Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ 1992 đến nay - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Văn Dương Quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc từ năm 1952 đến nay
Thạc sĩ Quốc tế học: 60.31.40

Người hướng dẫn TS: Nguyễn Thị Quế


tế, khoa học kỹ thuật ngày càng tăng. Thời kỳ sau chiến tranh lạnh, trước xu
thế phát triển của thế giới lấy kinh tế làm trung tâm và xu thế toàn cầu hoá,
Hàn Quốc bắt đầu nhận thấy Việt Nam có một tiềm năng hợp tác to lớn trong
nhiều lĩnh vực. Bởi vậy Hàn Quốc đã tích cực đẩy mạnh mối quan hệ nhiều
mặt với Việt Nam, hy vọng sẽ có một chỗ đứng tương xứng với tiềm năng của
mình ở Đông Á và cân bằng với sự có mặt của các nền kinh tế trong khu vực
này. Trong tầm nhìn của Hàn Quốc, Việt Nam là thị trường mới mẻ hấp dẫn,
dân số hơn 80 triệu, lực lượng lao động dồi dào, có học thức, đất nước đang
chuyển mình trong quá trình đổi mới, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Rõ
ràng, đối với Hàn Quốc, đây là một thị trường đầu tư, một địa chỉ hợp tác đầy
hứa hẹn. Tổng thống Kim Tê Chung khẳng định: “Việt Nam là đối tác ưu tiên
hàng đầu của Hàn Quốc trong các nước đang phát triển‟‟ [1, tr7]. Với sự hiểu
biết đó, Hàn Quốc đã cùng Việt Nam có những bước đi chắc chắn trong quá
trình hợp tác.
Về phía Việt Nam, Đảng và nhà nước ta đã đưa ra quan điểm: sẵn sàng là
bạn với tất cả các nước trong cộng đồng Quốc tế và sẵn sàng hợp tác với các
quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực vì sự thịnh vượng chung của nhân dân 2

Việt Nam và nhân dân các nước. Với Hàn Quốc, Việt Nam đã có những nỗ lực to
lớn để đẩy mạnh hợp tác nhiều mặt. Việt Nam khắc phục khó khăn, từng bước
gạt mọi trở ngại để cho mối quan hệ giữa hai bên ngày càng có hiệu quả.
Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc diễn ra trong một thời gian chưa dài,
nhưng đã có những thành tựu đáng khích lệ, triển vọng đầy hứa hẹn. Do vậy,
việc nghiên cứu sự vận động, những biến chuyển của quan hệ Việt Nam -
Hàn Quốc từ sau chiến tranh lạnh đến nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp
bách đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, đồng thời đây cũng là một đóng
góp nhất định đối với việc nghiên cứu về quan hệ của Việt Nam với các nước

của thiờn niờn kỷ mới), của Paul Chamberlain, Washington DC, CSIS Press,
2001; The New U.S. Administration’s Korea Policy and Its Impact on the
Inter-Korean Relations (Chính sách Triều Tiên của chính quyền mới của Mỹ
và ảnh hưởng của nó đến quan hệ liên Triều), của Chung Ok-nim, East
Asian Review, Vol.13, No.1, Spring 2001; Changes in Inter-Korean
Relations: The Vicissitudes of Politics (Những thay đổi trong quan hệ liên
Triều: Những thăng trầm của chính trị), của Kim Kyung-woong, East Asian
Review, Vol.13, No.4, Winter 2001; Bush Policy Undermines Progress on
Korean Peninsula (Chớnh sỏch của Bush làm xúi mũn tiến trỡnh hoà bỡnh
trờn bỏn đảo Triều Tiờn), của Effer John, Foreign Policy in Focus, Vol.7,
No.2, March 2002; Korea and the U.S.: Partnership under Stress, (Triều Tiên
và Mỹ: quan hệ đang căng thẳng), của Oberdorfer Don, The Korea Society
Quarterly, Vol.3, No.2&3, Summer 2002; Korean Nationalism, Anti-
Americanism, and Democratic Consolidation (Chủ nghĩa dõn tộc, chủ nghĩa
chống Mỹ và củng cố dõn chủ ở Triều Tiờn), của Samuel S. Kim, ed. &
Katharine Moon, in Korea‟s Democratization, Cambridge University Press,
New York, 2003; Anti-Americanism in South Korea and the future of US
presence (Tõm lý chống Mỹ ở Hàn Quốc và tương lai sự hiện diện của Hoa
Kỳ), của Jefferey S. Robertson, Journal of International and Area Studies,
Vol. 9, No.2, 2002; Democratization in South Korea and Inter-Korean
Relations (Dõn chủ hoỏ ở Hàn Quốc và quan hệ liờn Triều), của Chien-Peng
Chung, Pacific Affairs, Vol. 76, 2003; Pride and Prejudice in South Korea's
Foreign Policy (Niềm kiờu hónh và thành kiến trong chớnh sỏch đối ngoại 4

của Hàn Quốc), của Koen De Ceuster, The Copenhagen Journal of Asian
Studies, Vol 21, 2005; Korea as Northeast Asian Business Hub: Vision and
Tasks (Triều Tiờn với vai trũ trung tâm thương mại ở Đông Bắc Á: Tầm nhỡn

số nét về quan hệ ngoại thương Nhật Bản - Hàn Quốc, của Nguyễn Thanh
Bỡnh, Tạp chớ Nghiờn cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1 (61)/2006; Quan
hệ Liờn bang Nga – bán đảo Triều Tiên sau chiến tranh lạnh, của Trần Hiệp,
Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1 (61)/2006; FTA Hàn
Quốc – ASEAN: Cuộc đua “cùng thắng”, của Hướng Đông, Tạp chí Nghiên
cứu Đông Bắc Á, số 3 (63)/2006; Hợp tỏc kỹ thuật quõn sự giữa Nga và Hàn
Quốc, của Phạm Quỳnh Hương, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 3
(63)/2006
Ngoài ra, trong một số cụng trình nghiên cứu về đất nước, con người và
quá trình phát triển đất nước của Hàn Quốc như: Hàn Quốc trên đường phát
triển, của Ngụ Xuõn Bỡnh – Phạm Quý Long, Nxb Thống kờ, Hà Nội 2000;
Về chiến lược phát triển quốc gia và cải cách nền hành chính của Hàn Quốc
hiện nay, của Trần Anh Phương, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc
Á, số 4/2001; Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy, của Byung Nak-song, Nxb
Thống kờ, Hà Nội 2002; Hàn Quốc cõu chuyện kinh tế về một con rồng, của
Hoa Hữu Lõn, Nxb CTQG, Hà Nội 2003; Hàn Quốc - Đất nước và con
người, Phũng Thụng tin ĐSQ Hàn Quốc tại Việt Nam, xuất bản năm 2007
cũng trỡnh bày ở cỏc mức độ khác nhau chính sách đối ngoại của Hàn Quốc
nói chung và từ sau chiến tranh lạnh đến nay nói riêng. Cỏc cụng trỡnh
nghiờn cứu về Hàn Quốc của cỏc nhà nghiờn cứu Việt Nam nêu trên tập
trung vào lĩnh vực kinh tế là chủ yếu.
Quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc cũng là đề tài được quan tâm nghiên
cứu. Nhiều công trỡnh, ấn phẩm về vấn đề này đó được xuất bản. Ví dụ như:
Nhỡn lại quan hệ kinh tế Việt - Hàn (1992-2001), của Hoàng Văn Hiển -
Ngô Văn Phúc, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1(37)/2002;
Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc: Một thập niên phát triển đầy ý nghĩa, của Hà
Hồng Hải, Tạp chớ Nghiờn cứu quốc tế, số 50/2002; Nhìn lại 10 năm (1992 -
2002) quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc, của Nguyễn Cảnh Huệ - Nguyễn Trinh
Nghiệu, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2003; Quan hệ Việt Nam -


Trên cơ sở những dữ kiện, văn kiện, tài liệu chính thức được công bố
về quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá 7

khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo, và những hiệp định song phương chính
giữa hai nước luận văn đi sâu nghiên cứu làm rõ thực trạng mối quan hệ này
từ 1992 đến nay; dự báo triển vọng của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đến
năm 2020. Đồng thời, nêu một số kiến nghị bước đầu nhằm củng cố và tăng
cường hơn nữa quan hệ giữa hai nước
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chính sau:
- Phân tích những nhân tố chủ yếu tác động đến quan hệ Việt Nam -
Hàn Quốc sau chiến tranh lạnh, bao gồm: Tình hình thế giới và khu vực, khái
quát quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trước khi thiết lập quan hệ ngoại giao
chính thức (12/1992), chính sách đối ngoại của Việt Nam và Hàn Quốc sau
chiến tranh lạnh có ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ giữa hai nước.
- Phân tích thực trạng quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trên các lĩnh vực:
chính trị - đối ngoại; kinh tế và văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, từ khi
hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức từ 12/1992 đến 2008.
- Phân tích triển vọng của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đến năm 2020.
- Đánh giá quan hệ giữa Việt Nam - Hàn Quốc, từ đây nêu một số kiến
nghị nhằm góp phần tăng cường mối quan hệ này hiện nay và những năm sắp
tới.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và triển vọng
của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc thông qua hợp tác thực tế trên các lĩnh vực:
chính trị, kinh tế, văn hoá khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo, và những hiệp
định song phương chính giữa hai nước .

Về mặt lý luận: Thông qua phân tích sự vận động của quan hệ giữa hai
nước mười sáu năm qua, luận văn khẳng định triển vọng về xây dựng, phát
triển, mối quan hệ hợp tác hữu nghị hai nước theo hướng “Quan hệ đối tác
toàn diện trong thế kỷ 21” góp phần vì hoà bình, ổn định, phát triển trong khu
vực và trên thế giới.
Kết quả nghiên cứu luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lí luận, củng
cố lập trường tư tưởng, niềm tin khoa học về đường lối, chính sách đối ngoại
đúng đắn của Đảng và nhà nước ta. 9

- Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu, giảng dạy về quan hệ quốc tế hiện đại, đồng thời có thể góp
phần cung cấp cứ liệu cho công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận văn gồm 3 chương với 7 tiết.

về hình thức, thì các khuôn khổ quan hệ được xác lập như đã nêu trên có ý
nghĩa cơ sở mang tính pháp lý chỉ đạo quan hệ giữa các quốc gia hữu quan.
Tuy nhiên, nội hàm của các khái niệm “hợp tác chiến lược”, “đối thoại chiến
lược”, “quan hệ đối tác chiến lược”, “quan hệ đối tác toàn diện ” nhìn chung
không được xác định một cách chi tiết cụ thể, rõ ràng và thường được tiếp cận
không giống nhau đối với từng mối quan hệ nhất định. Trên thực tế, do tính
không rõ ràng của các khái niệm này và xuất phát từ lợi ích của mỗi quốc gia
trong từng giai đoạn cụ thể, cho nên một số khuôn khổ chiến lược được thiết
lập còn mang tính hình thức, mức độ ổn định không cao và có thể chuyển hoá
sang các trạng thái quan hệ khác nhau.
Từ thực tế diễn biến trong quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ giữa
các nước lớn nói riêng những năm đầu thế kỷ 21, có thể hiểu các khái niệm
“hợp tác chiến lược”, “đối thoại chiến lược“, “quan hệ đối tác chiến lược”
“quan hệ đối tác toàn diện“ trên một số nét khái quát nhất. 11

Trước hết, “hợp tác chiến lược“ là khái niệm chỉ sự phối hợp hoạt động
giữa hai hay nhiều nước trên cơ sở chia sẻ quan điểm gần gũi về một số các
vấn đề đối ngoại quan trọng nhằm giải quyết những thách thức chung trong
các lĩnh vực chính trị, an ninh và kinh tế có liên quan đến lợi ích chiến lược
của mỗi nước. Quan hệ hợp tác chiến lược có đặc trưng chung ở tính ổn định
tương đối trong một giai đoạn xác định.
Khái niệm “đối thoại chiến lược“ trong quan hệ giữa các nước, xét về
quy mô và cấp độ, thấp hơn so với hợp tác chiến lược. Đối thoại chiến lược
chỉ sự trao đổi quan điểm của các nước với nhau về những vấn đề có ý nghĩa
chiến lược trên phạm vi khu vực hoặc toàn cầu nhằm tăng cường hiểu biết lẫn
nhau, từ đây có thể đi tới sự phối hợp hành động giải quyết những vấn đề cụ
thể trong quan hệ song phương hoặc đa phương. Tính ổn định của quan hệ đối

tế với khu vực và thế giới. Sự hình thành quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước
là một quá trình trên cơ sở tiếp nối quan hệ truyền thống. Quan hệ đối tác toàn
diện trong thế kỷ XXI Việt - Hàn chính thức thiết lập và được ghi nhận trong
Tuyên bố chung của Nguyên thủ hai nước ngày 23 tháng 8 năm 2001, trong
chuyến thăm hữu nghị chính thức Hàn Quốc lần đầu tiên của Chủ tịch nước
Trần Đức Lương. Đây là kết quả của đường lối nhất quán của Đảng và Nhà
nước Việt Nam: thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các
nước ASEAN, các nước châu Á - Thái Bình Dương (CATBD) trong đó có
Hàn Quốc, cũng như quyết tâm của lãnh đạo Hàn Quốc và Việt Nam trong
việc phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt Việt - Hàn nhằm đáp ứng
lợi ích và mong muốn của nhân dân hai nước. Đây cũng là kết quả của những
nỗ lực tích cực của cả hai bên nhằm thiết lập một khuôn khổ quan hệ mới mở
đầu Thiên niên kỷ mới. Tiếp theo là các chuyến thăm Việt Nam của Thủ
tướng Hàn Quốc Lee Han Dong (4 -2002), Thủ tướng Việt Nam, Phan văn
Khải thăm Hàn Quốc (9 - 2003), chuyến thăm của Tổng thống Hàn Quốc Roh
Moo - Hyun tới Việt Nam tháng 10 - 2004, Tháng 4 năm 2005, Thủ tướng
Hàn Quốc Lee Hae Chan thăm Việt Nam và tổng thống RohMoo - Hyun
thăm Việt Nam thỏng 11/2006, đã củng cố khuôn khổ đối tác toàn diện cho
quan hệ Việt - Hàn trong thế kỷ XXI. 13

Sự hình thành quan hệ hợp tác toàn diện trong thế kỷ XXI giữa Việt
Nam và Hàn Quốc là do dựa trên những cơ sở rất căn bản về kinh tế, chính trị,
truyền thống và được khẳng định bằng cơ sở pháp lý nên đã tạo thế nâng đỡ,
hỗ trợ khá vững chắc cho mối quan hệ hai nước có khả năng phát triển sâu rộng
trong mọi lĩnh vực, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân hai nước.
Một trong những cơ sở quan trọng của quan hệ đối tác toàn diện.
Trước tiên là: giữa hai nuớc có sự tương đồng, gặp nhau về nhu cầu, lợi ích,

đầu tư lớn hơn. Không chỉ khía cạnh định lượng, thị trường lớn với hơn 80
triệu dân, mà cả khía cạnh định tính, tầng lớp trung lưu ngày càng tăng luôn
đòi hỏi được bắt kịp trong tiêu dùng. Chi phí lao động gia tăng ở Hàn Quốc
đó làm mất dần lợi thế so sánh của hàng hóa Hàn Quốc trên thị trường thế
giới. Yếu tố này thúc đẩy Hàn Quốc chuyển giao các loại công nghệ sử dụng
nhiều lao động ra những nước có chi phí nhân công rẻ, trong đó có Việt Nam.
Bên cạnh đó, Việt Nam là một nước ổn định chính trị và có nền an ninh tốt,
có chính sách thu hút và khuyến khích đầu tư nước ngoài, hai đặc điểm này
đảm bảo cho những nhà đầu tư Hàn Quốc yên tâm đem vốn vào đầu tư tại
Việt Nam. Những yếu tố đó bổ xung cho nhau, tạo ra tiềm năng to lớn cho
quan hệ hai nước, làm cho mối quan hệ này ngày càng phát triển và bền
vững.
Từ những năm 1980 trở về trước, bạn hàng buôn bán và đầu tư chủ yếu
của Hàn quốc là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu. Tuy nhiên, từ 1989, Mỹ đã đưa
Hàn Quốc ra ngoài các đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi chính, nên khả
năng xuất khẩu của Hàn Quốc sang các thị trường truyền thống này giảm
xuống và xuất khẩu của Hàn Quốc sang các thị trường Đông Nam Á (ĐNA)
có xu hướng tăng lên. Mặt khác, cũng từ đầu những năm 1990, để thực hiện
chiến lược ''Toàn cầu hóa", Hàn Quốc đa triển khai chớnh sỏch "Hướng
Nam'', phát triển mạnh mẽ các quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trong khu
vực CATBD, với vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam sẽ là ''cầu nối'' kinh tế - văn
hoá giữa khu vực Đông Á và ĐNA, giữa Hàn Quốc với khu vực ĐNA và Bán
đảo Đông Dương. Như vậy, hợp tỏc kinh tế gúp phần bổ sung cơ cấu kinh tế
và công nghệ giữa hai nước, do đó nâng cao hiệu quả kinh tế, khả năng cạnh
tranh và những tác động tích cực về mặt xó hội cho cả hai phớa.
Thứ hai: Việt- Hàn có mối quan hệ đã có từ lâu đời và sự tương đồng
về văn hóa, lịch sử: hai nước đều phải khắc phục những năm tháng lịch sử
dưới ách ngoại xâm và ách thống trị thực dân. Trải qua những năm tháng gian
Triều Tiên ổn định, hòa bình và phát triển”[ 38, tr 22-26] 16

Thứ tư: Cộng đồng người Việt Nam ở Hàn Quốc hiện nay có số lượng
70 nghìn (trong đó có 20 nghìn là cô dâu), phần lớn trong số này là những
công nhân sang làm việc theo các hiệp định hợp tác lao động được ký kết giữa
Việt Nam và Hàn Quốc, ngoài ra là số sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu
sinh khoa học. Tuyệt đại đa số cộng đồng người Việt ở Hàn Quốc là những
người làm ăn chân chính, tích cực lao động, có nhiều đóng góp hướng về Tổ
quốc. Vì vậy, Việt Nam cần thúc đẩy quan hệ với Hàn Quốc, tăng cường trao
đổi với Hàn Quốc nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt sinh sống và
làm ăn một cách yên ổn, hợp pháp. Tăng cường quan hệ Việt - Hàn, ngoài
việc góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước phát triển,
mà còn bảo vệ được quyền lợi chính đáng cho cộng đồng người Việt Nam ở
Hàn Quốc. Việt Nam cũng mong muốn thông qua việc thúc đẩy quan hệ với
Hàn Quốc để bày tỏ một thông điệp về sự tôn trọng trong quan hệ với các
nước bạn bè. Phát triển tốt quan hệ Việt - Hàn trong khuôn khổ quan hệ đối
tác toàn diện sẽ là điểm đáng chân trọng trong quan hệ Việt Nam với các
nước Đông Bắc Á (ĐBA)
Thứ năm: Sự hợp tác song phương giữa Việt Nam - Hàn Quốc phát
triển còn được xây dựng, phát triển và tăng cường bởi sự phối hợp, ủng hộ
lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ các quan điểm chung thông qua các diễn đàn khu
vực và quốc tế như :UN, ASEAM, ASEAN + 3, ARF, APEC…
Những lợi ích cơ bản và chủ yếu nêu trên đối với mỗi nước, đặc biệt là
sự gặp gỡ về lợi ích giữa hai nước chính là cơ sở, động lực rất quan trọng thúc
đẩy quan hệ Việt - Hàn phát triển hơn nữa tương xứng với tầm vóc cần có của
quan hệ đối tác toàn diện cũng như truyền thống tốt đẹp vốn có của mối quan
hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước

Ngay từ khi thành lập (năm 1948), Đại Hàn Dân Quốc đó kiên trì theo
đuổi chế độ dân chủ và một nền kinh tế thị trường tự do, tuy nhiên chính sách
đối ngoại đó cú những thay đổi đáng kể từ khi Nhà nước ra đời. Sự đối đầu
Đông - Tây mà trung tâm là Mỹ và Nga dẫn đến tình trạng chiến tranh lạnh
sau Chiến tranh thế giới thứ II đó khiến Đại Hàn Dân Quốc theo đuổi quan
hệ đối ngoại của mình phối hợp với các quốc gia phương Tây. Trong những
năm sau cuộc Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), cộng đồng quốc tế nhìn 18

nhận Hàn Quốc như một đất nước kiệt quệ do chiến tranh tàn phá. Những
hình ảnh đó bắt đầu thay đổi tư duy, năm 1962 khi Đại Hàn Dân Quốc áp
dụng chính sách phát triển kinh tế theo định hướng xuất khẩu và bắt đầu tích
cực tham gia vào thương mại quốc tế trên toàn thế giới.
Với sự đối đầu Đông - Tây trở nên sâu sắc trong cuộc Chiến tranh lạnh,
Đại Hàn Dân Quốc - một nước vốn được coi là một thành viên của khối
phương Tây, trước năm 1973, theo nguyên tắc Hallstein (Hallstein
Doctrine), Hàn Quốc không thiết lập quan hệ ngoại giao với bất kỳ nước nào
có quan hệ với Bắc Hàn. Nhưng trong bầu không khí hòa dịu (detente) của
quan hệ Trung - Mỹ, năm 1973, Hàn Quốc lần đầu tiên đề ra đường lối ngoại
giao hướng tới các nước xã hội chủ nghĩa( XHCN). Theo tuyên bố 23-06-
1973, Hàn Quốc chủ trương “thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các nuớc
không đối đầu với mình bất chấp thể chế chính trị”. Tuy nhiên mục đích
chính của tuyên bố này chỉ nhằm kiềm chế xu hướng các nước châu Phi đặt
quan hệ ngoại giao với Bắc Hàn. Bắt đầu mở rộng quan hệ đối ngoại thông
qua tăng cường các mối quan hệ với các đồng minh truyền thống và xây dựng
quan hệ hợp tác với các nước trong Thế giới thứ ba. Kể từ những năm 1970,
hoạt động ngoại giao của Hàn Quốc tập trung vào việc tăng cường độc lập và
thống nhất trong hoà bình trên bán đảo Triều Tiên, Hàn Quốc cũng củng cố

hội chủ nghĩa trước đây - những quan hệ này đó bị suy yếu do những khỏc
biệt về tư tưởng và cơ cấu. Hàn Quốc lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với
Liên Xô (30-09-1990), với Trung Quốc (24-08-1992) và một số nước xã hội
chủ nghĩa khác, để từng bước tạo lập mối quan hệ mới với Bắc Hàn nhằm tìm
kiếm một con đường thống nhất trong hoà bình được bỡnh thường hoá theo
một trỡnh tự ngắn hơn, và do đó làm cho quan hệ đối ngoại của Hàn Quốc
thực sự mang tính toàn cầu. Hàn Quốc đã thu được nhiều thành công với
chính sách này, từ chỗ phụ thuộc nhiều về kinh tế vào Mỹ và Nhật Bản
chuyển sang quan hệ đa phương với các nước có chế độ chính trị khác nhau.
Điều đó tạo điều kiện để Hàn Quốc gia nhập Liên hợp Quốc (UN) và tăng
cường vị thế của Hàn Quốc trên trường quốc tế, chính trong bối cảnh này,
Hàn Quốc đã thúc đẩy quá trình thiết lập quan hệ chính thức với Việt Nam.
Tháng 9-1991, Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đồng thời gia nhập UN, sự
kiện này thể hiện sự thành công của chính sách ngoại giao với Phương Bắc.

(1)
Khái niệm “Chính sách phương Bắc “ được Bộ trưởng Ngoại vụ Lee Bum Suk sử dụng đầu tiên tại buổi
nói chuyên ở trường sau đại học Quốc phòng vào tháng6/ 1984 nhân kỷ niệm 10 năm tuyên bố 23/6. “Chính
sách phương Bắcđược ví như “Chính sách phương Đông” của Chính phủ Blandt Tây Đức vào đầu thập niên 20

Ngoài ra, nền tảng cho sự cùng tồn tại hoà bình giữa hai miền Triều Tiên đó
được đặt ra vào tháng 12-1991 khi cả hai bờn ký Hiệp định hoà giải, không
xâm lược, trao đổi hợp tác (Hiệp định cơ bản Nam - Bắc) và Tuyên bố chung
về Bán đảo Triều Tiên không có vũ khí hạt nhân. Những văn kiện lịch sử này
là nền tảng cho nền hoà bỡnh trờn bỏn đảo và khu vực Đông Bắc Á (ĐBA),
thể hiện bước đầu tiên quan trọng tiến tới hoà bình thống nhất trên bán đảo
Triều Tiên.

Hàn Quốc khi trở thành thành viên của UN đã tham gia tích cực và
đóng góp vào hoạt động ngoại giao đa phương tương xứng với vị thế được
nâng cao trong cộng đồng quốc tế. Thỏng 9-2001, Tiến sỹ Han Seung-soo,
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại lúc bấy giờ, đó được bầu làm chủ
tịch dưới hỡnh thức biểu quyết trong phiờn họp thứ 56 của Đại hội đồng.
Hàn Quốc đó tích cực tham gia vào các vấn đề lớn do tổ chức thế giới
đảm nhận, chẳng hạn như các sứ mệnh ngăn chặn xung đột và gìn giữ hoà
bình, các cuộc hội đàm về giải trừ quân bị, bảo vệ môi trường, các dự án phát
triển và bảo vệ nhân quyền. Đặc biệt, cương vị thành viên không thường trực
trong Hội đồng Bảo an giai đoạn 1996-1997 đó mang lại những kinh nghiệm
vụ giỏ giỳp Hàn Quốc quảng bỏ hỡnh ảnh ngoại giao của mình. Trong nhiệm
kỳ công tác, Hàn Quốc đó cú những đóng góp mang tính xây dựng trong
những cuộc thảo luận giải quyết các xung đột lớn của khu vực bằng cách nêu
bật vấn đề “tị nạn chính trị”. Là một nước thành viên yêu chuộng hoà bỡnh
của UN, Hàn Quốc đó cam kết với cụng tác duy trì hoà bình và an ninh quốc
tế, và do đó đó tích cực tham gia vào cỏc hoạt động gìn giữ hoà bình của UN .
“Hàn Quốc bắt đầu hỗ trợ cho các nước đang phát triển từ những năm
1960 khi tiến hành mời một số ít thực tập sinh tới Hàn Quốc và cử một số
chuyên gia ra nước ngoài. Sau năm 1975, khi nền kinh tế đến một trỡnh độ cao
hơn, Hàn Quốc bắt đầu tăng viện trợ dưới một loạt các hỡnh thức: trao tặng
mỏy múc và nguyờn vật liệu, giỳp đỡ xây dựng công nghệ, cho Quỹ Hợp tác
Phát triển Kinh tế (EDCF) vay vốn và giúp đỡ về nhân sự trực tiếp, đặc biệt
thông qua Chương trỡnh thanh niờn tình nguyện. Hàn Quốc cung cấp viện trợ
cho các nước đang phát triển thông qua các tổ chức đa phương ví dụ như IMF,
IBRD, ADB và gần một chục các tổ chức tài chính quốc tế khác” [ 12, tr 67, 68
] 22



23

Ngày 25/2/2008 tronng diễn văn nhậm chức Tổng thống Li Miêng Pắc
nhấn mạnh: “sẽ thực hiện chính sách ngoại giao thực dụng, tăng cường quan
hệ đồng minh với Mỹ, phát triển quan hệ với Nhật Bản, Trung Quốc, Nga và
giữ vững lập trường cứng rắn hơn trong vấn đề Triều Tiên” [2, tr4]. Từ nội
dung chính sách đối ngoại trên đây có thể thấy, với tư cách một nước NIC, có
lợi ích chiến lược ở hầu khắp các nước ở khu vực, Hàn Quốc đã và đang cố
gắng khôi phục vị thế, vai trò, ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế, xác
lập định hướng chiến lược trong quan hệ với tất cả các đối tác chủ chốt.
1.1.2.2. Một số nội dung cơ bản trong chính sách đối ngoại của Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay
Đổi mới chính sách đối ngoại là một bộ phận cơ bản trong đường lối
đổi mới của Việt Nam. Nó đã góp phần rất quan trọng vào việc ổn định và
phát triển của Việt Nam trong thời gian vừa qua. Trước tình hình biến đổi trên
thế giới và những đòi hỏi bức xúc về kinh tế, chính trị, an ninh, văn hoá xã
hội trong nước, Việt Nam phải đổi mới chính sách đối ngoại của mình.
Quan điểm cơ bản trong chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam
được thông qua tại Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đó được khẳng
định lại tại Đại hội X là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn
sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hoà bình, độc lập và phát triển” [ 18, tr 119] . Quán triệt sâu sắc quan điểm
này trước hết là cơ sở để bảo vệ lợi ích của dân tộc trong quá trình hội nhập
quốc tế, đó là độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia và định hướng XHCN. Mặt
khác, Việt Nam có thể tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại, tranh thủ được điều
kiện quốc tế và nguồn ngoại lực phục vụ cho xây dựng, phát triển kinh tế, bảo
vệ Tổ quốc. Việc khẳng định thực hiện nhất quán chính sách đối ngoại rộng mở
góp phần củng cố hơn nữa lòng tin cho các đối tác nước ngoài khi thiết lập

hoạt động đối ngoại là giữ vững nguyên tắc vì độc lập thống nhất và chủ nghĩa
xã hội. Đồng thời, phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt trong xử lý các tình
huống phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, với vị trí cũng như diễn biến của tình
hình thế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm của từng đối tác cụ thể. Trong

Trích đoạn Bối cảnh khu vực châu Á Thái Bình Dương Công cuộc cải các hở Hàn Quốc Lịch sử mối quan hệ Việt Nam Hàn Quốc Đối thoại và hợp tác chính trị song phương Tài liệu tiếng Hàn Quốc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status