1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ THÙY NGUYÊN MỞ RỘNG LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ ĐỊA CHÍNH TRỊ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế Hà Nội-2012
2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
đến hoạt động nghiên cứu khoa học. Không có sự dìu dắt của thầy, tôi có lẽ đã
không bắt đầu nghiên cứu về vấn đề mở rộng EU dưới góc nhìn địa chính trị.
Tôi cảm ơn tất cả bạn bè, người thân đã động viên, giúp đỡ, góp ý và giúp tôi
hoàn thiện luận văn, dịch một số tài liệu tiếng Anh, kiểm tra và soát lỗi
Ngoài ra, trong suốt quá trình học chương trình đào tạo thạc sỹ, tôi
đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi của các cán bộ đào tạo và giảng
dạy của khoa Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và trân trọng nhất đối với tất cả
những sự giúp đỡ và quan tâm này.
4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài: “Mở rộng Liên minh châu Âu (EU)
nhìn từ góc độ địa chính trị” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Luận văn có sự kế thừa, tham khảo các công trình nghiên cứu của những
người đi trước và có sự bổ sung những tư liệu, kết quả nghiên cứu mới. Các số liệu,
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, được sử dụng trung thực.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thùy Nguyên
3.3 Tác động đến vị thế địa chính trị của Nga ……………………… ……………… 85
3.4 Tác động đến quan hệ EU - ASEAN và EU - Việt Nam……….…………… ……89
3.4.1 Tác động đến quan hệ EU – ASEAN…………………….… ……………………89
3.4.2 Tác động đến quan hệ EU - Việt Nam… …… ………… ………………….77
KẾT LUẬN 99
6
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 1: Bản đồ địa lý tự nhiên Châu Âu 115
PHỤ LỤC 2: Thuyết Vùng đất trái tim của H.Mackinder 115
PHỤ LỤC 3: Bản đồ các nước tiền thân của EU 115
PHỤ LỤC 4: Bản đồ và các chỉ số của EU27 119
PHỤ LỤC 5: Chính sách láng giềng EU (ENP) và triển vọng mở rộng EU trong tương
lai…………………………………………………………… ………………… 119
PHỤ LỤC 6: NATO và chính sách mở rộng sang phía Đông 120
PHỤ LỤC 7: Bản đồ các nước trong khối Eurozon và Non-Eurozon 120
PHỤ LỤC 8: Biên niên các sự kiện của EU 118 7
Chính sách láng giềng châu Âu
EU European Union
Liên minh châu Âu
GDP Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
IMF International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
8
NAFTA North American Free Trade Association
Hiệp hội Thương mại Tự do Bắc Mỹ
NATO North Atlantic Treaty Organisation
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
OEEC Organisation for European Economic Cooperation
Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu
QHQT Quan hệ quốc tế
SEE South East European Countries
Các quốc gia Đông Nam Âu
WEU Western European Union
Liên minh Tây Âu
TBCN Tư bản chủ nghĩa
Tiến trình nhất thể hóa và mở rộng EU thể hiện xu thế tất yếu của thời đại, khi
mà chủ nghĩa khu vực trong quan hệ quốc tế và toàn cầu hoá trở thành một chủ đề
nghiên cứu thu hút sự quan tâm không chỉ của các học giả mà còn của các nhà
hoạch định chính sách. EU lại là một tổ chức khu vực điển hình thành công trên
nhiều mặt mà các khu vực khác trên thế giới cần học hỏi. Việt Nam, không nằm
ngoài xu thế chung của thời đại, cũng đang lần lượt gia nhập các tổ chức quốc tế và
khu vực trong đó phải kể đến ASEAN - một tổ chức của những quốc gia gần gũi về
mặt địa lý và cùng chia sẻ nhiều giá trị chung. Nghiên cứu EU và sự mở rộng EU là
một trong những yêu cầu bức thiết của chúng ta trong việc học tập mô hình hội
nhập khu vực và hoạch định chính sách đối ngoại. Với mong muốn được nghiên
cứu mảng đề tài còn mới mẻ này và hy vọng được góp một phần nhỏ cho quá trình
nhận thức cũng như hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam hiện nay, tôi đã
lựa chọn đề tài “Mở rộng Liên minh châu Âu nhìn từ góc độ địa chính trị” cho luận
văn tốt nghiệp của mình.
10
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
EU hiện nay là chủ thể có tác động rất lớn tới cục diện thế giới cũng như có tầm
ảnh hưởng không nhỏ đối với nhiều quốc gia và khu vực. Dưới tác động của quá
trình toàn cầu hóa, hội nhập xuyên quốc gia, các mối quan tâm về an ninh quốc tế,
ĐCT của biên giới châu Âu và khu vực biên giới đã trở thành chủ đề thu hút nhiều
sự quan tâm. Và quá trình mở rộng biên giới của EU trở thành trung tâm của các
cuộc thảo luận gần đây với các khía cạnh: bản chất thay đổi của EU, các ý nghĩa của
việc mở rộng EU xét về góc độ ĐCT và tương lai hiến pháp EU cho một liên minh
thống nhất hơn.
Trên thế giới:
Từ những năm đầu thế kỷ XXI, chủ đề về mở rộng EU đã thu hút được nhiều sự
quan tâm của các học giả và các nhà nghiên cứu chính sách ở nhiều nước. Hầu hết
các tác phẩm về chủ đề mở rộng EU nhìn từ góc độ ĐCT là các bài bình luận ngắn
hoặc trung bình mang tính thời sự trên các báo, tạp chí và tài liệu nghiên cứu
thanh lịch, tránh lý thuyết quá phức tạp nhưng đã chứng minh được bản chất phát
triển của EU sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin và sự thất bại của Hiến pháp châu
Âu. Nội dung chính của nó tập trung vào phân tích đánh giá việc mở rộng EU lần
thứ 5 đã là biến đổi sâu sắc EU. Tác giả so sánh và đưa ra nhiều điểm tương đồng
giữa quá trình hội nhập châu Âu và quá trình xây dựng nhà nước, EU không có gì
giống như một trạng thái siêu quốc gia Westphalia mà đang nổi lên giống như một
loại chủ nghĩa đế quốc thời Trung cổ với một hệ thống đa trung tâm, chính phủ và
khu vực pháp lý chồng chéo, gây ấn tượng không đồng nhất văn hóa và kinh tế, biên
giới bị mờ dần, và chủ quyền bị chia sẻ. Cuốn sách này cố gắng giải thích rõ ràng
nguồn gốc, hình dạng, và ảnh hưởng của “đế chế EU” với mục đích của cuốn sách
này là để đề nghị một cách tư duy mới về EU và quá trình hội nhập châu Âu. Cuốn
sách cũng đề xuất một hệ thống quản lý kinh tế và dân chủ đáp ứng những thách
thức to lớn hơn nữa của hiện đại hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau trong xu thế toàn cầu
hóa. Nó xác định kịch bản đáng tin cậy nhất của việc thúc đẩy thay đổi hòa bình ở
châu Âu và xa hơn nữa. Tác giả cho rằng suy nghĩ về hội nhập châu Âu là dựa trên
giả định sai lầm và cho thấy cách hiệu quả hơn và hợp pháp hơn trong việc quản lý
châu Âu là thông qua một Hiến pháp châu Âu, tạo ra một đội quân châu Âu, hoặc
12
giới thiệu của một mô hình xã hội châu Âu. Có thể nói, cuốn sách là một công trình
nghiên cứu lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực từ chính trị, và kinh tế đối ngoại và an
ninh. Nó phân tích sự phát triển ở cả Đông và Tây Âu.
- “The foreign policy of the European Union: assessing Europe's role in
the world” (Chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu (EU): đánh giá vai
trò của châu Âu trên thế giới), Tác giả Federiga M.Bind, xuất bản năm 2010, Nhà
xuất bản Brookings Institution Press. Ngoải việc đưa ra những vai trò quan trọng
của EU trong các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, môi trường và đặc biệt là ngoại
giao và an ninh quốc tế. Cuốn sách đặc biệt tập trung nghiên cứu về chính sách đối
ngoại của EU: mục tiêu, cách thức triển khai và những đặc điểm chính của chính
sách đối ngoại EU trên cả chiều sâu và chiều rộng. Cuốn sách còn phân tích chính
tác giả là Chủ tịch Ủy ban châu Âu Romano Prodi, “New Geopolitics of Central
and Eastern Europe: Between European Union and United State, Warsaw”
(ĐCT mới của Trung và Đông Âu: từ Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ, Warsaw), xuất
bản năm 2005, ấn phẩm của Quỹ Stefan Batory, “Minority Protection and the
Enlarged European Union: The Way Forward” (Bảo vệ dân tộc thiểu số và Liên
minh châu Âu mở rộng: Con đường phía trước), do Gabriel N. Toggenburg biên
soạn, EURAC, Viện Xã hội mở, xuất bản năm 2004; v.v
- Một số ấn phẩm tiêu biểu của các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học,
cơ quan trực thuộc chính phủ, phi chính phủ có thể kể đến như: “Europeanization
beyond the EU? The case of Ukrainian energy security policy” (Quá trình châu
Âu hóa ngoài EU? Trường hợp của Chính sách an ninh năng lượng Ucraina) của
Đại học Wroclaw, Ba Lan, tháng 5/ 2007, tác giả Michal Natorski; Ferenc
Miszlivetz (2002), “The birthday of a new sovereign” (Sự ra đời của một chủ
quyền mới) của Viện Khoa học Xã hội và châu Âu (ISES), Szombathely; Các bài
viết trong Tạp chí So sánh chính trị (Comparative Politics), xuất bản tháng 07/2008
như “A too Perfect Union? Why Europe said “No” (Một Liên minh quá hoàn hảo?
Tại sao châu Âu nói “Không”?) tác giả Andrew Moravcsik, John O’Loughlin,
“Geopolitical Visions of Central Europe” (Triển vọng ĐCT ở Trung Âu) của
Viện Khoa học Hành vi, Đại học Colorado Campus; “Challenges of the Eastern
14
Enlargement of the European Union” (Thách thức của việc mở rộng Liên minh
châu Âu về phía Đông) tác giả Adina Popovic; v.v
- Ngoài ra, một số tác phẩm về ĐCT trong đó cung cấp ít nhiều nội dung về
việc mở rộng EU nói riêng và hội nhập khu vực nói chung nhìn từ góc độ ĐCT như
“Geoplitical changes in the Western regions” (Những thay đổi ĐCT ở khu vực
phía Tây) tác giả Zang Xiaodong, đăng trên tạp chí ĐCT Heartland-Eurasian (Lime);
“The Geographical Pivot of History” (Trục ĐCT của lịch sử), tác giả Halford
John Mackinder, công bố năm 1904 tại Anh; “Liên minh châu Âu và chủ nghĩa
khu vực mới, các chủ thể khu vực và quản trị toàn cầu trong thời hậu bá
ninh, đối tác vì hoà bình trong đó nêu lên những quan điểm của Hoa Kỳ về tương
lai của NATO
- “Mở rộng EU và các tác động đối với Việt Nam”: công trình song ngữ,
được thực hiện bởi Chương trình nghiên cứu Châu Âu tại Việt Nam do GS.TS Bùi
Huy Khoát - Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu châu Âu biên soạn. Ấn phẩm tập
trung nghiên cứu về vấn đề EU mở rộng đi kèm những thuận lợi và thách thức về
kinh tế, an ninh, chính trị sau khi EU mở rộng; đồng thời cũng phân tích, dự báo
những tác động của việc mở rộng này đối với Việt Nam.
- “Mở rộng NATO nhìn từ góc độ địa chính trị” - một công trình nghiên
cứu mới đây (2008), cũng khá gần gũi với đề tài này, là luận văn thạc sỹ của Hà Hải
Bình. Công trình tập trung vào quá trình mở rộng NATO sau Chiến tranh Lạnh và
những tác động ĐCT đối với nước Nga và các chủ thể khác. Công trình nghiên cứu
cũng đưa ra những dự báo về quá trình tồn tại và phát triển của NATO trong tương
lai gần. Nhưng trên hết, công trình cung cấp cho luận văn những tư liệu quý báu về
khái niệm ĐCT và lịch sử nghiên cứu ĐCT trên thế giới nói chung và ở Việt Nam
nói riêng, là cơ sở lý luận cho tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài.
- “Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia”: Cuốn
sách được coi là công trình về địa chính trị mới nhất của Việt Nam tính cho đến thời
điểm hiện tại, của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân, mới được xuất bản năm 2011.
Tác giả cuốn sách đã trình bày một số xu hướng lý thuyết ĐCT trên thế giới và quan
16
điểm ĐCT trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia của một số nước và
khu vực chủ chốt trên thế giới trong đó có EU, từ đó đề xuất một số kinh nghiệm
gợi mở cho Việt Nam.
- Điểm chung của các công trình và bài viết nghiên cứu về EU ở Việt Nam là
tập trung tìm hiểu về mô hình phát triển của EU và tiến trình mở rộng của EU cùng
với những tác động của nó đến QHQT nhưng xét trên khía cạnh kinh tế học, văn
hóa học và xã hội học. Ngoài cuốn sách Địa chính trị trong chiến lược và chính
sách phát triển quốc gia của Nguyễn Văn Dân có phân tích và đánh giá qua về
điểm của bộ môn khoa học này về vấn đề liên kết khu vực.
(2) Phân tích động lực ĐCT của sự hình thành EU và của những lần mở rộng EU
từ khi thành lập cho đến nay. Dự báo về triển vọng mở rộng của EU trong
tương lai.
(3) Đánh giá tác động ĐCT của các chính sách mở rộng EU đối với tiến trình
nhất thể hóa EU, tổ chức NATO, các nước lớn, các tổ chức quốc tế, các khu
vực trên thế giới .
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Do việc xác định mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu như trên, đối tượng nghiên
cứu của luận văn là chính sách mở rộng của EU, tiến trình mở rộng EU qua các thời
kỳ lịch sử và tác động ĐCT của việc mở rộng EU đối với các quốc gia thành viên,
nước Nga, Mỹ, các cường quốc trên thế giới và các khu vực trên thế giới.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết được những nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, luận văn được vận
dụng những phương pháp nghiên cứu QHQT, đặc biệt là phương pháp liên ngành
của khu vực học trong đó bao gồm phương pháp ĐCT và địa lý chính trị; phương
pháp phân tích định lượng, định tính, phương pháp lịch sử, so sánh, tổng hợp - đánh
giá… Trong quá trình phân tích, luận văn sẽ cố gắng xem xét các vấn đề từ góc độ
của phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Các quan điểm của cách tiếp
cận hệ thống - cấu trúc cũng được vận dụng triệt để.
18
6. Cấu trúc nội dung luận văn
Luận văn gồm: Lời cảm ơn, Lời cam đoan, Mục lục, Mở đầu, Phần Nội dung
gồm có 3 chương, Phần kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo.
Cấu trúc chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cách lý giải về hội nhập khu vực Châu Âu trong các lý thuyết
quan hệ quốc tế. Lý thuyết địa chính trị về hội nhập Châu Âu
Chương này sẽ điểm qua những lý thuyết chủ yếu về hội nhập khu vực, nhấn
những điểm nổi bật trong lý thuyết và phương pháp nghiên cứu ĐCT trong quan hệ
quan của riêng mình (xuất phát từ kinh nghiệm bản thân, tính cách cá nhân và
hướng tư duy, tiếp cận vấn đề, ) khi phân tích, đánh giá và cố gắng đưa ra dự báo
hợp lý từ các sự kiện. Vì vậy, luận văn có thể có những thiếu sót hay sự thiếu chiều
sâu và những ý kiến gây tranh cãi cần nhận được sự phê bình, đóng góp để sửa chữa
và hoàn thiện. Người viết kính mong nhận được sự đóng góp, phản biện của các
thầy cô, các chuyên gia cùng trong lĩnh vực và tất cả những bạn đọc quan tâm đến
đề tài.
20
CHƯƠNG 1: CÁCH LÝ GIẢI VỀ HỘI NHẬP KHU VỰC CHÂU ÂU TRONG
CÁC LÝ THUYẾT QUAN HỆ QUỐC TẾ. LÝ THUYẾT ĐỊA CHÍNH TRỊ VỀ
HỘI NHẬP CHÂU ÂU
1.1 Cách lý giải về hội nhập khu vực Châu Âu trong các lý thuyết quan
hệ quốc tế
Trong lịch sử hình thành và hội nhập EU, có rất nhiều học giả trong nhiều
lĩnh vực khác nhau trên thế giới cố gắng tìm ra lý thuyết giải thích và từ đó định
hướng cho sự hội nhập của Liên minh này trong tương lai. Có thể kể đến cả chục lý
thuyết như thuyết hiện thực mới, thuyết chức năng mới, thuyết tự do mới, thuyết
liên chính phủ, thuyết liên bang, thuyết chủ nghĩa khu vực mới, thuyết thể chế (chủ
nghĩa thiết chế hay chủ nghĩa kiến tạo)
là giữa các chủ thể nhà nước, được xúc tiến khi các bên nhận thức được mối đe dọa
chung, hoặc để đối phó với những mối đe dọa mới xuất hiện như sự đình trệ kinh tế
hay tình hình bất ổn định, gọi chung là những vấn đề “xuyên biên giới" mà bất cứ
quốc gia nào, dù mạnh đến đâu cũng không thể một mình xử lý được.
Luận điểm của chủ nghĩa tự do về kinh tế thị trường và tự do thương mại, về sự
hội nhập và phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế-chính trị giữa các chủ thể trong hệ thống
quốc tế có ảnh hưởng tới luận điểm cơ bản của trường phái chức năng mới ở chỗ
cho rằng hội nhập kinh tế sẽ tạo ra sức ép dẫn tới hội nhập chính trị, và hội nhập
chính trị tới lượt nó sẽ thúc đẩy nhanh hơn nữa hội nhập kinh tế. Quan điểm của
những người theo chủ nghĩa tự do cho rằng "các cơ chế quốc tế và sự quản lý toàn
cầu ở một mức độ nào đó là cần thiết để đàm phán và thực thi các hiệp định toàn
cầu", nhằm tới mục tiêu cuối cùng là tạo ra một sự hội nhập khu vực, xây dựng một
thể chế siêu quốc gia theo mô hình liên bang (hoặc khu vực). Những ý tưởng của
chủ nghĩa tự do mới đã được phản ánh rõ nét qua các cuộc đàm phán thương mại để
thành lập GATT cũng như một loạt các hiệp định mậu dịch tự do khu vực (Free
Trade Agreement-FTA) giữa các nước thành viên của liên minh châu Âu-EU và
Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ- NAFTA sau này.
- Thuyết chức năng mới: Đầu thập kỷ 50 thế kỷ XX, tiến trình hội nhập châu
Âu đã khởi động trước hết với việc cải thiện quan hệ Pháp-Đức thông qua ý tưởng
Cộng đồng than thép châu Âu (ECSC) năm 1952, và tiếp đến là Cộng đồng Kinh tế
châu Âu (EEC) và Cộng đồng Nguyên tử châu Âu (Euratom). Sự ra đời của những
chính sách hội nhập châu Âu mang tính siêu quốc gia như "kế hoạch Schuman" hay
"phương pháp Monnet" góp phần khẳng định vị trí tiên phong trong lý luận chủ
22
nghĩa khu vực của những người theo trường phái chức năng mới (neo-functionalism)
trong thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX như Earst Haas (1958, 1964), Leon
Lindberg (1966) [104].
Thuyết này dựa chủ yếu vào các nghiên cứu tập trung đối với các vụ việc thực
tế cụ thể. Haas, Nye và Lindberg được xem là cha đẻ của cách tiếp cận này. Hass
23
- Thuyết liên chính phủ: Năm 1968, Haas đã thừa nhận học thuyết chủ nghĩa
chức năng mới không còn phù hợp với thực tiễn mới, chính thức nhường lại vị trí
thống soái về tư tưởng và lý luận chủ nghĩa khu vực của trường phái này cho những
người thuộc trường phái chủ nghĩa liên chính phủ (intergovernmentalism) đứng đầu
là Stanley Hoffmann. Hoffmann đã phê phán quan điểm của chủ nghĩa chức năng
mới, cho rằng trường phái này đã mắc phải những sai lầm về mặt lý luận vì: (i) tiến
trình hội nhập không phải là quá trình khép kín, mà còn chịu tác động của môi
trường quốc tế; (ii) nhà nước quốc gia là nhân tố có quyền lực mạnh nhất trong tiến
trình hội nhập châu Âu, quyết định bản chất và tiến độ hội nhập trên cơ sở mối quan
tâm nhằm bảo vệ và phát huy "lợi ích quốc gia" của mình; (iii) hội nhập ở những
lĩnh vực chính trị cấp thấp không chắc sẽ đưa tới sự liên kết ở những lĩnh vực chính
trị cấp cao.
Theo Hoffmann, tiến trình hội nhập châu Âu là quá trình chính phủ các quốc
gia tự nguyện tham gia các hiệp định nhằm phối hợp giải quyết các vấn đề chung.
Quyền lực vẫn thuộc về chính phủ các quốc gia thành viên và các quyết định được
đưa ra trên cơ sở nhất trí, chủ yếu là sự đồng thuận giữa các cường quốc. Nói cách
khác, tiến trình hội nhập chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của các chính phủ thành viên,
mang tính chất liên chính phủ nhiều hơn là tính chất siêu quốc gia, và "tiến trình hội
nhập chỉ tiến triển trong phạm vi mà chính phủ các quốc gia mong muốn mà thôi"
[103].
Vào đầu những năm 1990, với những nghiên cứu của Andrew Moravcsik -
những người theo trường phái chủ nghĩa liên chính phủ củng cố thêm một bước
quan trọng học thuyết của mình về mặt lý luận để đáp ứng với tình hình mới. Cũng
giống như Hoffmann, Moravcsik khẳng định quốc gia vẫn là nhân tố lý tính quyết
định trong tiến trình hội nhập châu Âu. Tuy nhiên, học thuyết chủ nghĩa liên chính
phủ tự do mới (neo-liberal intergovernmentalism) của Moravcsik có sự kết hợp với
cách tiếp cận của những người theo chủ nghĩa chức năng mới.
Trong phân tích và lý giải tiến trình hội nhập châu Âu, Moravcsik đưa ra
- Thuyết liên bang (Federalism): Ảnh hưởng của tư tưởng liên bang đối với
quá trình hội nhập châu Âu rất khó đánh giá. Mặc dù các nhóm theo chủ nghĩa liên
bang hoạt động khá tích cực nhưng những quyết định quan trọng thúc đẩy hội nhập
châu Âu giai đoạn đầu sau chiến tranh thế giới thứ 2 không phản ánh rõ ràng sự ảnh
25
hưởng của họ. Tuy vậy, có thể thấy sự phát triển của EU luôn có dấu hiệu ảnh
hưởng của chủ nghĩa liên bang. Những người theo chủ nghĩa liên bang hiện nay có
xu hướng hiện thực hơn và đang chuẩn bị cho việc xây dựng một liên bang theo
cách tiếp cận từng bước chứ không phải làm cách mạng một lần (tiêu biểu cho cách
tiếp cận này là Jean Monet).
Mục tiêu xây dựng EU trở thành một liên bang đầu đủ theo nghĩa của nó với
chính phủ và nghị viện riêng, được đề xuất bởi Ngoại trưởng Đức Joska Fischer
trong bài phát biểu của ông tại Berlin tháng 5 năm 2000. Mặc dù Fischer nói rằng
đây là ý kiến của riêng cá nhân ông nhưng có thể qua đó thấy rõ ước mơ liên bang
vẫn rất mạnh mẽ trong lục địa châu Âu, đặc biệt là trong giới lãnh đạo - những
người có quyền lực rất lớn trong việc thúc đẩy và làm cho giấc mơ “liên bang” của
EU trở thành hiện thực. Điều này được thể hiện bởi một loạt các dự thảo hiệp ước
của EU sau này như Hiệp ước thiết lập Hiến pháp châu Âu năm 2004, Hiệp ước cải
cách hiến pháp (Hiệp ước Lisbon).
- Chủ nghĩa khu vực mới: Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 thế kỷ XX,
những nghiên cứu về chủ nghĩa khu vực trở thành đề tài được dư luận đặc biệt quan
tâm với những lý luận mới được gọi chung là "chủ nghĩa khu vực mới". "Chủ nghĩa
khu vực mới" (new regionalism) là sự kế tiếp và phát triển mới về lý luận của chủ
nghĩa khu vực cũ, trên cơ sở chắt lọc những tư tưởng của những lý luận về hội nhập
khu vực châu Âu. "Chủ nghĩa khu vực mới" có sức khái quát lớn hơn, mang tính
học thuật và lý luận chặt chẽ hơn, đồng thời lý thuyết cũng mang tính chuẩn mực
hơn những lý luận về hội nhập khu vực cổ điển.
Lý thuyết “chủ nghĩa khu vực mới” hay cách tiếp cận “chủ nghĩa khu vực
mới” đã thành công nhất định trong việc khái quát hóa (i) khái niệm về khu vực và