền sƣ là một.
Lê Xuân Quang trong cuốn Không Lộ- Minh Không (Văn hóa dân tộc,
2000) đã chứng minh Không Lộ chính là Minh Không và ngƣợc lại.
Phạm Đức Duật có bài viết Sự tích Không Lộ, Minh Không đăng trên tạp
chí Hán Nôm, 1984.
Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng với lí lẽ và luận chứng thuyết phục trong “ Bài
bạt về việc khảo cứu sự tích đức thánh tổ” đã chứng minh Không Lộ và Minh
Không là hai con ngƣời khác nhau. Ông đã chỉ ra điểm khác nhau rất cụ thể của
Không Lộ và Minh Không khi so sánh Chích Quái của Nguyễn Quỳnh với
chính sử: Khác biệt đầu tiên của Không Lộ và Minh Không nằm ngay trong họ
và tên. Không Lộ họ Dƣơng, húy Minh Nghiêm còn Minh Không họ Nguyễn
húy Chí Thành. Khác biệt thứ hai giữa hai thiền sƣ này là quê quán của hai ông
khác nhau. Không Lộ quê ở Giao Thủy, phủ Hải Thanh, Minh Không quê ở
Đàm Xá. Khác biệt nữa là Không Lộ sinh năm Bính Thìn niên hiệu Thuận
Thiên thứ 7 (1016), đời Lý Thái Tổ, Minh Không sinh năm Bính Ngọ, niên
hiệu Long Chƣơng Thiên Tự thứ 1 (1066), đời Lý Thái Tông. Không Lộ mất
năm Giáp Tuất, niên hiệu Hội phong thứ 3 (1094) thọ 79 tuổi, Minh Không mất
năm Tân Dậu niên hiệu Đại Định thứ 2 (1141) đời Lý Anh Tông, thọ 75 tuổi.
Theo sách Thánh tổ hạnh thực diễn âm ca ( kí hiệu vHv 2380, Viện
nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội ):
Đạo Hạnh, ngƣời huyện Vĩnh Lại, tên là Lộ. Giác Hải kém tuổi Không Lộ còn
Đạo Hạnh hơn tuổi ông. Từ Đạo Hạnh về tu ở núi Sài Sơn (thuộc An Sơn, tỉnh
Sơn Tây). Không Lộ về trụ trì ở chùa Diên Phúc (tức chùa Hộ Xá).
Bạn cùng hai đấng pháp sư
Họ Nguyễn tuổi kém, họ Từ tuổi hơn
Anh em cầm bát chông hương
Học kinh Bát Nhã giữ đường Kim Cương
Từ về tu núi Sài Sơn
Thánh về Diên Phúc không môn trụ trì
Nghe Thiên Trúc (tức Ấn Độ) có Phật giáng sinh, ba ông cùng nhau trên
một chiếc thuyền chài vƣợt non, qua bãi Hoa Liên ( ghềnh Hoa Liên ở trên
11
sông Đà, ngọn nguồn của nó ở Lộ Kim Xỉ), đến Kim Xỉ ( tên trƣởng quan ty
Kim Xỉ), đến Vĩnh Xƣơng (tên phủ, thuộc Huyện Vân Nam Trung Quốc), từ
kim Xỉ qua Miến Điện là đến Thiên Trúc.
Trong quá trình đi sang Thiên Trúc, ba ông gặp một bà lão. Đƣợc truyền
phép thuật. Trở về, vua nghe tin, triều vào cung. Các ông dùng tài thuật của
mình giúp vua trị bệnh, tiếng thơm vang khắp. Đƣợc vua trọng thƣởng "
Thưởng ngân nghìn lạng, thưởng điền năm trăm".
Nhƣ vậy, Đức thánh tổ sau quá trình tu thiền đã đắc đạo. Ông dùng "tâm
Phật " và phép thuật của mình để hộ nƣớc cứu dân. Tài đức của ông đƣợc ca
ngợi là "phép thần thông", "thực dòng Phật tổ, thực dòng thần tiên".
Thánh về rộng mở phúc điền
Đạo truyền tâm yếu, kệ truyền không không
Đúc chuông ba nghìn cân đồng
Thần Quang để chốn phạn cung đời đời
Ngày mồng ba tháng sáu, thánh tổ mất, thọ 79 tuổi.
Theo sách Thánh tổ sự tích tức Nguyễn Không Lộ sự tích (kí hiệu A2612,
Thƣ viện Hán Nôm, Hà Nội) thì :
Trong nƣớc đâu đâu cũng nghe danh Không Lộ thiền sƣ. Ngƣời đời mến mộ,
dành cho ông ngôi vị cao quý khi gọi ngƣời là "đức thánh tổ". Ngài hóa năm 79 tuổi.
Cùng viết về Không Lộ thiền sƣ nhƣng văn bản Thánh tổ kệ diễn quốc
âm (kí hiệu AB 599, Thƣ viện Hán Nôm, Hà Nội), lại cung cấp cho ngƣời
đọc những thông tin mới về hành trạng của đức Thánh Không Lộ. Theo văn
bản này, Không Lộ thiền sƣ có hai húy là Chí Thành, Minh Không hiệu là
Không Lộ :
Chí Thành là húy thánh ông
Hiệu là Không Lộ Minh Không chính truyền
[15b]
Cha ông họ Nguyễn, mẹ ông họ Dƣơng ngƣời Hán Lý :
Xưa ông hộ xá Nguyễn Lang
Bà người Hán Lý họ Dương duyên phùng
Ông bà trung hiếu thủy chung
Mượn nghề sơn thủy mở lòng Phật tiên
13
[9b]
Khoảng 30 tuổi ông bỏ nghề đánh cá học Thiền " Giáp Thân đã gần ba
mươi, Xuân huyên đã hóa thoát nơi tu hành". Ông kết bạn với Giác Hải. Hai
ngƣời cùng tìm thầy để tu Thiền. Tiếp đó, Không Lộ học phái Thảo Đƣờng
"Thứ hai học quốc sư đường, Thầy khen pháp tự khả đương có ngày" và trở
thành tổ thứ 3 của thiền phái này. Sau đó, Không Lộ "nhập môn ở chùa Hà
Trạch".
Từ đây tài năng và đức độ của ông vang khắp. Điều đó chứng tỏ công
phu tu tập của ông đã thành chánh quả, đạt đến cõi Niết Bàn.
Không Lộ, Giác Hải trên đƣờng đi đến đất Phật gặp Từ Đạo Hạnh. Cùng
có điểm chung là dốc lòng tu dƣỡng học Thiền nên Giác Hải, Không Lộ và Từ
Đạo Hạnh đã " kết bạn kim lan". Ba ngƣời cùng nhau tìm đƣờng sang Tây Trúc.
Qua nhiều ngày tháng gian lao, vất vả, cuối cùng họ cũng tới đƣợc đất Phật.
đang và vẫn là vấn đề gây nhiều tranh luận mà giới nghiên cứu, những ngƣời
quan tâm tới Không Lộ trên nhiều bình diện nói chung và ngƣời thực hiện đề
tài nói riêng đặc biệt quan tâm.
Bên cạnh những điểm khác biệt đó thì các dấu mốc về quá trình tu Thiền
của thiền sƣ lại cơ bản là giống nhau. Chính điều này là nguyên nhân dẫn đến
sự nhầm lẫn hay đánh đồng hai con ngƣời cụ thể sống trong hai triều đại cụ thể
thành một con ngƣời duy nhất. Đồng thời cũng là một khó khăn trong việc
phân biệt để chỉ ra sự khác biệt của hai vị thiền sƣ có nhiều nét tƣơng đồng về
mặt đức độ, tài năng .
Từ đó, chúng ta rút ra quan điểm đƣợc xem là chính thống mà đông đảo
giới nghiên cứu, học giả tán thành đó là : Thiền sƣ Không Lộ húy Minh
Nghiêm, hiệu là Không Lộ, biệt hiệu Thông Huyền. Ông sinh ngày 14 tháng 9
năm Bính Thìn, niên hiệu Thuận Thiên năm thứ 7 (1016), đời Lý Thái Tổ. Quê
ở làng Giao Thủy (sau đổi là làng Hộ Xá), phủ Hải Thanh ( đến đời Trần đƣợc
đổi là Thiên Trƣờng). Ông có cha họ Dƣơng, mẹ ngƣời Hán Lý, phủ Ninh
Giang, Hải Dƣơng.
Cha mẹ Không Lộ là ngƣời hiền lành, trung hậu, làm nghề chài lƣới.
Không Lộ từng vui thú với nghề này và thích du ngoạn những nơi danh thắng,
tùy hứng ngâm vịnh và sáng tác thơ ca.
15
Năm 29 tuổi ( Giáp Thân -1044), dƣới triều Lý Thái Tông, Không Lộ bỏ
nghề chài lƣới chú tâm học Thiền. Tu thành chánh quả, ông trở thành vị Tổ thứ
9 của thiền phái Vô Ngôn Thông, một thiền phái đƣợc thành lập ở nƣớc ta vào
đầu thế kỉ thứ IX. Ông cũng đƣợc mệnh danh là ông tổ của nghề đúc đồng.
Năm Kỉ Hợi (1059), Không Lộ tu tại chùa Hà Trạch, rồi chùa Duyên
Phúc (tức chùa làng Hộ Xá) sau đổi tên là chùa Viên Quang.
Năm Nhâm Dần, Không Lộ, Giác Hải và Từ Đạo Hạnh đi sang đất
Thiên Trúc cầu kiến Phật Tổ. Phật tổ đã chứng nhận và giác ngộ cho các ông.
Ngài ban cho ba vị thiền sƣ mộ đạo này nhiều phép lạ.
hiệu là Không Lộ. Ông sinh ra trong một gia đình làm nghề chài lƣới. Cha ông
họ Nguyễn, ngƣời làng Hộ Xá, mẹ ông họ Dƣơng, ngƣời Hán Lý. Ông đƣợc
nhắc đến là tác giả của tuyệt tác Ngôn hoài. Chí Thành xƣa nay là húy của
Minh Không. Song ở văn bản này, Chí Thành cũng lại là húy của Không Lộ.
Họ của ông cũng không phải họ Dƣơng mà là họ Nguyễn liệu có phải là một sự
nhầm lẫn ? Khi chữa khỏi bệnh cho vua, đƣợc vua phong làm quốc sƣ và làm
thơ ca ngợi : " Linh dị Lý Thần Tông, Triều đình luận thần thông, Dục an thiên
tật, Tu được Nguyễn Minh Không". ( Tạm dịch : Hiển linh triều vua Lý Thần
Tông, Triều đình bàn luận chuyện thần thông, Muốn khỏi hết bệnh tật, Chỉ có
Nguyễn Minh Không), thì ngƣời đƣợc nhắc đến trong bài thơ của vua Lý Thần
Tông không phải là Dƣơng Không Lộ mà là Nguyễn Minh Không. Ở đây,
ngƣời viết có thể khẳng định chắc chắn rằng chân dung vị thiền sƣ tài giỏi hiện
lên chính là Không Lộ thiền sƣ – tác giả của hai tuyệt tác Ngôn Hoài và Ngư
nhàn. Không Lộ thiền sƣ sau khi đắc đạo về nhập môn ở chùa Hà Trạch. Đây
là một bằng chứng xác thực không thể phủ nhận. Nhƣng tại sao văn bản lại cho
là Không Lộ có húy là Chí Thành, hiệu là Không Lộ ? Ông họ Nguyễn chứ
không phải họ Dƣơng ? Những chi tiết sai khác về húy, hiệu của nhà sƣ khiến
cho ngƣời viết có chút băn khoăn. Có lẽ sự băn khoăn này cũng chính là
nguyên do đƣa đến những nhầm lẫn giữa hai vị thiền sƣ mà giữa họ có khá
nhiều điểm tƣơng đồng, đồng thời đó cũng là cái khó lí giải một cách tƣờng tận
của ngƣời viết. 17
1.1.2. Các sáng tác Hán Nôm của Không Lộ
Xƣa nay, nói đến Không Lộ thƣờng nhiều ngƣời chỉ biết đến ông là tác
giả của hai bài thơ nổi tiếng " Ngư nhàn", "Ngôn hoài" mà ít ngƣời biết ông
còn là tác giả của một số văn bản Hán Nôm khác. Điều này cũng không khó
hiểu bởi hai bài thơ – bài kệ trên là hai sáng tác mà ngƣời viết khi chọn đƣợc
đất làm chùa Nghiêm Quang (sau đổi tên là chùa Thần Quang). Nhà thơ vui
trong nếp nghĩ, nếp cảm mà nhà thơ gửi gắm nơi bài thơ. Cũng có ý kiến cho
rằng Ngư nhàn là sáng tác của nhà thơ Hàn Ô (Trung Quốc) chứ không phải là
sáng tác của Không Lộ. Thi hứng luôn đến một cách tự nhiên, cho nên có thể
khẳng định một điều chắc chắn rằng sự gặp gỡ về tứ thơ của hai tác giả ở hai
đất nƣớc là điều dễ hiểu. Hiện nay, vấn đề này đến nay vẫn đang đƣợc khảo
cứu, có nhiều ý kiến tranh cãi, nghi ngờ Ngư Nhàn, Ngôn hoài không phải của
Không Lộ nhƣng các ý kiến phủ định đó chƣa đủ chứng cứ thuyết phục. Vì vậy,
chúng tôi vẫn coi đó là tác phẩm tuyệt tác của ông. Trong thực tế, nếu ngƣời ta
có đủ bằng chứng, lí lẽ chứng minh nó không phải của thiền sƣ thì văn bản
Thánh tổ kệ diễn quốc âm mà chúng tôi khảo sát vẫn nguyên giá trị.
Ngoài hai tác phẩm nổi tiếng mà ai cũng biết này ra, Không Lộ thiền sƣ
còn có một số sáng tác khác (không có tiêu đề) đƣợc ghi chép trong dân gian
và một số tài liệu chữ Hán nhƣ : Sự tích đức thánh tổ (Đặng Xuân Bảng biên
soạn), Tiên thiên Phật thánh lục, Hoàng triều thông chí thần phật môn (không
rõ tác giả). Những sáng tác này là sáng tác khi nhà thơ cao hứng.
Không Lộ là một con ngƣời không màng danh lợi điều này đƣợc thể
hiện rõ nét trong bài kệ tự sự về bản thân của thiền sƣ . Ông thích vui thú điền
viên, sống cuộc sống dân dã của một lão nông :
Lão hỷ yên hà tẩu
Na tri lợi lộc mến
Thùy điều đương liễu ngạn
Tán võng địch hóa thôn
Bả trạo ngân phong tuyết
Đặc ngư thí tửu tôn
Sơn tiều thời ngộ ngã
Kim cổ mạn tương luân.
19
( Yên hà mùi vẫn thích, Danh lợi tính không ƣa, Bến liễu buông câu sớm, Làn
lau vãi lƣới trƣa, Gác mái ca phong nguyệt, Đƣợc cá chén say sƣa, Kiếm củi
20
Thuyền kim đảo cổ, cổ kim truyền
Bài thơ này đƣợc ghi chép trong sách Thiên tiên Phật thánh, đƣợc T.S.
Đặng Xuân Bảng dịch nhƣ sau
Da trời giòng biếc nhuộm màu cây
Một giải non xanh tỏa khói mây
Cây quấn cây tùng, cây rậm rạp
Nƣớc quanh đỉnh giáp, nƣớc vơi đầy
Rƣợu mê nƣời, ngƣời mê rƣợu đấy
Khách giục thuyền, thuyền giục khách đây
Liệu đƣợc tri âm, nào đƣợc mấy
Xƣa nay vẫn nhớ mãi xƣa nay
Nhìn vào nguyên tác bài thơ, chúng ta dễ dàng nhận ra ngay sự độc đáo,
mới lạ trong cách sử dụng từ ngữ. Mỗi câu thơ đều đƣợc ngắt làm hai. Vế sau
là sự đảo ngƣợc lại của vế thứ nhất : " Thiên liên bích thụ", đƣợc đảo lại là
" thụ liên thiên", "Yên tỏa thanh sơn", đƣợc đảo lại là " sơn tỏa yên" ; "thụ
nhiễu tùng la" đƣợc đảo lại là "la nhiễu thụ"… "Thuyền kim đảo cổ"đƣợc đảo
lại là" cổ kim truyền". Sự đảo lại ấy nhằm mục đích nhấn mạnh dụng ý nhà thơ
muốn diễn tả.
Trả lời sƣ Từ Đạo Hạnh, Không Lộ cũng dùng kệ :
Ngọc nang bí quyết nghĩ chân kim
Cá chung mãn nguyệt lộ thần tâm
Hà sa cách thị Bồ đề đạo
Nghĩ hướng Bồ đề mãn liễu cầm.
(Túi ngọc bí truyền rõ thực vàng
Tháng qua mƣa móc dạ xốn xang
Hà sa thu gót Bồ đề đạo
Tìm gặp đƣợc nhau mấy đoạn trƣờng)
nhà nghiên cứu cảm thụ Thánh tổ kệ diễn quốc âm một cách dễ dàng thông qua
thể thơ dân tộc (6/8) – công cụ chính để chuyển tải nội dung văn bản. Toàn văn
22
bản viết về Không Lộ thiền sƣ tài đức vẹn toàn. Một con ngƣời có thật nhƣng
nhuộm màu huyền thoại. Văn bản giống nhƣ một câu chuyện phác họa đầy đủ,
rõ nét về cuộc đời, hành trình học Thiền, tu Thiền đến thành chánh quả, những
nơi Thiền sƣ đặt chân tới, những ngôi chùa mà đức Thánh xây dựng trụ trì.
Bao trùm lên toàn bộ văn bản là cảm hứng ngợi ca công phu tu tập, công đức
siêu phàm, cảnh chùa cao đẹp. Ngƣời đời biết đến ông không chỉ là một nhà sƣ,
dòng thứ chín Vô Ngôn Thông, ông tổ của nghề đúc đồng mà còn là một thi sĩ
với những sáng tác dù không nhiều nhƣng cũng đủ để ghi danh với trời đất.
Sáng tác của ông thƣờng phát khởi khi cảm xúc ùa về hay lúc chỉ dạy cho đệ tử.
Chỉ riêng hai bài Ngư nhàn và Ngôn Hoài của thiền sƣ dù còn nhiều tranh cãi
(về vấn đề tác giả), dù kết luận có thế nào, Không Lộ có là tác giả của hai tuyệt
tác kia hay không thì văn bản Thánh tổ kệ diễn quốc âm vẫn giữ nguyên giá trị
và Không Lộ vẫn luôn là đề tài hấp dẫn thu hút đông đảo độc giả quan tâm. Có
thể tóm lại những nghiên cứu về ông thành hai quan điểm chính. Quan điểm
thứ nhất đó là : Không Lộ và Minh Không là hai con ngƣời cụ thể, sinh ở hai
thời khác nhau, quê quán khác nhau. Quan điểm thứ hai là đồng nhất Minh
Không, Không Lộ với nhau. Cả hai quan điểm này đƣợc các học giả, nhà
nghiên cứu đƣa ra những luận chứng đều có sức thuyết phục. Tuy nhiên đến
thời điểm hiện nay, hai quan điểm trên vẫn là vấn đề bất phân thắng bại. Vì thế,
con ngƣời, cuộc đời và hành trạng của thiền sƣ đã đang và sẽ là mảnh đất phì
nhiêu cho những ai thích khám phá, tìm ra cái mới trên cơ sở những nghiên cứu,
tƣ liệu đã có.