Hoạt động truyền thông luật giao thông đường bộ trên địa bàn Hà Nội - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ THANH THỦY HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG LUẬT GIAO
THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC


Mã số: 60 31 80 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU THỤ
Hà Nội-2013 1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4
MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Mục đích nghiên cứu: 6
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Đối tƣợng nghiên cứu . 7
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu: 7
6. Khách thể nghiên cứu: 7

3.6 Một số biện pháp tâm lý giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông Luật
Giao thông đƣờng bộ trên truyền hình, panô, áp phích và BQC: 92
KẾT LUẬN 100
KIẾN NGHỊ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 108

3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ATGT
An toàn giao thông
BQC
Biển quảng cáo
ĐTB
Điểm trung bình
GT
Giao thông
HĐTTLGTĐB
Hoạt động truyền thông Luật giao thông đường bộ
LGTĐB
Luật giao thông đường bộ
MBH
Mũ bảo hiểm
TNGT
Tai nạn giao thông
TTATGT
Trật tự an toàn giao thông
UBATTQG
Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia

Ảnh hưởng của nội dung, thông điệp truyền thông LGTĐB
74

5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giao thông (GT) - bức tranh hiện thực sống động của quá trình tương tác xã hội. Cùng
với những tồn tại tất yếu của xã hội đang phát triển, vấn nạn GT là một dấu chỉ tương tác xã
hội đang ngày một xấu đi với nguy cơ sánh ngang các đại dịch, trở thành nỗi ám ảnh thường
trực đối với người dân khi tham gia GT tại các đô thị lớn như Hà Nội. Trước những diễn biến
phức tạp của thực trạng GT đô thị, sau khi Luật Giao thông đường bộ 2008 (LGTĐB) - có
hiệu lực kể từ ngày 01/07/09), Chính Phủ đã ban hành nhiều nghị định, nghị quyết với những
giải pháp cấp bách nhằm giảm thiểu, ngăn chặn thiệt hại của vi phạm LGTĐB như: Nghị
quyết số 16/2008/NĐ-CP “Về từng bước khắc phục ùn tắc Giao thông tại thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 88/NQ-CP “Về tăng cường thực hiện các giải
pháp trọng tâm đảm bảo trật tự an toàn giao thông” và mới đây nhất là nghị định số:
71/2012/NĐ-CP “Bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4
năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ”. Theo đó, bên cạnh việc tăng nặng hình thức xử phạt đối với các lỗi vi phạm GT,
các giải pháp đẩy mạnh giáo dục và tuyên truyền pháp luật nhằm nâng cao ý thức chấp hành
LGTĐB được nhấn mạnh hàng đầu.
Trong xu thế phát triển mạnh mẽ của ngành truyền thông, nhờ sự nỗ lực của chính
quyền, các ban ngành, đoàn thể, tổ chức các hoạt động truyền thông LGTĐB
(HĐTTLGTĐB) đã bước đầu hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền và định hướng công chúng,
đóng vai trò tích cực trong việc làm giảm tỉ lệ tai nạn giao thông (TNGT) một cách liên tục và
đáng kể trong các năm 2009, 2010, 2011 và 9 tháng đầu năm 2012.
Theo báo cáo của Ủy ban An toàn Giao Thông Quốc gia (UBATGTQG), 9 tháng đầu
năm 2012, cả nước xảy ra 23.619 vụ TNGT, làm chết 6.908 người, bị thương 25.002 người.

6

3.1. Phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan đến HĐTTLGTĐB nhằm xây dựng cơ sở lý
luận cho đề tài. Xây dựng các khái niệm công cụ của đề tài và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới
hiệu quả của HĐTTLGTĐB.
3.2 Nghiên cứu thực trạng và làm rõ nguyên nhân, các yếu tố tác động đến
HĐTTLGTĐB trên địa bàn Hà Nội.
3.3 Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của HĐTTLGTĐB.
4. Đối tƣợng nghiên cứu .
Hoạt động truyền thông Luật Giao thông đường bộ thông qua nội dung, hình thức và hiệu
quả tâm lý của hoạt động này, chủ yếu trên truyền hình và panô, áp phích, và biển quảng cáo
(BQC).
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
5.1. Giới hạn về mặt nội dung:
Đề tài này chỉ đề cập tới thực trạng và nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng của
HĐTTLGTĐB tại địa bàn Hà Nội; trong đó tập trung phản ánh thực trạng và nguyên nhân
của hoạt động truyền thông trên truyền hình và panô, áp phích, BQC; chỉ ra một số tác động
tâm lý của hoạt động này tới hành vi khi tham gia GT của người dân Hà Nội.
5.2. Giới hạn về không gian, địa bàn nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành tại 5 quận có những nút GT trọng điểm, thường xuyên
xảy ra tình trạng ùn tắc, vi phạm LGTĐB và TNGT của Hà Nội: Quận Long Biên, Quận Hai
Bà Trưng, Quận Đống Đa, Quận Hoàn Kiếm, Quận Cầu Giấy.
6. Khách thể nghiên cứu:

8
Đề tài được tiến hành với 200 người dân có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, hiện đang sinh
sống, học tập, làm việc tại Hà Nội.
7. Giả thuyết nghiên cứu.
Nhìn chung, HĐTTLGTĐB được tiến hành khá phong phú và đa dạng trên địa bàn Hà
Nội, đã thu hút được sự chú ý của người dân, trong đó truyền hình và panô, áp phích, BQC là
các phương tiện phổ biến và hiệu quả nhất. HĐTTLGTĐB còn mang nặng tính thông báo
một chiều, thiếu tính tương tác nên hiệu quả còn chưa cao. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới

1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu hoạt động truyền thông và hoạt động truyền thông về
giao thông
1.1.1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Trong lịch sử thế giới, trước khi có các phương tiện truyền thông đại chúng, mỗi dân tộc
đều đã sáng tạo ra những phương thức truyền thông riêng của mình để đáp ứng nhu cầu
truyền đạt thông tin trong xã hội. Ngay từ buổi đầu lịch sử, việc trao đổi hàng hoá luôn gắn
liền với hoạt động truyền thông bằng miệng nhằm quảng cáo hàng của những người thợ thủ
công, người buôn bán và các các phường hội và sự thôi thúc truyền thông dường như đã trở
thành một bộ phận của bản tính con người.
Trong nửa đầu thế kỷ XX, cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa, dựa trên nhiều phát minh kỹ thuật khác nhau, các phương tiện truyền thông đại chúng
như báo chí, điện ảnh, đài phát thanh và đài truyền hình lần lượt ra đời. Trong những thập
niên đầu thế kỷ này, các nhà tâm lý học như Scoott W.G (Mỹ); Molle A. (Pháp); Moede W
(Đức); Fraser L (Anh); Gallo S (Italia) đã đặc biệt quan tâm tới tâm thế xã hội và đánh giá xã
hội của con người trong hoạt động truyền thông. Đây cũng là giai đoạn mà giới học thuật
quan niệm rằng các phương tiện truyền thông có một sức tác động to lớn lên trên lối ứng xử
và suy nghĩ của người dân, biến các cá nhân thành “những khối đại chúng”.
Khoảng năm 1940 tới đầu những năm 1960, một số công trình điều tra ở Mỹ về ảnh
hưởng của các phương tiện truyền thông đối với việc bầu cử và đối với sự chọn lựa của người
dân đã kết luận truyền thông đại chúng ít có hoặc thậm chí không có tác động trực tiếp đối với
thái độ và ứng xử của người dân. Trái ngược với lập luận của các nhà nghiên cứu trong giai
đoạn đầu vốn cho rằng truyền thông đại chúng có tác động trực tiếp giống như một mũi kim
chích, lúc này, người ta chỉ nói tới những tác động gián tiếp, thông qua nhiều bước trung gian.

11
Ở thời kỳ này, phải kể đến công trình nghiên cứu của nhà tâm lý học Doob L.W về các tác
động tâm lý của truyền thông, quá trình tri giác nội dung thông điệp và nhân cách người
truyền tin, người nhận tin trong hoạt động truyền thông. [29]
Trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ II, các công trình nghiên cứu về hoạt động tuyên
truyền được tiến hành nhiều với mục đích quân sự ở các nước trong các khối quân sự liên kết

(1969); mô hình quảng cáo tự động hóa của Howard (1984).
Dựa trên sự phát triển của công nghệ thông tin, từ những năm 1980 trở lại đây, các
nhà tâm lý học đã nghiên cứu và đưa ra mô hình tự động hoá của hoạt động truyền thông. Mô
hình này chỉ rõ khuynh hướng ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau giữa các thành tố và
tạo thành một hệ thống mềm dẻo, hoàn chỉnh, từ đó có thể giải thích nhiều tình huống khác
nhau trong thực tế. Đặc biệt, trong mô hình này các thông tin phản hồi được nhấn mạnh và
đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền thông. Tuy vậy, hạn chế của mô hình này là
chưa chỉ ra được ảnh hưởng của môi trường văn hoá, xã hội lịch sử tới việc lĩnh hội thông
điệp của người nhận tin.
Trong mô hình tiếp cận văn hóa của Tâm lý học hoạt động, các nhà tâm lý học đã
nhấn mạnh vai trò chủ đạo của các yếu tố xã hội, yếu tố văn hóa, lịch sử trong quá trình phát
triển tâm lý ý thức, nhân cách. Vì vậy, mô hình của hoạt động truyền thông cũng được xây
dựng dựa trên cách tiếp cận văn hóa, lịch sử này. Mô hình này phản ánh tất cả các thành tố cơ
bản của quá trình truyền thông đại chúng là: người truyền tin, người nhận tin và môi trường
văn hóa, xã hội, lịch sử của cộng đồng dân cư nơi hoạt động truyền thông được tiến hành,
đồng thời làm sáng tỏ tất cả các thành tố, vai trò và chức năng của các thành tố trong cấu trúc
của nhân cách (người truyền tin và người nhận tin) đối với quá trình lĩnh hội thông điệp

13
truyền thông. Qua mô hình có thể thấy toàn bộ các đặc điểm nhân cách như: động cơ, nhu
cầu, trình độ, kinh nghiệm, uy tín, năng lực, tình cảm, xúc cảm và các đặc điểm tư chất của
người truyền tin hay các yếu tố của môi trường đều có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của
hoạt động truyền thông. Ngoài ra, toàn bộ các đặc điểm tâm lý nhân cách của người nhận tin
như: chú ý, tâm thế, định khuôn, trí nhớ, xúc cảm cũng đều tham gia vào quá trình lĩnh hội nội
dung truyền thông của người nhận tin và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc lĩnh hội
thông điệp.
Nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu mới về tác động của truyền thông đại
chúng , liên quan trực tiếp đến nghiên cứu khách thể - người nhận tin: Denis McQuail (1983,
1994, 2005); Alvin Toffler (1996); Philip Breton và Segels Proulx (1996); Loic Hervouet
(1999); Pertti Alasuutari (1999); Andy Ruddock (2000); EP. Prokhôlôp (2001); Schudon M.

vong và thương tật vĩnh viễn lớn thứ 3 trên thế giới; đó cũng là nguyên nhân gây chết trẻ lớn
thứ 2 đối với những người ở độ tuổi 15 - 44 tuổi, chỉ sau số lượng tử vong vì HIV/AIDS.
Cùng với những tồn tại của xã hội phát triển, các vấn đề của GT ngày càng trở nên
nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển, an sinh xã hội. TNGT đường bộ đã trở
thành một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của cộng đồng quốc tế, chính phủ các
nước và đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý học, xã hội học Tại
các nước phát triển, thông qua các hoạt động truyền thông, các chính phủ đang tìm cách tiếp
tục làm giảm số người tử vong vì xe cộ. Chiến dịch “Hãy nghĩ” ở Anh nhằm làm cho các lái
xe thấy được hậu quả hành động của họ - việc uống rượu, sử dụng chất ma túy hay lái xe quá
nhanh ảnh hưởng như thế nào đến sự ứng phó đối với tình huống cụ thể của họ. Nhiều nước

15
châu Âu đã phát động chiến dịch khuyến khích “các lái xe được chỉ định” tham gia vào một
nỗ lực nhằm hạn chế những tai nạn liên quan đến rượu. Tại Mỹ, gần đây đã hoàn thành
những dự án không cấp lại bằng lái xe cho những “lái xe mất trí”: những lái xe ăn uống ngay
trên vô lăng, sử dụng điện thoại khi điều khiển phương tiện và không đảm bảo an toàn chỗ
ngồi cho trẻ em.
Trên thế giới đã xuất hiện một chuyên ngành tâm lý học mới đó là Tâm lý học giao
thông. Các nghiên cứu về GT của các nhà tâm lý học trên thế giới thường tập trung về hành vi
ở người lái xe và các yếu tố ảnh hưởng đến hành động của họ trên đường: đặc điểm nhân
cách, độ tuổi, nhận thức, tình trạng sử dụng rượu, chất kích thích, không thắt dây an toàn, tình
trạng mệt mỏi, giao tiếp và tương tác xã hội của người lái xe, sử dụng điện thoại di động khi
điều khiển xe… Các thành tựu của bộ môn tâm lý học Giao thông đã được ứng dụng trong
việc thiết kế làn đường an toàn cho các phương tiện GT, giám sát và giáo dục những lái xe vi
phạm LGTĐB. [42]
Khi nghiên cứu về việc tắc nghẽn GT, Carlos Dagazo và Juan Munoz cùng các kỹ sư
của Viện nghiên cứu GT vận tải Bekeley (Mỹ) đã nhận thấy rằng: khi một con đường đông
đến một mức độ nào đó, các lái xe sẽ khó phối hợp với nhau hơn. Do không quan sát được
GT trên đường ở phạm vi rộng nên họ thường phản ứng mạnh hoặc quyết định tùy tiện: rẽ lối
khác, tăng tốc, tiếp tục đi chậm… vì vậy mà tạo ra một luồng GT vô tổ chức. [18]

thông tin, và trở thành những người sáng tạo và đóng góp cho hoạt động truyền thông. Và
hàng ngày, hàng giờ, các phương tiện truyền thông đại chúng đang thực hiện nhiệm vụ
“người đưa tin” và định hướng công chúng, góp phần truyền bá các tư tưởng, thông tin văn

17
hóa, chính trị, kinh tế, pháp luật đến với mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, chính sự phát triển
của các phương tiện truyền thông cũng đem đến cho người dân cơ hội được chủ động chọn
lọc thông tin truyền thông, điều này đặt ra cho những nhà truyền thông cần có những kế
hoạch thực hiện cụ thể, phù hợp với từng nhóm đối tượng mục tiêu trên cơ sở những nghiên
cứu tâm lý, xã hội khách quan, chính xác và thường xuyên được cập nhật. [31; 35]
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa nước nhà, xuất phát từ những vấn đề
tâm lý – xã hội, hoạt động truyền thông đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu. Phần
lớn là các bài báo, ấn phẩm phản ánh thực trạng hoạt động và phát triển của một số phương
tiện truyền thông đơn lẻ: báo, tạp chí, quảng cáo trên truyền hình… hoặc tác động của hoạt
động truyền thông tới các vấn đề của xã hội như cuốn “Cẩm nang hướng dẫn hoạt động
truyền thông thay đổi hành vi tăng cường sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ tình dục cho vị thành
niên và thanh niên”.
Ngoài các tác phẩm được biên dịch, các vấn đề cơ bản, tổng quan về hoạt động truyền
thông, các yếu tố ảnh hưởng của nó cũng đã được các tác giả Đào Thị Oanh; Trần Hữu
Quang đề cập đến trong các tác phẩm của mình. Gắn liền truyền thông với hoạt động xã hội
và các phương tiện, tác giả Trần Hữu Quang đã khẳng định vai trò của truyền thông - là một
trong những hoạt động căn bản của bất cứ một tổ chức xã hội nào, không có truyền thông thì
không thể thiết lập được các mối quan hệ giữa con người với con người, cũng như không thể
hình thành được cộng đồng, không thể có xã hội [29]. Bên cạnh đó, trong tác phẩm “Tâm lý
học truyền thông và giao tiếp”, tác giả Đào Thị Oanh cũng đã đưa ra các yếu tố trong quá
trình truyền thông, các dạng truyền thông và một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả lĩnh hội
thông điệp truyền thông [28]. Khi bàn về cơ chế tác động, ảnh hưởng xã hội của truyền thông
đại chúng, Tạ Ngọc Tấn đã phân tích sự phụ thuộc của hiệu quả xã hội của hoạt động truyền
thông với sự tiếp nhận của công chúng – người nhận tin. Tác giả đã khẳng định, việc nghiên
cứu, nắm rõ tính chất, đặc điểm tâm lý, nhu cầu của người nhận tin bao giờ cũng là một trong

Hiểu một cách đơn giản nhất, truyền thông là quá trình trao đổi thông tin giữa các chủ
thể thông qua hệ thống các ký, tín, dấu hiệu.
Trong các nghiên cứu văn hóa xã hội thì hoạt động truyền thông được xem như là
công cụ tâm lý nhằm hình thành các chuẩn mực và giá trị văn hóa mới cho cộng đồng.
Theo tác giả cuốn “Tâm lý học truyền thông và giao tiếp” Đào Thị Oanh, truyền
thông được hiểu như một quá trình giao tiếp cá nhân; được xem là một công cụ quan trọng
nhất, là cách cá nhân tiếp xúc đối với bên ngoài. Đồng thời, truyền thông cũng được hiểu như
một tiến trình, diễn ra liên tục trong đời sống cá nhân, bao gồm 8 yếu tố: nguồn phát tin, người
nhận tin, các cơ quan cảm nhận, các yếu tố chứa đựng thông điệp; thông điệp, sự đáp ứng, sự
phản hồi và hoàn cảnh/ bối cảnh xảy ra tiến trình truyền thông. [28]
Gắn liền truyền thông với tính chất của các phương tiện truyền thông đại chúng, tác giả
Trần Hữu Quang cho rằng: “Truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội trong đó thông
tin được truyền đạt một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện
truyền thông đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình”. [29]
Từ quan điểm của mình, chúng tôi cho rằng truyền thông là quá trình truyền phát tin,
tác động tới tâm lý, ý thức của con người nhằm điều khiển ý thức, tâm thế và quan điểm của
khách thể theo mục tiêu đã định sẵn.
1.2.2 Khái niệm hoạt động truyền thông:
Trên cơ sở tâm lý học, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với khái niệm phản ánh bản chất,
tính xã hội của hoạt động truyền thông của tác giả Nguyễn Hữu Thụ trong cuốn “Tâm lý học
tuyên truyền, quảng cáo”, theo đó: hoạt động truyền thông là phương thức tác động tới tâm lý
của con người nhằm điều khiển ý thức, tâm thế và quan điểm của họ theo mục tiêu đã đặt ra
từ trước.[33]

20
Theo quan điểm của chúng tôi, hoạt động truyền thông là phương thức truyền đạt thông
tin của chủ thể truyền thông, thông qua các phương tiện truyền thông nhằm chuyển tải những
thông điệp, tác động tới tâm lý của khách thể với mục đích hình thành, điều khiển hoặc thay
đổi tâm thế và quan điểm của họ theo mục tiêu đã đặt ra từ trước.
1.2.2.1 Đặc điểm của hoạt động truyền thông:

lôi cuốn được chú ý của người nhận tin mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình ghi nhớ,
tác động hành vi của người nhận tin.
Hiệu quả lĩnh hội, ghi nhớ thông điệp truyền thông ở người nhận tin bị tác động bởi
quy luật của trí ngớ ngắn hạn của con người (ở mức 5±2 từ), sự sáng tạo, ấn tượng, lôi cuốn,
súc tích [33]. Theo tác giả cuốn sách “Tạo ra một thông điệp kết dính”, đảm bảo hiệu quả của
hoạt động truyền thông phải đáp ứng được các yếu tố: đơn giản, bất ngờ, cụ thể, đáng tin cậy,
gợi cảm xúc hoặc có thể sử dụng các câu chuyện như một cách truyền thông hiệu quả. [25]
- Kênh
Thông điệp truyền thông có thể đến với người dân qua kênh trực tiếp hoặc gián tiếp. Ở
kênh trực tiếp là cách thức truyền đạt trực tiếp mặt đối mặt giữa người truyền tin và người
nhận tin. Ở đây ngôn ngữ (từ; nghĩa; ý nghĩa và hàm ý, văn phạm, tiếng địa phương; phong
cách ngôn ngữ) và các yếu tố phi ngôn ngữ (hành động, nét mặt, ánh mắt, diện mạo, đồ đạc;
khoảng cách…) giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Ngoài ra, các yếu tố như thời gian và môi
trường (ánh sáng, khí hậu…) cũng ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả của hoạt động truyền
thông trực tiếp.

22
Kênh gián tiếp là cách thức truyền đạt thông điệp có sử dụng các phương tiện truyền
thông đại chúng như tivi, báo, đài, TV, panô, tờ rơi…Ở kênh truyền thông này, ngoài tính
chất đặc thù tạo nên ưu điểm của từng phương tiện truyền thông (mà chúng tôi sẽ đề cập tới ở
mục 3.3) thì cùng với ảnh hưởng của ngôn ngữ, các yếu tố khác của phương tiện truyền thông
như: kí hiệu, dấu hiệu, màu sắc cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả của quá trình lĩnh
hội thông điệp truyền thông. Kí hiệu, dấu hiệu không chỉ những góp phần truyền đạt thông tin
mà còn tạo ra xúc cảm và tình cảm cho người nhận thông điệp truyền thông. Việc sử dụng
các các kí hiệu, dấu hiệu đơn giản, phù hợp, dễ hiểu sẽ giúp người nhận tin và ghi nhớ thông
điệp truyền thông một cách tốt hơn. Bên cạnh đó, tùy vào phương tiện truyền thông, các nhà
tổ chức hoạt động truyền thông cũng cần chú ý đến các quy luật tâm lý của các quá trình cảm
giác, tri giác trong việc sử dụng các yếu tố màu sắc, âm thanh, ánh sáng… đem lại rung cảm,
thỏa mãn, ấn tượng sâu sắc và hiệu quả ghi nhớ tối ưu ở người nhận tin.
- Người nhận tin:

thì dễ đi vào trí nhớ lâu bền và có thể trở thành niềm tin của người nhận tin. Để tăng cường
khả năng ghi nhớ thông điệp đòi hỏi các nhà truyền thông cần vận dụng các quy luật của trí
nhớ như: quy luật tính lựa chọn của ghi nhớ; quy luật “số chết” trong trí nhớ; quy luật “hiệu
ứng vị trí” trong khi thiết kế các sản phẩm truyền thông.
- Cơ chế liên hệ ngược:
Đây là một cơ chế rất quan trọng của hệ thống truyền thông giúp cho người thực hiện
công tác truyền thông kịp thời nắm bắt, điều chỉnh cũng như đánh giá hiệu quả hoạt động
truyền thông của mình.

Trích đoạn Hiệu quả của chiến dịch truyền thông “Hãy đội mũ bảo hiểm Đừng ngụy biện” đối với ngƣời dân Hà Nội: Các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động truyền thông Luật giao thông đƣờng bộ Hành vi chấp hành Luật giao thông đƣờng bộ của ngƣời dân Hà Nộ Một số biện pháp tâm lý giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông Luật Giao thông đƣờng bộ trên truyền hình, panô, áp phích và BQC:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status