ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TÂM LÝ HỌC LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG TỔ CHỨC TRÒ
CHƠI TOÁN HỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI
CỦA GIÁO SINH TRƯỜN TRUNG CẤP
MẦM NON THÁI BÌNH CHUYÊN NGÀNH : TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ : 60 31 80
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS. TS. NGUYỄN SINH PHÚC
NGƯỜI THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ TUYẾT
1.2.1. Kỹ năng và các giai đoạn hình thành kỹ năng 10
1.2.1.1. Khái niệm kỹ năng 10
1.2.1.2. Các giai đoạn hình thành kỹ năng 12
1.2.1.3. Các cấp độ hình thành kỹ năng 13
1.2.2. Kỹ năng tổ chức 15
1.2.3. Biểu tượng toán học 19
1.2.4. Trò chơi 21
1.2.5. Trò chơi toán học 22
1.3. Đặc điểm nhận thức của giáo sinh trường THSP mầm non Thái
Bình 24
1.4. Đặc điểm nhận thức các biểu tượng toán học của trẻ MG 5-6 tuổi 26
1.5. Kỹ năng tổ chức TCTH cho trẻ 5-6 tuổi của giáo sinh trường
THSP 28
1.5.1. Khái niệm kỹ năng tổ chức TCTH 28
1.5.2. Quy trình tổ chức hướng dẫn trò chơi học tập 30
1.5.3.Quy trình hướng dẫn TCTH 31
1.5.4. Quy trình hình thành kỹ năng tổ chức TCTH của giáo sinh
32
1.6. Các kỹ năng tổ chức TCTH của giáo sinh đang thực hiện 34
Kết luận chương 1 42
Chương 2: Tổ chức nghiên cứu 43
2.1. Mẫu khách thể nghiên cứu 43
2.2. Nội dung nghiên cứu 43
2.2.1. 5 trò chơi toán học cho trẻ 5 –6 tuổi 44
2.2.2. Nội dung đánh giá thực trạng kỹ năng TCTH của giáo sinh 49
2.2.3. Nội dung thực nghiệm 52
2.2.3.1. Giả thiết ngiên cứu 52
2.2.2.2. Tổ chức thực nghiệm 55
2.3. Phương pháp nghiên cứu 57
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận 57
2- CSGD: Chăm sóc giáo dục
3- MG: Mẫu giáo
4- TCTH: Trò chơi toán học
5- SP: Sư phạm
6- PP: Phương pháp
7- Ke: Kém
8- Y: Yếu
9- Kh: Khá
10- g: Giỏi
Trang 1
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay. Tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo là những yếu tố đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển
của đất nước. Ở bất cứ lĩnh vực nào khi đào tạo con người lao động không
những phải quan tâm tới trang bị kiến thức mà còn phải tạo cho họ một kỹ
năng làm việc. Mỗi một ngành, một việc có những kỹ năng riêng.Trong lĩnh
vực đào tạo sư phạm, bất kỳ một quá trình dạy học nào đều dẫn đến câu hỏi “
Chúng ta cần dạy cái gì hoặc cần học cái gì? Chúng ta cần dạy lý thuyết gì ?
Cần dạy kỹ năng gì ? Cái gì thuộc về thái độ ? Hành trang của các thầy cô
giáo tương lai là tri thức, kỹ năng và thái độ, kỹ năng ở đây là kỹ năng giảng
dạy và kỹ năng tổ chức. Tri thức và thái độ là những lĩnh vực đã được rất
nhiều người nghiên cứu còn kỹ năng từ lâu đã được nhiều nhà tâm lý học và
giáo dục học quan tâm, nhưng đến nay đề tài về kỹ năng còn khiêm tốn so
với các loại đề tài khác, đặc biệt là kỹ năng, kỹ năng tổ chức ở ngành học
mầm non chưa được nghiên cứu nhiều .
Trong lĩnh vực giáo dục mầm non, không một nhà nghiên cứu nào bỏ
qua vấn đề hoạt động chơi của trẻ, tất cả đã khẳng định rằng hoạt động chơi là
hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi mầm non . Nhà giáo dục học nổi tiếng A.X.
trung học sư phạm mầm non Thái Bình
4. Khách thể nghiên cứu
107 giáo sinh hệ 12+2 khoá 2004 – 2006 là khách thể chính
27 giáo viên trường THSP mầm non Thái Bình và giáo viên mầm non ở các
trường mầm non có giáo sinh thực tập
500 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Trang 3
5. Giả thiết khoa học
Trong quá trình đào tạo, nếu giáo sinh được trang bị đầy đủ, có hệ thống
kiến thức về kỹ năng tổ chức trò chơi toán học và được các giáo viên sư
phạm, thực hành kiểm tra đều đặn” thì thu được kết quả là giáo sinh có khả
năng tổ chức tốt trò chơi toán học, tạo cho trẻ hứng thú toán học cao.
6. Nhiệm vụ của đề tài
- Khái quát hoá những vấn đề lý luận về kỹ năng, kỹ năng tổ chức, kỹ năng tổ
chức trò chơi toán học, trò chơi, trò chơi toán học, biểu tượng toán.
- Điều tra thực trạng kỹ năng tổ chức trò chơi toán học cho trẻ 5 – 6 tuổi của
giáo sinh trường THSP mầm non Thái Bình
- Áp dụng một số biện pháp hình thành kỹ năng tổ chức trò chơi toán học cho
trẻ 5 –6 tuổi của giáo sinh trường THSP mầm non Thái Bình .
7. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu ở giáo sinh, giáo viên trường THSP mầm non
Thái Bình và giáo viên mầm non, trẻ 5-6 tuổi ở tỉnh Thái Bình
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ đề tài, sử dụng hệ thống các phương pháp sau :
8.1: Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu những tài liệu có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề
tài
8.2: Phương pháp điều tra viết
- Cho giáo sinh làm các bài kiểm tra viết sau khi kết thúc môn học để kiểm
tra kỹ năng nhận thức của giáo sinh sau khi học lý thuyết.
* Lớp thực nghiệm được trang bị kiến thức còn lớp đối chứng chỉ trang bị
cách đánh giá cho giáo viên hướng dẫn thực tập.
Trang 5
8.6: Các kết quả được sử lý bằng phương pháp thống kê toán học.
Trang 6
PHẦN THỨ HAI : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới :
Ngay từ khi xuất hiện loài người, con người đã biết truyền những kinh
nghiệm lao động của mình từ thế hệ này cho thế hệ sau. Lúc đầu, khi hình
thức lao động còn thô sơ, người lớn trực tiếp truyền kinh nghiệm của mình
cho trẻ trong quá trình lao động cùng nhau. Sau dần, khi công cụ lao động
phức tạp dần lên, trẻ không thể trực tiếp tham gia vào quá trình lao động,
người lớn đã làm những đồ dùng thu nhỏ giống như công cụ lao động để cho
trẻ luyện tập. Như vậy, việc rèn kỹ năng lao động xuất hiện cùng với lịch sử
xuất hiện loài người. Tầm quan trọng của kỹ năng lao động đã được nhiều nhà
triết học cổ đại đề cập đến. Nhà bác học lỗi lạc Hy Lạp cổ đại Arixtốt trong
cuốn “Bàn về tâm hồn” cuốn sách đầu tiên của loài người về tâm lý học đã
đặc biệt quan tâm đến phẩm hạnh của con người. Theo ông, nội dung của
phẩm hạnh đó là [21] “ Biết định hướng, biết làm việc, biết tìm tòi “Có nghĩa
là con người có phẩm hạnh là con người phải có kỹ năng làm việc. Vấn đề kỹ
năng còn được nhiều nhà triết học Phương Tây và Trung Hoa cổ đại nghiên
cứu, nhưng được nghiên cứu nhiều nhất là từ khi ngành tâm lý học ra đời.
Nhìn tổng thể, việc nghiên cứu kỹ năng được xuất phát từ hai quan
điểm trái ngược nhau, đó là:
- Nghiên cứu kỹ năng trên cơ sở của tâm lý học hành vi mà đại diện là các
Người đặt nền móng cho việc nghiên cứu hoạt động tổ chức và kỹ năng
tổ chức là nhà giáo dục học nổi tiếng L.I. Umanxki. Ông đã nêu rõ khái niệm
Trang 8
tổ chức, chỉ rõ cấu trúc hoạt động tổ chức trong tác phẩm “ Tâm lý và giáo
dục của công tác tổ chức “. Kết quả nghiên cứu của ông được vận dụng cho
việc nghiên cứu hoạt động tổ chức, kỹ năng tổ chức trong các lĩnh vực khác
nhau [39].
N.V. Kyzmina đưa ra cấu trúc tâm lý hoạt động của người giáo viên,
trong đó bà cho rằng “ Hoạt động tổ chức là thành phần tất yếu trong hoạt
động sư phạm “. Tác giả đã đề cập đến kỹ năng tổ chức với tư cách là hoạt
động độc lập tương đối. Hoạt động tổ chức bao gồm nhiều khâu, nhiều giai
đoạn, là hoạt động chuyên biệt của người đứng đầu tập thể nhưng không tách
khỏi các hoạt động khác như lao động, học tập do tập thể tiến hành. Tác giả
đã nghiên cứu kỹ năng tổ chức các hoạt động của sinh viên và chỉ ra một số
kỹ năng chủ đạo trong hệ thống kỹ năng tổ chức [35]. Về hoạt động tổ chức
cũng như kỹ năng tổ chức còn được nhiều tác giả quan tâm như : B.M. Teplôv
; N.D.Lêvitôv ; A.I.Serbacôv
Trò chơi có ngay từ thời cổ đại . Các nhà triết học đã nhìn thấy vai trò
của trò chơi trẻ em . Một trong những nhà triết học lớn nhất thời cổ đại là
Platon khi phân chia các giai đoạn trong hệ thống giáo dục đã cho rằng, trẻ từ
3- 4 tuổi được giáo dục tại gia đình, trẻ chơi những trò chơi cùng nhau dưới
sự hướng dẫn của phụ nữ. Ông khuyên “Đừng ép buộc, cưỡng bức dạy trẻ nhỏ
những kiến thức khoa học mà thông qua trò chơi, khi đó anh dễ nhìn thấy trẻ
hướng về cái gì”.
Quan điểm bản chất xã hội của trò chơi, người đầu tiên đưa ra quan
điểm này là nhà triết học người Đức V. Vunt. Ông viết: “Trò chơi đó là lao
động của trẻ nhỏ. Không có một trò chơi nào lại không có trong mình một
nguyên mẫu, một trong dạng lao động nghiêm túc”[2].
G.V. Plêkhanôv đã khẳng định trò chơi xuất hiện trước lao động và trên
cơ sở của lao động. Ông cho rằng trò chơi là một hoạt động phản ánh, thông
Vấn đề nghiên cứu kỹ năng đã được các nhà tâm lý học quan tâm nhiều.
Nguyễn Đức Minh và các cộng sự đã đưa ra 87 kỹ năng giảng dạy của người
giáo viên trong cuốn “Một số vấn đề tâm lý học sư phạm và lứa tuổi học sinh
Việt Nam”- Nhà xuất bản giáo dục 1975 [12].
Nghiên cứu kỹ năng lao động có Trần Trọng Thuỷ, Đỗ Huân, Vũ Hữu
Nghiên cứu kỹ năng sư phạm có các tác giả Nguyễn Như An, Nguyễn Quang
Uẩn, Ngô Công Hoàn
Lê Văn hồng và các cộng sự đã đưa ra các giai đoạn hình thành kỹ năng của
học sinh phổ thông [7]
Nghiên cứu kỹ năng tổ chức trò chơi có các tác giả như : Trần Quốc Thành
với đề tài “Kỹ năng tổ chức trò chơi của chi đội trưởng chi đội thiếu niên tiền
phong Hồ Chí Minh”. Hoàng Thị Oanh với đề tài “ Kỹ năng tổ chức trò chơi
phân vai có chủ đề của sinh viên trường cao đẳng nhà trẻ – mẫu giáo [17,18].
Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp có Nguyễn Thạc, Hoàng Anh
Trong lĩnh vực giáo dục mầm non đã có nhiều công trình nghiên cứu về trò
chơi. Điển hình là các tác giả với các tác phẩm sau:
Nguyễn Thị Ngọc Chúc với tác phẩm “ Hướng dẫn tổ chức hoạt động
vui chơi “ [2]. Tác giả đã đề cập đến các loại trò chơi, mức độ các mối quan
hệ trong trò chơi. Đó là: chơi không có tổ chức, chơi một mình, chơi cạnh
nhau, chơi với nhau trong một thời gian ngắn, chơi với nhau lâu trên cơ sở
hứng thú với nội dung chơi. Tác giả đã khẳng định kết quả của 2 mức độ cuối
phụ thuộc vào kỹ năng hướng dẫn trẻ chơi của mỗi giáo viên [2].
Các công trình nghiên cứu của Nguyễn Ánh Tuyết với rất nhiều tác
phẩm như: “ Giáo dục trẻ mẫu giáo trong nhóm bạn bè “; “ Tâm lý học trẻ em
trước tuổi đi học “; “ Tâm lý học trẻ em “ Tác giả đã phân tích rất cụ thể
bản chất xã hội của trò chơi, cấu trúc, đặc điểm hoạt động chơi của trẻ
[29,30].
Trang 11
Đặc biệt các công trình nghiên cứu của Hoàng Thị Oanh về kỹ năng tổ
chức trò chơi đóng vai có chủ đề của sinh viên trường cao đẳng nhà trẻ –mẫu
Trong tâm lý học có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng
Tác giả A.V. Krutexki cho rằng “ Kỹ năng là các phương thức thực
hiện hoạt động, những cái mà con người đã nắm vững “. Theo ông chỉ cần
nắm vững phương thức hành động là con người đã có kỹ năng, không cần đến
kết quả của hành động [31] .
Tác giả K.K. Platônôv và G.G. Gôlubev cho rằng “ Kỹ năng là khả
năng của con người thực hiện một hoạt động bất kỳ nào đó hay các hành động
trên cơ sở kinh nghiệm cũ [31] .
Tác giả Trần Trọng Thuỷ cho rằng : Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành
động, con người nắm vững cách thức hành động tức là nắm vững kỹ thuật
hành động là có kỹ năng [25].
Tác giả Đào Thị Oanh cho rằng : Kỹ năng là phương thức vận dụng tri
thức vào hoạt động thực hành đã được củng cố [16].
Tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng cho rằng: Kỹ
năng là khả năng vận dụng kiến thức ( khái niệm, cách thức, phương pháp )
để giải quyết một nhiệm vụ mới [7].
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng: Kỹ năng là năng lực của con
người biết vận dụng các thao tác của một hành động theo quy trình đúng đắn
[28].
Còn trong “Từ điển tiếng Việt” thì khái niệm kỹ năng được nhìn nhận
như sau “ Kỹ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn “
[23]
Như vậy kỹ năng có rất nhiều quan điểm khác nhau, tổng kết lại ta thấy có 2
quan niệm về kỹ năng như sau :
Trang 13
- Quan niệm thứ nhất: kỹ năng được xem xét nghiêng về mặt kỹ thuật của
thao tác hay hành động, hoạt động. Đó là các quan niệm của V.A.
Krutexki, Trần Trọng Thuỷ
- Quan niệm thứ hai: kỹ năng được xem xét nghiêng về năng lực của con
người. Theo quan niệm này, kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính
học sinh như sau :
- Giai đoạn 1: học sinh biết cách tìm tòi để nhận xét ra yếu tố đã cho, yếu tố
phải tìm và quan hệ giữa chúng.
- Giai đoạn 2: học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các
bài tập, các đối tượng cùng loại .
- Giai đoạn 3: xác định được mô hình khái quát và các kiến thức tương ứng
[7]
Hoàng Thị Oanh cho rằng kỹ năng được hình thành theo 4 giai đoạn sau
- Giai đoạn 1: giai đoạn nhận thức
- Giai đoạn 2: giai đoạn làm thử
-Giai đoạn 3: giai đoạn kỹ năng bắt đầu hình thành
-Giai đoạn 4 : giai đoạn kỹ năng được hoàn thiện năng [17].
1.2.1.3. Các cấp độ hình thành kỹ năng
Kỹ năng được hình thành theo các cấp độ từ thấp đến cao, từ yếu, kém ở giai
đoạn nhận thức đến giỏi ở giai đoạn hoàn thiện kỹ năng. Nhiều người ở giai
đoạn hoàn thiện kỹ năng, nếu có năng khiếu kết hợp với sự chăm chỉ luyện
tập thì đã có kỹ xảo.
B.Bloom đã đưa ra 6 cấp độ phân loại của việc hình thành kỹ năng như sau
[40] :
Cấp độ 1: Nhớ lại.
Trang 15
Là biết ghi nhớ các tài liệu đã học. Cấp độ này bao gồm việc hồi tưởng lại
nhiều dữ liệu khác nhau, từ các dữ liệu thực tế tới các giả thiết hoàn chỉnh,
những gì cần làm là nhớ lại những thông tin phù hợp có liên quan.
Cấp độ 2: Hiểu
Là khả năng nắm bắt nội dung và ý nghĩa của tài liệu. Cấp độ này có thể
được thể hiện dưới hình thức diễn giải tài liệu bằng các phương tiện ngôn ngữ
khác nhau, bằng cách giải thích tài liệu và đánh giá các tài liệu.
Cấp độ 3: Áp dụng
Là khả năng ứng dụng các kiến thức và tài liệu đã đọc vào các tình huống cụ
2- Giai đoạn làm thử:
Là giai đoạn bắt đầu hành động. Có thể người ta hành động theo mẫu trên cơ
sở đã nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức, điều kiện hành động. Có thể
người ta từ từ hành động theo hiểu biết của mình. Ở giai đoạn này hành động
vẫn còn nhiều sai sót, các thao tác còn lúng túng, hành động có thể đạt kết quả
ở mức thấp hoặc có thể không đạt kết quả.
3- Giai đoạn kỹ năng bắt đầu hình thành:
Ởgiai đoạn này, người ta có thể hành động độc lập, ít sai sót, các thao tác
thuần thục hơn, hành động đạt kết quả trong những điều kiện quen thuộc.
4- Giai đoạn kỹ năng được hoàn thiện:
Là giai đoạn hành động thực hiện có kết quả không chỉ trong điều kiện
quen thuộc mà cả trong những điều kiện khác nhau, các thao tác thuần thục,
hành động thực hiện có sáng tạo.
1.2.2. Kỹ năng tổ chức
Trong “Từ điển tiếng Việt” tổ chức là sắp xếp các bộ phận cho ăn nhịp
với nhau để toàn bộ là một cơ cấu nhất định [23]
Nhà tâm lý học L.I.Umanxki đưa ra khái niệm: “Tổ chức nghĩa là làm
cho một tập hợp, một hiện tượng, một quá trình nào đó trở thành một hệ
Trang 17
thống, là sự sắp xếp các bộ phận thành một trình tự nhất định có quan hệ qua
lại với nhau”. Ông đã đưa ra cấu chúc của hoạt động tổ chức gồm 9 bước như
sau [39]:
1. Nắm vững nhiệm vụ
2. Tính toán khả năng của các thành viên trong tập thể
3. Xác định phương tiện và điều kiện hành động
4. Vạch kế hoạch
5. Phổ biến công việc và giao nhiệm vụ
6. Xác định các mối quan hệ lẫn nhau trong tập thể
7. Lập các mối quan hệ với bên ngoài
8. Thực hiện nhiệm vụ
các mục đích muốn tìm. Có thể nêu ra các kỹ năng sau:
- Biết dự kiến các hoạt động của người học.
- Biết xây dựng kế hoạch giáo dục và giảng dạy trong suốt cả một thời kỳ
công tác nhất định với người học có chú ý tới triển vọng và kết quả của
kế hoạch này.
- Biết thiết kế các biện pháp tác động giáo dục hứng thú học tập và hứng
thú nghề nghiệp của người học.
- Biết xây dựng các biện pháp kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập độc
lập của người học.
3- Thành phần kết cấu
Bao gồm các hành động có liên quan tới việc lựa chọn sắp xếp nội dung
thông tin học tập và giáo dục trong bài giảng, xemina và các biện pháp khác.
Thành phần này cũng xác định đặc điểm hoạt động của bản thân nhà giáo dục
và người học theo các nội dung nói trên. Nó cũng được biểu hiện ở một số kỹ
năng cơ bản sau:
Trang 19
- Biết lựa chọn và sắp xếp nội dung thông tin mà người học cần phải đạt
được.
- Dự kiến các hoạt động của người học mà qua đó họ sẽ lĩnh hội được
những thông tin cần thiết.
- Dự kiến các hoạt động và hành vi của bản thân nhà sư phạm sẽ phải như
thế nào trong quá trình tác động qua lại với người học.
4 - Thành phần giao tiếp
Bao gồm những hành động liên quan tới việc hình thành mối quan hệ hợp
lý có tính chất giáo dục giữa người cán bộ giảng dạy với người học tuân theo
mục đích giáo dục. Nó bao gồm những kỹ năng sau:
- Biết thiết lập mối quan hệ qua lại đúng đắn với các chủ thể khác mà nhà
giáo dục cần tác động.
- Biết xây dựng mối quan hệ đúng đắn với người lãnh đạo (theo chiều
dọc) và các đồng nghiệp (theo chiều ngang) trong hệ thống giáo dục.
Sơ đồ mối quan hệ lẫn nhau giữa các thành phần kỹ năng tổ chức của N.V .Kyzmina [24,
tr 145]
Từ những nội dung đã trình bày ở trên, chúng tôi đi đến kết luận:
Kỹ năng tổ chức là việc vận dụng có kết quả những tri thức đã có về
tổ chức vào thực tế trong hoạt động có mục đích.
Kỹ năng tổ chức chỉ được hình thành và phát triển trong hoạt động
tổ chức. Việc xác định kỹ năng tổ chức phải căn cứ vào trình tự của hoạt
động tổ chức cũng như quy tắc chung và những đặc thù của hoạt động có
mục đích.
Đây là khái niệm mà đề tài sử dụng làm công cụ nghiên cứu của mình.
1.2.3 : Biểu tƣợng toán học
Nhận thức
Thiết kế
Kết cấu
Giao tiếp
Tổ chức
Trang 21
Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng (nghĩa bóng là hình thức của nhận
thức, cao hơn cảm giác) cho ta hình ảnh của sự vật, hiện tượng còn giữ lại
trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt [23].
Những hình ảnh của biểu tượng có thể được thể hiện ra trong não của chủ thể
một cách nguyên vẹn (giống với đối tượng trong hiện thực) hoặc có thể đã
được sáng tạo (so với đối tượng đã tri giác).
Biểu tượng được coi là một sản phẩm vừa của quá trình trí nhớ, vừa của
quá trình tưởng tượng. Đó là sự phản ánh thực tế khách quan dưới hình thức
hình ảnh cụ thể. Biểu tượng không hiện ra ở não người rõ nét bằng lưu ảnh tri
giác, nó có thể lờ mờ hay biến dạng. Biểu tượng thường là những phần, những
đoạn nào đó của tri giác.
Đặc điểm chính của biểu tượng là vừa mang tính trực quan, vừa mang tính