Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài:
Giải pháp vượt rào cản đối với hàng thủy sản
Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Liên
minh Châu Âu (EU)
Họ và tên sinh viên : Phạm Phương Thảo
Mã Sinh Viên : CQ 528672
Chuyên ngành : Kinh tế Quốc tế
Lớp : Kinh tế Quốc tế 52E
Hệ : Chính quy
Thời gian thực tập : Đợt I năm 2014
Giáo viên hướng dẫn : GV. Nguyễn Anh Minh
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên: Phạm Phương Thảo Lớp: Kinh tế quốc tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
LỜI CAM ĐOAN
Tên em là Phạm Phương Thảo, sinh viên lớp Kinh tế quốc tế 52E, Viện
Thương mại và Kinh tế quốc tế, trường đại học Kinh tế Quốc dân.
Em xin cam đoan đề tài “Giải pháp vượt rào cản đối với hàng thủy sản
Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Liên minh Châu Âu (EU)” là hoàn toàn
được thực hiện với sự tìm tòi, nghiên cứu tổng hợp và phân tích dựa trên các tài
liệu tìm kiếm và thu thập tại Viện Kinh tế và Chính trị thế giới của cá nhân em.
Nếu có gì sai, em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Sinh viên
Phạm Phương Thảo
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
DANH MỤC BẢNG
Sinh viên: Phạm Phương Thảo Lớp: Kinh tế quốc tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã tích cực chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế, tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới và ký kết các hiệp định thương
mại song phương với các đối tác thương mại lớn, trong đó có EU. Hiệp định
khung Việt Nam – EU được ký kết năm 1995 đã mở ra một cánh cửa mới trong
hợp tác kinh tế, đặc biệt là hoạt động thương mại quốc tế giữa Việt Nam và EU.
Thủy sản là ngành xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, đã có những bước phát
triển rất tốt trong những năm gần đây, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân, sản xuất tăng trưởng nhanh, kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia
tăng với nhịp độ cao và được coi là một ngành công nghiệp mũi nhọn của nền
kinh tế.
EU là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn. Xuất khẩu thủy sản Việt Nam
sang thị trường EU đạt được những kết quả tích cực. Việt Nam đã trở thành một
trong những nhà cung cấp các mặt hàng thủy sản chất lượng đáp ứng thị hiếu tiêu
dùng của thị trường EU
Tuy nhiên, hiện vẫn còn rất nhiều rào cản ,đặc biệt là các rào cản phi thuê
quan gây trở ngại cho việc tăng cường, mở rộng xuất khẩu của Việt Nam vào thị
trường này.
Các rào cản thương mại hiện nay thực sự là một vấn đề toàn cầu. Mối
quan hệ giữa chính sách của một nước nhập khẩu và quyền lợi của các nhà sản
xuất trong nước có thể chứa đựng những yếu tố phức tạp và mâu thuẫn. Các nước
phát triển trong đó có EU thường đặt ra các tiêu chuẩn trong thương mại có liên
quan đến thực trạng kinh tế, chính trị của họ. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các
rào cản thương mại truyền thống trong thương mại quốc tế đã bị dỡ bỏ bởi các
hiệp định thương mại song phương và các thỏa ước quốc tế. EU hiện nay đang
đến năm 2020.
4.Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được
chia thành 3 chương:
- Chương 1: Các rào cản đối với hàng thủy sản nhập khẩu vào thị trường
EU
- Chương 2: Thực trạng vượt rào cản đối với hàng thủy sản Việt Nam
xuất khẩu sang thị trường EU giai đoạn 2003 - 2013
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp vượt rào cản đối với hàng thủy
sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU đến năm 2020
Sinh viên: Phạm Phương Thảo
Lớp: Kinh tế quốc tế
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
CHƯƠNG 1: CÁC RÀO CẢN ĐỔI VỚI HÀNG THỦY
SẢN NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG EU
1.1. Giới thiệu thị trường thủy sản EU
1.1.1. Nhu cầu đối với hàng thủy sản trên thị trường EU
Hiện nay EU là thị trường rộng lớn, gồm 27 quốc gia. Thị trường EU tổng
hợp nhiều đặc điểm tiêu dùng của mỗi quốc gia làm cho nhu cầu tiêu dùng hết
sức phong phú mang đặc điểm của từng vùng lãnh thổ.
1.1.1.1. Quy mô tiêu dùng hàng thủy sản của EU
EU là khu vực chủ yếu nhập khẩu ròng thủy hải sản do sản lượng sản xuất
không đáp ứng đủ nhu cầu. Tiêu thụ thủy hải sản bình quân đầu người ở EU rất
cao, đứng thứ hai thế giới sau Nhật Bản. Tổng mức tiêu thụ ở thị trường EU mỗi
năm vào khoảng 10 triệu tấn, bằng 12% tổng mức tiêu thụ của thế giới. Tây Ban
Nha, Pháp, Italia là những thị trường tiêu thụ hải sản lớn nhất ở châu Âu.
Tiêu thụ thuỷ sản theo đầu người của EU-15 rất cao với 26,3 kg/người năm
2002, cao hơn 10 kg so với mức trung bình của thế giới (16,3 kg/người) và
cao hơn mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân ở Mỹ (21,3 kg /người), Song tiêu thụ
và đặc biệt là mực ống cũng được người tiêu dùng ưa chuộng. Ở Italia, phần lớn
hải sản được bán dưới dạng tươi hoặc ướp lạnh, động vật thân mềm đặc biệt phổ
biến. Italia cũng là một thị trường quan trọng đối với mực phủ, hiện nay sức tiêu
thụ tôm càng và hến có mức tăng trưởng đáng kể.
Người tiêu dùng châu Âu đang chuyển hướng mạnh sang tiêu thụ tôm biển
loại nhỏ và tôm pandan nước ấm. Xu hướng này có thể nhận thấy ở hầu hết các
nước châu Âu, ngoại trừ Đức. Hiện nay một số loài cá đang được tiêu thụ rất
mạnh ở châu Âu như cá tra, cá basa của Việt Nam và cá rô Sông Nile với khối
lượng tăng lên nhanh chóng. Những loài thủy hải sản mới này được người tiêu
dùng châu Âu ưa chuộng do có mùi vị trung tính và giá thấp.
Hướng tới các sản phẩm có lợi cho sức khoẻ: Người tiêu dùng ngày càng
thích ứng với dạng sản phẩm an toàn. Họ thích các sản phẩm ít béo và có giá trị
dinh dưỡng cao. Thuỷ sản có hàm lượng prôtêin, các vitamin và chất khoáng cao
thích hợp cho nhu cầu này. Ngoài ra, các sản phẩm thuỷ sản có chất lượng
thường đóng vai trò chống lại các nguy cơ về sức khoẻ. Một trong những trường
hợp rõ nét nhất là dầu cá, được biết đến như axít béo Ômega - 3 có tác dụng tích
cực trong việc phòng tránh các bệnh tim mạch. Tuy nhiên, thuỷ sản không chỉ
hoàn toàn có lợi cho sức khoẻ. Chẳng hạn, một số cảnh báo chính thức đã được
đưa ra cho người tiêu dùng, đặc biệt là phụ nữ mang thai cần phải hạn chế một số
loài thuỷ sản như cá ngừ và cá kiếm vì hàm lượng thuỷ ngân quá cao. Bên cạnh
đó, việc sử dụng các chất kháng sinh trong nuôi tôm và cá đã dẫn đến hàm lượng
các chất này trong các sản phẩm cao, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của thuỷ sản.
Hướng tới sự thuận tiện: Trong những thập kỷ gần đây, thời gian dành cho
mua sắm và chế biến món ăn đã bị rút ngắn. Vai trò của phụ nữ trong xã hội ngày
Sinh viên: Phạm Phương Thảo
Lớp: Kinh tế quốc tế
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
càng tăng, nhiều hộ gia đình bận rộn với công việc. Vì vậy, nhu cầu về các sản
phẩm tiêu dùng và dễ chế biến sẵn cũng tăng lên. Với xu hướng này thì các sản
Sinh viên: Phạm Phương Thảo
Lớp: Kinh tế quốc tế
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
hơn. Nhóm còn lại có khả năng thanh toán thấp nên xu hướng tiêu thụ những mặt
hàng có chất lượng thấp nhất.
1.1.2. Tình hình sản xuất và nhập khẩu hàng thủy sản của EU
Vị trí địa lý và khí hậu khắc nghiệt, cộng thêm nguồn thủy sản của EU đang
nằm dưới giới hạn an toàn sinh học, buộc EU phải áp dụng biện pháp hạn chế
khai thác và đánh bắt thủy sản trong khi nhu cầu tiêu dùng thủy sản của EU vẫn
tăng nhanh. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong khối, EU buộc phải nhập
khẩu thủy sản từ các quốc gia châu Mỹ, châu Á trong đó có Việt Nam.
EU là một trong những thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế giới với
giá trị nhập khẩu thủy sản hàng năm vượt 5,52 tỷ Euro. Phần lớn sản phẩm thủy
sản được nhập khẩu từ các nước nội bộ trong khối. Tuy nhiên, để bổ sung một số
sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ (chủ yếu là các sản phẩm thủy sản nước ấm)
EU cũng nhập khẩu thủy sản từ hơn 180 quốc gia trên thế giới.
Thị trường thủy sản EU được chia làm ba khu vực chính:
Đầu tiên là thị trường Bắc Âu (bao gồm Vương quốc Anh, các nước vùng
Scandinavi và Hà Lan). Các nước Bắc Âu đều có biển, nguồn hải sản tương đối
phong phú, có nghề đánh bắt hải sản truyền thống nên có thế mạnh về xuất khẩu
hải sản (trong đó có tôm, nhất là các loại tôm nước lạnh). Nhập khẩu tôm của các
nước này chủ yếu có tính chất bổ sung chủng loại cho nhau giữa các nước trong
khu vực. Nhập khẩu từ khu vực châu Á không lớn do sức tiêu thụ của các nước
này khá thấp (do dân số ít, khách du lịch đến Bắc Âu không đông và người dân
không có tập quán ăn nhiều hải sản). Người tiêu dùng ở Bắc Âu ưa dùng các loại
cá nước lạnh như cá trích, cá thu, cá minh thái, cá tuyết, cá mình dẹt (cá thờn
bơn ) và cá hồi nước ngọt.
Thứ hai là thị trường Trung Âu (bao gồm Đức, Áo, Ba Lan, và Cộng hoà
Séc). Các nước khu vực Trung Âu ít có truyền thống ăn cá do những nước này có
lượng lớn sản phẩm thủy sản, nên công nghiệp chế biến thủy sản là một trong
những ngành công nghiệp chế biến thực phẩm lớn nhất của Đức.
Mặc dù, mức tiêu dùng sản phẩm thủy sản trên đầu người của Đức không
cao, nhưng với dân số trên 80 triệu người và không có nền sản xuất nội địa lớn,
nên Đức là thị trường nhập khẩu khá nhiều thủy sản, đứng thứ 3 ở châu Âu (sau
Tây Ban Nha và Pháp). Hằng năm, lượng tôm nhập khẩu vào Đức đáp ứng
khoảng 2/3 nhu cầu thị trường nội địa. Nhập khẩu tôm nước ấm vào Đức dưới
dạng đông lạnh (không đầu, bóc vỏ hoặc cả vỏ) và các dạng chế biến chín sẽ tiếp
tục gia tăng do ngày càng có nhiều hộ gia đình ở Đức ăn thủy sản và tôm.
Thị trường nhập khẩu thủy sản Anh: Anh có điều kiện thuận lợi trong việc
đánh bắt hải sản (chiếm tới 1/5 sản lượng hải sản của EU), nhưng Anh vẫn phải
nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước. Nhập khẩu tôm của Anh không lớn so
với cá do thói quen tiêu dùng của người Anh là thích ăn các loại cá đã qua chế
biến (như cá rán, cá viên,…), mặt hàng tôm nhập khẩu chủ yếu để phục vụ cộng
đồng người châu Á sinh sống ở Anh.
Sinh viên: Phạm Phương Thảo
Lớp: Kinh tế quốc tế
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
Thị trường nhập khẩu thủy sản Italy: là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn
thứ 5 của EU. Tổng sản lượng thủy sản của Italy chỉ vào khoảng 0,6 triệu
tấn/năm, tuy nhiên với hơn 57 triệu dân và hàng chục triệu khách du lịch, hàng
năm Italy phải nhập khẩu từ 0,9-1 triệu tấn thủy sản. Thị trường nhập khẩu thủy
sản của Italy hầu như ít biến động trong nhiều năm qua. Các mặt hàng nhập khẩu
chính của Italy là cá ngừ đóng hộp, mực đông lạnh, tôm và cá philê đông lạnh.
EU là thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ hai trên thế giới. Tuy nhiên, cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản
của các nước EU giảm 5,85% (năm 2009) tương đương với 12,2 tỉ Euro. Khối
lượng nhập khẩu giảm 0,6% tương đương với 4,045 triệu tấn sản phẩm. Tây Ban
Nha, Hà Lan, Đan Mạch, Italia và Pháp là những nhà nhập khẩu với khối lượng
năm
2013(USD)
So sánh cùng
kỳ 2012 (%)
Mã
HS
Nhóm hàng
7 tháng đầu
năm
2013(USD)
SSo sánh
cùng kỳ
2012 (%)
Tổng NK 21.117.914 -10,41
1 Nauy 3.303.173 3,99 0302 Cá tươi, nguyên con 6.023.262 24,16
2 Thụy Điển 1.557.464 11,44 0304
Cá philê và cắt miếng,
tươi, ướp đá, đông lạnh
5.577.605 2,77
3 Hà Lan 1.394.000 -14,91 0306 Giáp xác 2.827.733 -1,17
4 Đan Mạch 1.307.127 -7,30 0303
Cá nguyên con đông
lạnh
2.080.830 -2,00
5 Tây Ban Nha 1.133.906 -15,07 0307 Nhuyễn thể 2.008.946 -13,50
6 Trung Quốc 966.321 -22,25 0305
Cá khô, hun khói, bột
cá
1.825.970 6,41
7 Anh 857.012 -16,39 0301 Cá sống 192.461 -16,08
1.2.1. Rào cản thuế
Rất nhiều sản phẩm bị đánh thuế khi nhập khẩu vào EU. Mức thuế do các
cơ quan quản lý của EU ấn định và được áp dụng trên toàn EU, không kể
đó là nước nào mà sản phẩm đó được xuất khẩu vào EU. Không chỉ sản phẩm
mà cả những nguyên liệu nhất định cũng bị đánh “thuế” (“thuế hỗn hợp”), ví dụ
những sản phẩm sữa hoặc đường. Những nước có nền kinh tế kém phát triển
hơn và muốn cung cấp vào EU có thể được hưởng mức thuế quan thấp hoặc
thậm chí được miễn thuế trong những điều kiện nhất định. Với biện pháp này,
EU muốn những nước nghèo hơn tiếp cận thị trường EU và nhờ đó kích
thích tăng trưởng kinh tế. EU ấn định mức hạn ngạch thuế quan thấp (thường là
0%, 4% hay 6%) đối với thủy sản và một số sản phẩm thủy sản nhất định, khi
EU thiếu hụt những sản phẩm đó. Hệ thống này giúp tăng nguồn cung cấp
nguyên liệu thô nhằm đáp ứng nhu cầu của ngành chế biến tại EU. Dữ liệu
thuế quan hải quan online đa ngữ TARIC giới thiệu mọi biện pháp liên
quan tới thương mại, gồm mức thuế của nước thứ ba, hạn ngạch thuế quan và
ưu đãi, miễn thuế, các biện pháp chống bán phá giá, v.v tuy nhiên, cơ sở dữ liệu
này không chứa thông tin liên quan tới mức thuế trong nước như thuế giá
trị gia tăng (VAT) hay mức thuế nội địa.chứng nhận
1.2.2. Rào cản phi thuế
Rào cản phi thuế quan lớn nhất ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam
sang EU liên quan đến việc sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại của EU,
Sinh viên: Phạm Phương Thảo
Lớp: Kinh tế quốc tế
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
chủ yếu là chống bán phá giá cũng như các biện pháp kiểm dịch động thực vật
(SPS) và các rào cản kỹ thuật (TBT).Trong đó những biện pháp rào cản kỹ thuật
luôn là những thách thức đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam.
Mặc dù có thuận lợi là EU đã công nhận năng lực của NAFIQAD trong thực hiện
lấy mẫu, kiểm tra lô hàng tại cảng, cấp chứng thư, tuy nhiên các doanh nghiệp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
trồng thủy sản) với những thuật ngữ đồng nhất.
- Khu vực đánh bắt (chỉ rõ vùng khai thác strong trường hợp đánh
bắt trên biển hay chỉ dẫn tới nước xuất xứ nếu thủy sản được đánh bắt
trong vùng nước ngọt hoặc nuôi).
Thêm vào đó, những sản phẩm thủy sản nhất định phải tuân thủ
những tiêu chuẩn thị trường theo Quy định số 2406/96 (EC). Quy định này
yêu cầu những lô hàng phải có cùng kích cỡ và độ tươi đồng nhất. Hạng
mục độ tươi và kích cỡ và hình thức trình bày phải được thể hiện rõ trên
nhãn mác đính trên lô hàng đó. Những tiêu chuẩn này tạo thuận lợi cho
việc ấn định mức giá chung cho từng hạng mục sản phẩm và xác định mức
độ chất lượng.
Thông tin mà nhãn mác cung cấp phải dễ hiểu, dễ nhìn thấy, dễ đọc và
phải bằng ngôn ngữ của nước thành viên EU nơi sản phẩm đó được bán.
Yêu cầu về bao gói
Trong những năm gần đây, những thay đổi trong thị hiếu của người
tiêu dùng, những cải tiến về bao gói và sự trỗi dậy của thị trường chung EU đã
đòi hỏi EU rà soát lại những quy định pháp luật với mục đích tăng lựa
chọn cho người tiêu dùng, củng cố năng lực cạnh tranh và làm hài hòa luật
pháp của khối này. Chỉ thị 2007/45/EC đưa ra ngày 21/9/2007 đã bỏ quy
định kích cỡ ấn định đối với hàng hóa trước khi đóng gói và các sản phẩm
khác trừ rượu vang và rượu mạnh. Quy định trên bãi bỏ những quy tắc về
khối lượng danh nghĩa khắt khe đã lỗi thời đối với hàng hóa đóng gói ở toàn EU.
Chỉ thị này yêu cầu tất cả các nước thành viên hủy bỏ những quy tắc như vậy
trong luật pháp quốc gia. Theo những quy định này, các nhà sản xuất bây giờ
được tự do lựa chọn kích cỡ bao gói phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng,
thiết kế bao gói và cải tiến phù hợp với chiến lược bán hàng chứ không phải
theo luật pháp. Các công ty xuất khẩu hiện nay sẽ phải linh hoạt hơn để có thể
hưởng nhiều lợi ích hơn khi chi phí để phù hợp với luật pháp quốc gia giảm
xuống. Việc bãi bỏ quy định giúp hàng hóa có thể thâm nhập vào thị trường EU
Dư lượng thuốc trừ sâu trong thực phẩm được điều chỉnh theo Quy định số
396/2005 (EC). Quy định này về giám sát, kiểm sát dư lượng thuốc trừ sâu
trong các sản phẩm có nguồn gốc thực vật và động vật có thể đã sử dụng
thuốc trừ sâu để bảo vệ thực vật. Mức độ tối đa rất nhất quán với thực tiễn nông
nghiệp tốt tại các nước thành viên và các nước thứ ba. Những mức độ tối đa được ấn
định sau khi đã đánh giá rủi ro đối với người tiêu dùng ở nhiều lứa tuổi khác nhau
khi được coi là an toàn. Quy định này nhằm bảo vệ người tiêu dùng và môi
trường ở mức độ cao. Phần phụ lục xác định mức dư lượng tối đa và các sản phẩm
áp dụng mức dư lượng này. Quyết định 2005/34/EC ấn định những tiêu chuẩn
đã được đồng nhất để kiểm tra dư lượng trong các sản phẩm có nguồn gốc động
vật nhập khẩu từ các nước thứ ba bằng cách sử dụng giới hạn tối thiểu.
Mục đích chủ yếu của pháp luật về ATTP của EU là để bảo vệ sức khỏe
và lợi ích có liên quan tới thực phẩm của người tiêu dùng. Cách tiếp cận “từ
Sinh viên: Phạm Phương Thảo
Lớp: Kinh tế quốc tế
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
trại nuôi tới bàn ăn” hiện nay được coi là nguyên tắc chung của chính sách ATTP
EU. Luật pháp về thực phẩm, cả ở cấp quốc gia và toàn EU, đều ấn định các
quyền của người tiêu dùng đối với ATTP về thông tin chính xác và trung
thực. Trong số các biện pháp quản lý nhằm đảm bảo sự tuân thủ các quy
định của EU về thực phẩm nhập khẩu, thủy sản nhập khẩu vào EU phải có chứng
nhận y tế của một cơ quan tương ứng được thừa nhận của nước xuất khẩu -
gọi là chứng nhận y tế chính thức.
Người sản xuất phải tuân thủ các nguyên tắc HACCP trong quá trình chế
biến nhằm đảm bảo ATTP. Quyđịnh số 178/2002 (EC) gồm những điều khoản
chung cho truy xuất nguồn gốc áp dụng từ ngày 01/01/2005. Quy định này yêu
cầu các nhà nhập khẩu xác nhận và đăng ký sản phẩm mà họ nhập bắt nguồn từ
đâu nhằm đảm bảo yêu cầu về truy xuất nguồn gốc.
Thuỷ sản được xếp vào loại thực phẩm có độ rủi ro cao về an toàn vệ sinh,
nước thứ ba phải được thực hiện ở những cảng theo chỉ định. Mục đích của biện
pháp này là để đảm bảo chỉ những sản phẩm từ hoạt động nghề cá được giám sát
chặt chẽ của các nước đánh cá hoặc các nước xuất khẩu có thể vào thị trường
EU. Biện pháp này cũng đảm bảo tất cả thủy sản được bán tại EU được đánh bắt
hợp pháp bằng những biện pháp phù hợp và theo hạn ngạch cho phép. Thêm vào
đó, giúp thắt chặt giám sát hoạt động khai thác thủy sản trên biển, IUU và những
vi phạm khác chống lại nghề cá hợp pháp giờ đây sẽ bị nghiêm trị theo pháp
luật, những con tàu IUU lẫn các nước dung thứ nghề cá bất hợp pháp đều bị EU
liệt vào danh sách đen.
1.2.2.2. Các quy định riêng của các tập đoàn
EU ngoài các rào cản được quy định chung, trên thực tế hàng hóa của các
nước thứ ba khi nhập khảu vào EU còn gặp phải những rào cản riêng của các
nước thành viên, của các ngành sản xuất, lĩnh vực kinh tế tư nhân, của các hệ
thống kinh doanh bán lẻ, Các nhà xuất khẩu cũng có thể sẽ phải có các
chứng nhận bổ sung, có thể liên quan tới nguồn gốc địa lý của sản phẩm, xác
nhận chất lượng đặc biệt, hoặc chứng nhận sự phù hợp với các tiêu chuẩn
hiện hành.
Người mua EU (chuỗi bán lẻ, siêu thị) có thể yêu cầu các chứng nhận tư
nhân từ các nhà cung cấp ở các nước thứ ba nhằm đảm bảo rằng sản phẩm
họ nhập vào châu Âu là an toàn và đảm bảo chất lượng đề ra. Về cơ bản, những
nhãn mác tư nhân là các tiêu chuẩn tự nguyện cho các sản phẩm và/hoặc cho
quá trình chế biến của các công ty tư nhân. MSC (Hội đồng Quản lý Biển) và
FOS (Bạn của Biển) là những chứng nhận môi trường phổ biến nhất, trong
khi hàng loạt các chứng nhận khác đang được sử dụng trong NTTS như
Naturland và ASC (Hội đồng Quản lý NTTS).
Sinh viên: Phạm Phương Thảo
Lớp: Kinh tế quốc tế
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VƯỢT RÀO CẢN ĐỐI
trưởng và phát triển mạnh mẽ xuất khẩu thủy sản toàn ngành nói chung, có thể
Sinh viên: Phạm Phương Thảo
Lớp: Kinh tế quốc tế
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
thấy tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU
giai đoạn 2000-2005 hết sức khả quan.
Bảng 2.1 Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU giai đoạn 2003 – 2012
Năm Sản lượng Kim ngạch
Giá Trị (triệu USD) Tăng trưởng (%)
2003 38,1868 116,7 -
2004 73,4592 231,5 98,37
2005 123,35 433.1 87,08
2006 219,964 723,5 67.05
2007 274,7 912,0 26,05
2008 394 1140,0 25,00
2009 345 1100,0 -3,51
2010 364 1204,0 9,50
2011 1360,0 12,91
2012 1130 1133,0 -16,69
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Trong những năm 2000-2002, hoạt động xuất khẩu thủy sản bị chững lại và
có xu hướng giảm sút, sau khi EU tăng cường kiểm tra dư lượng kháng sinh và
hạ thấp ngưỡng phát hiện dư lượng các chất này trong sản phẩm. Nhờ những nỗ
lực khắc phục của cơ quan quản lý, các doanh nghiệp và nông ngư dân Việt
Nam, Từ năm 2003 kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã nhanh chóng
tăng trở lại. Theo Bảng 2.1 năm 2003 kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 116,7
triệu USD năm 2004 là 231,5 triệu và đến năm 2005 là 433,1 triệu USD.
Năm 2006 thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam chiếm 2,05% nhu cầu nhập
khẩu thuỷ sản của EU. Thêm vào đó các doanh nghiệp của Việt Nam đang được
khẩu thủy sản sang EU không sụt giảm nhiều như xuất khẩu sang Mỹ và Nhật
Sinh viên: Phạm Phương Thảo
Lớp: Kinh tế quốc tế
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh
Bản là do những nguyên nhân: Thứ nhất, kinh tế EU tuy đã rơi vào tình trạng suy
thoái nhưng nhìn chung vẫn còn sang sủa hơn so với Nhật Bản và Mỹ; Thứ hai,
các doanh nghiệp Việt Nam đã chú trọng tới các họat động xúc tiến thương mại
và mở rộng thị trường tại châu Âu, tham gia nhiều họat động quảng bá, hội chợ
triển lãm thủy sản. Nhờ vậy số doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sang EU đã tăng
lên tới 330 doanh nghiệp.
Đến năm 2010 ngành thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang EU có dấu hiệu
khả quan hơn so với năm 2009 kim ngạch xuất khẩu năm 2010 là 1204 triệu
USD tăng 9,45%. chiếm 23,5 thị phần so với tổng kim ngạch xuất khẩu (xem
Hình 2.1). Trong 6 tháng/2010, xuất khẩu thuỷ sản sang EU đạt 515 triệu USD,
tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2009. Từ chỗ thị phần NK chỉ chiếm 5,7 %
tổng XK thủy sản của VN (năm 2003) đến năm 2010 thị phần của EU đã
chiếm đến 23,5%, chứng tỏ EU đã có vị trí rất quan trọng trong việc giải quyêt
đầu ra cho thủy sản Việt Nam. Mặc dù so với nhu cầu thủy sản của EU, giá
trị cung cấp của Việt Nam còn rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng gần 2,8% tổng
giá trị nhập khẩu thủy sản của EU.
Thủy sản của Việt Nam nhập khẩu vào EU và được tiêu thụ chủ yếu ở
các nước Đức, Tây Ban Nha, Italia, Hà Lan và Pháp, trong đó Đức và Tây Ban
Nha là hai nước nhập lớn nhất.
Hình 2.2: Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang EU và Hoa
Kỳ năm 2006-2012
Sinh viên: Phạm Phương Thảo
Lớp: Kinh tế quốc tế
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Anh Minh