ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hoàng Thắng Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại Việt Nam giai
đoạn 1986 – 1996 Luận văn ThS. Quan hệ quốc tế: 60.31.40
Nghd. : PGS.TS. Nguyễn Hoàng Giáp
1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
2
52
2.2.1. Quá trình điều chỉnh chính sách
52
2.2.2. Những hoạt động ngoại giao chủ yếu
66
Chương3: MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG
HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1986 - 1996
85
KẾT LUẬN
96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
100
PHỤ LỤC
2
hoảng kinh tế - xã hội, mở ra thời kì đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước. Về đối ngoại là lúc ta phá được thế bao vây cô lập trên
trường quốc tế và bắt đầu mở rộng quan hệ với khu vực và thế giới.
Trong 10 năm đầu đổi mới của Việt Nam, trên thế giới đã xảy ra
những biến động chính trị dữ dội không ngừng tác động đến nước ta. Liên Xô
và Đông Âu sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã, chiến tranh
lạnh kết thúc đã làm cho trật tự thế giới bị đảo lộn. Quan hệ quốc tế rơi vào
cuộc khủng hoảng nghiêm trọng cả về lí luận lẫn thực tiễn, các quốc gia lớn
nhỏ trên thế giới đều phải điều chỉnh chính sách và các mục tiêu ưu tiên trong
phát triển đất nước để thích nghi với môi trường quốc tế mới. Lúc này, mục
tiêu phát triển kinh tế trở thành ưu tiên hàng đầu của các quốc gia trên thế
giới và tiềm lực kinh tế trở thành yếu tố quyết định cho sức mạnh tổng hợp
của các quốc gia, điều đó dẫn đến cuộc chạy đua kinh tế quyết liệt trên phạm
vi toàn cầu.
Đối với nước ta, song song với việc triển khai đường lối đổi mới,
chúng ta đã thực hiện những bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách đối
ngoại nhằm tìm cho Việt Nam một vị trí tối ưu trong môi trường quốc tế đầy
biến động. Việc nghiên cứu quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của
Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 1996 có ý nghĩa lí luận và thực tiễn to lớn,
nó cho thấy những thay đổi quan trọng trong tư duy chiến lược đối ngoại của
Đảng và Nhà nước ta trước những biến động của tình hình thế giới và thực
tiễn phát triển của đất nước trong giai đoạn này; đồng thời nó cũng góp phần
đưa lại cái nhìn sâu hơn và có cơ sở khoa học khi đánh giá những yếu tố dẫn
đến thành tựu của 10 năm đầu đổi mới.
4
Trên cơ sở đó, tác giả chọn đề tài “Quá trình điều chỉnh chính sách
đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1986 - 1996” làm luận văn tốt nghiệp cao học
của mình.
cập công cuộc đổi mới các chính sách và cơ chế kinh tế ở Việt Nam từ cuối
những năm 1970 đến đầu những năm 1990 trong đó nhấn mạnh đến những
thay đổi to lớn trên thế giới đã có tác động quan trọng đến công cuộc đổi mới
ở Việt Nam. Bên cạnh đó, năm 1999, hai học giả Carlyle Thayer và Amer
Ramses công bố cuốn Chính sách đối ngoại Việt Nam trong thời kì chuyển
đổi (Vietnamese Foreign Policy in Transition)
Về việc nghiên cứu, tổng kết các hoạt động ngoại giao của nước ta,
năm 2002 Bộ Ngoại giao đã xuất bản cuốn sách “Ngoại giao Việt Nam 1945
- 2000” tập trung đề cập các đặc điểm, tính chất, những thành tựu của nền
ngoại giao Việt Nam hiện đại. Trong các dịp kỉ niệm 55 năm và 60 năm
thành lập ngành ngoại giao Việt Nam vào các năm 2000, 2005, Bộ ngoại giao
đã tổ chức các cuộc hội thảo khoa học lớn để đánh giá các đóng góp của
ngoại giao trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc trong suốt 60
năm qua. Các tài liệu trong cuộc hội thảo năm 2000 đã được công bố trong
cuốn “Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh” do nhà xuất bản
Chính trị quốc gia ấn hành. Các bài nghiên cứu trong cuốn sách này tập trung
vào các chủ đề: thành tựu của ngoại giao Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh
về ngoại giao, bản sắc ngoại giao Việt Nam hiện đại và mấy vấn đề của ngoại
giao Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Cuốn sách này mang đến một cái
nhìn toàn diện về quan hệ quốc tế của nước ta trong hơn 50 năm cả về nền
tảng tư tưởng, cơ sở lý luận lẫn thực tiễn hoạt động cũng như bản sắc riêng
của ngoại giao Việt Nam.
6
Về đường lối đối ngoại và hoạt động ngoại giao trong thời kì đổi mới,
các công trình trên đề cập như là một thời kỳ trong lịch sử hơn 50 năm của
ngành ngoại giao. Trong dịp kỉ niệm 50 năm thành lập ngành ngoại giao,
năm 1995 Bộ Ngoại giao đã xuất bản cuốn “Hội nhập quốc tế và giữ vững
bản sắc” tập hợp các bài nói và viết của các vị lãnh đạo ngành ngoại giao
đầu những năm 1990 tập trung vào các vấn đề quốc tế của Việt Nam trong
hội Đảng, Nghị quyết của các Hội nghị Trung ương trong thời kì này. Tuy
nhiên, “Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn
1986 - 1996” chưa trở thành đối tượng nghiên cứu độc lập của một công trình
khoa học nào, đặc biệt trên quy mô của một luận văn tốt nghiệp cao học.
Đó là cơ sở để tác giả tập trung tìm hiểu về chính sách đối ngoại Việt
Nam 10 năm đầu đổi mới. Mặt khác khi nghiên cứu chính sách đối ngoại
Việt Nam thời kì này cũng có những khó khăn chung khác như một số tư liệu
gốc cho đến nay chưa được công bố hoặc các nhà nghiên cứu chưa được tiếp
cận sẽ dẫn đến thiếu một số luận cứ cụ thể trong việc tìm hiểu vấn đề.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn
Thông qua những biến cố lớn trong quan hệ quốc tế trong 10 năm
1986 - 1996 và những đòi hỏi của thực tiễn đổi mới của đất nước, đề tài tập
trung tìm hiểu những bước điều chỉnh quan trọng có ý nghĩa chiến lược
trong việc hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà
nước ta trong giai đoạn 1986 - 1996 qua đó có thể rút ra những kết luận cho
thời kỳ này.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ:
8
- Phân tích những nhân tố tác động đến quá trình điều chỉnh chính sách
đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1996.
- Phân tích các bước điều chỉnh trong chính sách đối ngoại trong 10
năm đầu đổi mới và những hoạt động lớn của ngoại giao Việt Nam trong 10
năm này như là hệ quả của quá trình điều chỉnh đó.
- Rút ra các bài học kinh nghiệm của các hoạt động ngoại giao giai
đoạn 1986 - 1996.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình điều chỉnh chính sách đối
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản của ngành
khoa học xã hội nói chung, ngành quan hệ quốc tế nói riêng. Đề tài nghiên
cứu nằm trong phạm vi chuyên ngành quan hệ quốc tế, là một bộ phận của
khoa học xã hội nên phương pháp lịch sử và phương pháp logíc là hai
phương pháp chủ yếu của luận văn. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương
pháp khác như so sánh, đối chiếu, thống kê, phân tích và tổng hợp để nghiên
cứu và trình bày nội dung luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn tập trung làm rõ về sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại
của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn 1986 - 1996 qua đó có thể thấy sự
chuyển biến quan trọng trong tư duy chiến lược đối ngoại và nhận thức của
Đảng và Nhà nước ta về các vấn đề quốc tế để phục vụ kịp thời công cuộc
đổi mới. Bên cạnh đó, luận văn góp phần cung cấp thêm cứ liệu khoa học
xung quanh việc tìm hiểu về chính sách đối ngoại của ta hiện nay.
10
Ngoài ra, luận văn có thể sử dụng tham khảo trong việc học tập của
sinh viên chuyên ngành quan hệ quốc tế, là tài liệu chuyên khảo cho những
người quan tâm đến các vấn đề trong quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại
của Đảng và Nhà nước ta trong khoảng thời gian cuối những năm 1980 đến
nửa đầu những năm 1990.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được chia làm 3 chương.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX trở đi, hệ thống xã hội
chủ nghĩa bắt đầu lâm vào tình trạng khủng hoảng, nội bộ các nước nảy sinh
nhiều mâu thuẫn bất đồng. Lúc này, các nước tư bản chủ nghĩa nhờ áp dụng
được các thành tựu khoa học - công nghệ nên đã phục hồi và phát triển nhanh
chóng. Hai sự kiện này diễn ra đồng thời làm khoảng cách phát triển giữa hai
hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa càng ngày càng xa. Mỹ tiếp
tục phát động chạy đua vũ trang gây căng thẳng với Liên Xô và các nước xã
hội chủ nghĩa; thực hiện "diễn biến hoà bình" chống phá các nước xã hội chủ
nghĩa và phong trào cách mạng thế giới. Đối với Việt Nam, Mỹ thực hiện
chính sách bao vây, cấm vận, cô lập ta trên trường quốc tế. Đồng thời, Mỹ
tăng cường kích động lôi kéo người Việt Nam di tản nhằm làm mất an ninh
chính trị, trật tự xã hội dẫn đến làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng và Nhà
nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
12
Trong khi đó, ở nước láng giềng Campuchia, Khơme Đỏ sau khi
giành được chính quyền đã thi hành chính sách diệt chủng ở trong nước và
thực hiện một chính sách đối ngoại thù địch với Việt Nam. Việc Việt Nam
đưa quân sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế là lý do để Mỹ và các thế
lực thù địch lợi dụng xuyên tạc nhằm cô lập, bao vây cấm vận nước ta.
Trung Quốc tiến hành chiến tranh chống Việt Nam trên toàn tuyến biên
giới 6 tỉnh phía Bắc, sau đó là cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt, cùng
các nước ASEAN cô lập, công kích ta về chính trị, bao vây cấm vận về
kinh tế, đẩy Việt Nam vào tình thế vô cùng khó khăn.
Bước vào đầu những năm 80 của thế kỉ XX, trên thế giới có những
thay đổi to lớn tác động sâu sắc đến các mối quan hệ quốc tế nói chung và
quan hệ giữa các quốc gia nói riêng. Đó là:
Cuộc chiến tranh lạnh kéo dài gần 40 năm kể từ năm 1947[29, tr. 72]
giữa Liên Xô và Mỹ đã đi vào giai đoạn kết thúc. Quan hệ quốc tế từ chỗ là
sự đối đầu quyết liệt giữa hai hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội đối lập đã
trang giữa Mỹ và Liên Xô đã làm cho sức cạnh tranh của hai nước này trong
nền kinh tế thế giới giảm sút nghiêm trọng. Điều đó làm cho hai nước phải
đi vào tìm kiếm các giải pháp nhằm giảm chạy đua vũ trang, giảm chi phí
quốc phòng, tập trung cho phát triển và cải cách nền kinh tế. Việc các nước
điều chỉnh chính sách tập trung cho phát triển kinh tế, giảm chạy đua vũ
trang đã làm xuất hiện xu thế chuyển dịch từ đối đầu sang đối thoại trong
quan hệ quốc tế.
Quá trình chuyển dịch từ đối đầu sang đối thoại thời kì này thể hiện
trước hết ở việc hai nước lớn Liên Xô và Mỹ giảm chạy đua vũ trang, đi vào
đàm phán tiến tới kí kết các hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược
của hai bên. Sau khi đưa cuộc chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô lên
14
đến đỉnh cao trong nhiệm kì cầm quyền đầu tiên, bước vào nhiệm kì thứ hai,
Tổng thống Mỹ R. Rigân bắt đầu tìm kiếm các kênh đối thoại khác nhau với
Liên Xô để tiến tới các thoả thuận nhằm kiểm soát vũ khí chiến lược. Đồng
thời trong giai đoạn này, ở Liên Xô cũng diễn ra những thay đổi quan trọng
trong bộ máy lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước Xôviết. Cuộc khủng
hoảng về người lãnh đạo ở Liên Xô chấm dứt với sự lên nắm quyền của
Tổng bí thư Goócbachốp tháng 3 năm 1985, sau khi Tổng bí thư Chécnencô
qua đời. Tuy nhiên lúc này, Liên Xô “tuy đã tiến những bước dài đáng kể
trong sản xuất quân sự và vũ trụ và trong các ngành công nghiệp thép, bê
tông, than và dầu lửa nhưng nó thực sự không có khả năng mang lại những
hứa hẹn vật chất của cuộc cách mạng cho người dân Liên Xô”[41, tr. 491].
Thất bại trong sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và các sản phẩm công
nghệ cao đã đẩy nền kinh tế Liên Xô tụt hậu xa so với các nước phương Tây
chủ chốt. Thậm chí trong nhiều lĩnh vực, Liên Xô còn tụt hậu so với các
nước và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Đài Loan trong việc ứng dụng
khoa học công nghệ, sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu qủa vào sản xuất
kinh tế. Cuộc khủng hoảng trầm trọng trong xã hội Liên Xô là tiền đề quyết
trong việc giải quyết các vấn đề nóng bỏng trên thế giới. Như đã đề cập,
ngoài việc Mỹ và Liên Xô có những bước điều chỉnh chiến lược lớn nhằm
làm cho bầu không khí trong quan hệ quốc tế trở nên hoà dịu thì ở châu Á lúc
này, Trung Quốc cũng tiến hành cải cách mở cửa với mục tiêu thực hiện “bốn
hiện đại hoá” được đề ra từ Hội nghị Trung ương lần thứ ba (khoá XI) cuối
năm 1978 sau những sai lầm nghiêm trọng trong Cách mạng văn hoá. Công
cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc đặt ra yêu cầu Trung Quốc phải thực
hiện chiến lược tranh thủ vốn và khoa học kĩ thuật hiện đại của phương Tây
nhằm thực hiện “bốn hiện đại hoá”; tiến hành đàm phán bình thường hoá
16
quan hệ với Liên Xô nhằm thu hút viện trợ để cải tạo các công trình do Liên
Xô giúp xây dựng trước đây đồng thời góp phần kiềm chế Mỹ, tìm được cho
Trung Quốc tiếng nói thích đáng trong thời điểm mà Mỹ và Liên Xô đang có
những thoả thuận quan trọng trong việc làm giảm căng thẳng trong quan hệ
quốc tế và giải quyết dứt điểm các vấn đề lớn trên thế giới lúc bấy giờ. Mặt
khác, nhu cầu về một môi trường quốc tế và khu vực có hoà bình ổn định
nhằm phục vụ cải cách mở cửa cũng đòi hỏi Trung Quốc phải điều chỉnh
chiến lược với các nước trong khu vực. Trên cơ sở đó, Trung Quốc từng
bước đi tới bình thường hoá quan hệ với Việt Nam và cân bằng các mối quan
hệ với các quốc gia khác ở Đông Nam Á, duy trì ảnh hưởng ở khu vực này,
cùng với các nước khác đi vào tìm kiếm giải pháp thực tế để giải quyết vấn
đề Campuchia
Việc các nước lớn thi hành chính sách hoà hoãn, chuyển từ đối đầu
sang đối thoại đã tạo ra thời cơ hiện thực cho việc giải quyết các vấn đề căng
thẳng trong quan hệ quốc tế. Ở châu Âu, song song với các cuộc đàm phán về
cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược giữa Liên Xô và Mỹ thì quá trình này
cũng đồng thời thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề an ninh chung của toàn
châu Âu trong đó có vấn đề thống nhất nước Đức và vấn đề hoà nhập hai
khối quân sự chính trị đối lập ở châu Âu vào một tổ chức chung về an ninh
chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan rã. Sự sụp đổ của Đông Âu và Liên Xô
đã để lại những hệ quả quốc tế to lớn. Nó làm cho trật tự thế giới cũ mất đi và
“tương quan lực lượng trên thế giới từ chỗ cân bằng sang có lợi cho Mỹ và
các nước tư bản phát triển”[40, tr. 93].
Cuộc khủng hoảng kinh tế ngày càng trầm trọng do bệnh chủ quan duy
ý chí, xem thường các quy luật kinh tế khách quan, duy trì quá lâu cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, không thừa nhận sản xuất hàng hoá và quy luật giá
18
trị cùng với sai lầm về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức; cộng với sự
tấn công từ nhiều phía của các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài đã đặt
Liên Xô trước những thách thức sống còn. Để cứu vãn tình thế, từ năm 1987
đến 1991, Liên Xô bước vào công cuộc cải tổ rộng lớn cả về chính trị và kinh
tế. Thất bại trong việc chuyển nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang
nền kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước đã đẩy Liên Xô lún sâu vào
tình trạng khủng hoảng, rối ren và mất phương hướng.
Tháng 1 năm 1991, “Hội nghị dân chủ” ở Kháccốp với sự tham dự
của 47 đảng phái và 12 nước cộng hoà đã thông qua lời kêu gọi giải thể
Liên Xô và thành lập Cộng đồng các nước cộng hoà độc lập. Sau cuộc đảo
chính lật đổ Tổng thống Goócbachốp thất bại (từ ngày 19 đến 21 tháng 8
năm 1991), chính quyền Xôviết bị giải tán, Đảng Cộng sản Liên Xô bị đình
chỉ hoạt động, lần lượt các nước cộng hoà thuộc Liên Xô tuyên bố độc lập.
Ngày 6 tháng 9 năm 1991, Xôviết tối cao Liên Xô tuyên bố bãi bỏ Hiệp ước
Liên bang năm 1922 và trao quyền hành cho các cơ quan lâm thời. Ngày 8
tháng 12 năm 1991, Tổng thống 3 nước cộng hoà Nga, Ucraina, Belarút ra
tuyên bố chung khẳng định Liên Xô không tồn tại nữa và quyết định thành
lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). Ngày 21 tháng 12 năm 1991, tại
thủ đô Anma Ata (Cadắcxtan), 11 nước cộng hoà kí hiệp định về giải tán
Liên Xô và chính thức thành lập SNG. Ngày 25 tháng 12 năm đó, M.
Goócbachốp tuyên bố từ chức Tổng thống Liên Xô, lá cờ đỏ trên nóc điện
giới lâm vào thoái trào nhưng các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại
và phát triển dưới nhiều hình thức, quy mô và sự thể hiện khác nhau. Nguy
cơ chiến tranh thế giới huỷ diệt bị đẩy lùi nhưng loài người phải đối mặt với
những cuộc xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo,
20
tranh chấp biên giới lãnh thổ, hoạt động khủng bố diễn ra ngày càng tăng ở
nhiều khu vực trên thế giới.
Bên cạnh đó, sau chiến tranh lạnh, nhiều vấn đề toàn cầu nảy sinh ảnh
hưởng đến môi trường sinh sống của các quốc gia đòi hỏi phải có sự hợp tác
của tất cả các nước để giải quyết. Ngoài các hoạt động ngoại giao song phương
và ở cấp nhà nước truyền thống như trước đây thì lúc này, các diễn đàn đa
phương ngày càng xuất hiện và giữ vai trò quan trọng trong việc tập hợp lực
lượng trên toàn thế giới để cùng nhau giải quyết các vấn đề toàn cầu. Điều đó
dẫn đến việc các nước vừa và nhỏ khẳng định được vai trò quan trọng của
mình trong việc giải quyết những vấn đề chung của thế giới.
Trong bối cảnh xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển ngày một tăng,
các quốc gia đặt ưu tiên hàng đầu trong chính sách là phát triển kinh tế. Tất
cả các nước đều điều chỉnh đường lối, tập trung sức phát triển kinh tế. Cuộc
chạy đua phát triển kinh tế trên phạm vi toàn thế giới làm cho nhân tố kinh tế
có vị trí quan trọng trong quan hệ quốc tế và nó trở thành một trong những
yếu tố quyết định cho sức mạnh tổng hợp của các quốc gia.
Nhìn chung, cục diện thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ tác động mạnh
đến Việt Nam, tạo ra những cơ hội và thách thức mới buộc Việt Nam phải
tìm cách giải quyết, đặc biệt là phải có chính sách đối ngoại thích hợp để tiếp
tục công cuộc đổi mới.
Một tác nhân quan trọng làm thay đổi bộ mặt thế giới từ những năm 80
của thế kỉ XX trở đi và có tác động trực tiếp đến quá trình hoạch định chính
sách của các quốc gia đó là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển
như vũ bão đã tạo ra những thay đổi lớn cả về lượng và chất đối với mọi mặt
triển mạnh mẽ và vai trò ngày càng lớn của thương mại quốc tế đối với sự
22
phát triển của mỗi quốc gia. Đặc trưng của sự phát triển thương mại quốc tế
là sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu: tỷ trọng hàng sơ chế giảm từ 38,3%
năm 1984 xuống còn 25% năm 1992, tỷ trọng hàng tinh chế tăng từ 49,5%
năm 1950 lên 75% năm 1992[2, tr. 17]; thương mại dịch vụ phát triển mạnh
như vận tải, du lịch, dịch vụ ngân hàng vv Các nhân tố đó đã thúc đẩy mạnh
mẽ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các nước công nghiệp phát triển
xúc tiến việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng thu hẹp các ngành công
nghiệp truyền thống tốn nhiều nguyên liệu, lao động, năng lượng, gây ô
nhiễm, chuyển dần các ngành này sang các nước đang phát triển để tập trung
phát triển trong nước các ngành sản xuất tiến tiến.
Ở cấp độ thấp hơn toàn cầu hoá là quá trình khu vực hoá cũng phát
triển mạnh ở những quy mô khác nhau. Một loạt các tổ chức khu vực ra đời
như Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC) ; bên cạnh đó là các mô hình hợp tác dưới hình thức các tam giác,
tứ giác phát triển Các liên kết khu vực này lúc đầu xuất phát từ các nhu cầu
về phát triển kinh tế nhưng sau đó tiến dần tới những liên kết về chính trị. Sự
liên kết khu vực thường thể hiện ở năm cấp độ khác nhau từ ưu đãi thương
mại, thị trường tự do, liên minh quan thuế, thị trường chung và cuối cùng là
các “liên kết đa diện kiểu Liên minh châu Âu - về cả thị trường lẫn chính
sách kinh tế, đồng tiền chung, quốc hội chung ”[47, tr. 20]. Một đặc điểm
của các tổ chức khu vực là trong đó có sự tham gia của các nước có chế độ
chính trị xã hội khác nhau, nó phản ánh chiều hướng của các nước muốn liên
kết với nhau để tận dụng tiềm năng khu vực của mình nhằm ứng phó với quá
trình toàn cầu hoá đang tiến triển nhanh chóng.
Bước vào những năm 1980, ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
diễn ra những biến đổi quan trọng, đặc biệt Đông Á nổi lên là khu vực có sự
1
Võ Văn Kiệt (1994), Đường lối ngoại giao thời kì đổi mới. Bài trả lời phỏng vấn trên Tuần báo Quốc tế, số
Xuân năm 1994.
24
Bên cạnh đó, so với các khu vực khác trên thế giới, vì nhu cầu phát triển
kinh tế của các nước trong khu vực, thì ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương,
xu thế hoà bình, ổn định xuất hiện sớm hơn. Đó là chính sách “quay trở lại châu
Á” của Nhật Bản từ cuối những năm 1970, các cuộc đối thoại Xô - Trung, Mỹ -
Trung, quá trình giải quyết thực chất vấn đề Campuchia, sự hoà dịu trên bán đảo
Triều Tiên vv. Cùng với xu thế hoà hoãn đó thì quá trình hợp tác giữa các nước
trong khu vực ngày càng tăng và diễn ra ở nhiều tầng, nhiều nấc - từ sự hợp tác
trong toàn khu vực như Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC) đến sự hợp tác tiểu khu vực như Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA), Khu vực hợp tác kinh tế Nam Á (SAARC) hay như các tam giác, tứ
giác phát triển trong khu vực như hợp tác Tiểu vùng sông Mêkông
Đối với khu vực Đông Nam Á, sự chuyển biến to lớn của cục diện thế
giới từ giữa những năm 1980 đã tác động mạnh mẽ đến tình hình khu vực
này. Từ chỗ là một khu vực bị phân hoá sâu sắc, các nhóm nước nghi kị lẫn
nhau trong thời kì chiến tranh lạnh, vào giữa những năm 1980, xuất phát từ
lợi ích chung là hoà bình và phát triển, các nước ASEAN bắt đầu thay đổi
chính sách theo hướng đẩy mạnh hợp tác trong nội bộ, lấy hợp tác kinh tế để
thúc đẩy hợp tác an ninh chính trị nhằm tạo thế cân bằng chiến lược mới giữa
khu vực với các cường quốc và tạo được vị thế có lợi nhất cho mình. Xu thế
đối thoại giữa hai nhóm nước ASEAN và Đông Dương được mở ra từ tháng
2 năm 1985
1
tiếp tục được thúc đẩy mạnh mẽ để tiến tới xây dựng một Đông
Nam Á hoà bình và ổn định. Việc Việt Nam tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn