Luận văn thạc sỹ tâm
lý
Nghiên cứu kỹ năng tổ chức
trò chơi toán học của học sinh
Trường Trung cấp Sư phạm
Mầm non Thái Bình
1
Lời cám ơn Em xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong khoa Tâm lý học Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã dạy dỗ em trong suốt quá trình học
tập Cao học.
Em xin bày tò lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Sinh Phúc
người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá
trình thực hiện luận văn.
Xin cảm ơn các đồng nghiệp ở trường Trung cấp Sư phạm Mầm non
Thái Bình và các em học sinh của trường đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn thầy cô và gia đình, bạn bè thân thiết đã động viên và
Bình” được tác giả nghiên cứu trên học sinh khoá 12 Trường Trung cấp Sư
phạm Mầm non Thái Bình.
Kết quả, số liệu nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn
trung thực. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những kết
quả nghiên cứu này chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình khoa
học nào.
Người cam đoan Nguyễn Thị Tuyết 4
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Lý do chọn đề tài
1.1
. Lý do lý luận
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo là những yếu tố đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của con
người. Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của người lao động được trang bị trong quá
trình giáo dục nghề nghiệp. Điều 33 của Luật giáo dục năm 2005 nêu rõ “Mục
tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng
nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý
thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho
người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập
bộc lộ khả năng tư duy, tưởng tượng, tình cảm, tính tích cực, nhu cầu giao
tiếp, tính đoàn kết, kỷ luật Trò chơi là xã hội thu nhỏ của trẻ. Trong khi chơi
trẻ vừa sáng tạo, vừa học hỏi, vừa củng cố kiến thức đã lĩnh hội trước đó.
1.2. Lý do thực tiễn
Là nơi đào tạo ra giáo viên mầm non tương lai, vấn đề rèn kỹ năng cho
học sinh là vấn đề then chốt của các trường sư phạm mầm non. Trong các tổ
hợp kỹ năng sư phạm thì kỹ năng tổ chức trò chơi là kỹ năng rất quan trọng
đối với các cô giáo mầm non tương lai vì giáo dục trẻ mầm non luôn đứng
trên quan điểm “Học bằng chơi, chơi mà học” .
Qua nhiều năm giảng dạy môn “Phương pháp hướng dẫn hình thành
biểu tượng toán ban đầu cho trẻ mầm non “, qua các buổi kiến tập, thực tập ở
các trường mầm non chúng tôi thấy các kỹ năng tổ chức trò chơi toán học của
học sinh còn yếu. Do vậy cần phải có những biện pháp tâm lý-giáo dục nhằm
góp phần nâng cao và hoàn thiện kỹ năng tổ chức trò chơi toán học cho học
sinh.
6
Xuất phát từ các lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu kỹ năng
tổ chức trò chơi toán học cho trẻ 5-6 tuổi của học sinh trường TCSP mầm non
Thái Bình” 7
2 . Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và một số biện pháp nhằm hình
thành, nâng cao, hoàn thiện kỹ năng tổ chức trò chơi toán học cho trẻ 5-6 tuổi
của học sinh trường TCSP mầm non Thái Bình .
3 . Đối tượng nghiên cứu
8.1: Phương pháp nghiên cứu tài liệu
8.2: Phương pháp điều tra viết
8.3: Phương pháp quan sát
8.4: Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn
8.5: Phương pháp thực nghiệm : Đề tài đưa ra giả thuyết
“Nếu học sinh được trang bị các kỹ năng tổ chức trò chơi toán học một
cách có hệ thống và được bồi dưỡng quy trình tổ chức trò chơi toán học
trước khi đi thực tập tốt nghiệp thì kết quả tổ chức trò chơi toán học ở
học sinh và trẻ được nâng lên “.
8.6: Các kết quả được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học.
- Sử dụng công thức tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số tương
quan, hệ số khác biệt giữa các nhóm đại lượng.
- Số liệu được tính bằng phần mềm Exell
9
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đại diện cho hướng nghiên cứu này có các tác giả: A.G. Côvaliôv; V.X.
Kyzin; A.V. Pêtrôvxki Các tác giả này đi sâu nghiên cứu bản chất khái niệm
kỹ năng, các quy luật hình thành và mối liên hệ giữa kỹ năng, kỹ xảo [4].
Hướng thứ hai: Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể trong các lĩnh vực
khác nhau, chẳng hạn:
- Trong lĩnh vực lao động công nghiệp: V.V. Tsebưseva; K.K. Platônôv.
Các tác giả nghiên cứu kỹ năng trong mối quan hệ giữa con người với
máy móc, công cụ, phương tiện lao động [25].
- Trong lĩnh vực hoạt động sư phạm, hoạt động lao động có các tác phẩm
của các tác giả như: N.D. Lêvitôv; X.I. Kixegôv; G.X.Kaxchuc [12].
- Trong lĩnh vực hoạt động tổ chức sư phạm được đề cập trong các nghiên
cứu của N.V. Kuzmina ; L.T. Tiuptia [35]
Mặc dù các hướng nghiên cứu khác nhau nhưng nhìn chung, các tác giả
không có những quan điểm trái ngược nhau về khái niệm kỹ năng mà những
quan điểm đó thường bổ sung cho nhau.
Về hoạt động tổ chức và kỹ năng tổ chức được nhiều tác giả chú ý tới.
Đầu thế kỷ XX, F.W. Taylo cùng các đồng sự cho rằng tổ chức càng hoạch
định, và thực hiện càng hợp lý bao nhiêu thì càng có khả năng phát triển để
tạo lên hiệu quả bấy nhiêu và kết quả là sản xuất phát triển. Quan điểm này
cho ta thấy vai trò của việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch trong hoạt
động tổ chức.
Người đặt nền móng cho việc nghiên cứu hoạt động tổ chức và kỹ năng
tổ chức là nhà giáo dục học nổi tiếng L.I. Umanxki. Ông đã nêu rõ khái niệm
tổ chức, chỉ rõ cấu trúc hoạt động tổ chức trong tác phẩm “Tâm lý và giáo dục
của công tác tổ chức“. Kết quả nghiên cứu của ông được vận dụng cho việc
11
nghiên cứu hoạt động tổ chức, kỹ năng tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau
[39].
Người có công lớn đặt nền móng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu trò
chơi là nhà tâm lý học Xô Viết L.X.Vưgôtxki. Ông đã khởi xướng xây dựng
một học thuyết mới về tâm lý học trẻ em nói chung và về trò chơi nói riêng.
Những luận điểm cơ bản trong học thuyết Vưgôtxki về trò chơi bao gồm
những vấn đề sau [33]:
- Khẳng định bản chất xã hội và tính hiện thực của trò chơi trẻ em.
- Khẳng định vai trò trung tâm của trò chơi trẻ em đối với sự phát triển
tâm lý trẻ.Trò chơi chính là động lực phát triển và tạo ra “vùng phát triển
gần”.
- Trò chơi trẻ em không nảy sinh một cách tự phát mà do ảnh hưởng có ý
thức và không có ý thức từ phía người lớn xung quanh.
- Sự cần thiết phải vận dụng phương pháp phân tích, xác định “cấu trúc
đơn vị” của C.Mác vào nghiên cứu các chức năng tâm lý, trong đó có
việc nghiên cứu trò chơi.
- Không nên dừng lại ở nghiên cứu quan sát mà cần thiết phải tổ chức các
nghiên cứu thực nghiệm về trò chơi.
Đây là những luận điểm rất quan trọng cho việc hình thành hệ thống giáo dục
mầm non của Liên Xô những năm trước đây [28].
Như vậy trên thế giới vấn đề kỹ năng tổ chức trò chơi đã có từ rất sớm và
ngày càng được nhiều người quan tâm, nghiên cứu . Hướng mới nhất hiện
nay các nhà nghiên cứu đang chú trọng đến là hoàn thiện các kỹ năng tổ
chức những trò chơi đa dạng mang tính tích hợp các môn học để tạo cho
trẻ nhỏ những hứng thú nhận thức trong quá trình chơi.
1.1.2. Ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu kỹ năng đã được các nhà tâm lý học quan tâm nhiều.
Nguyễn Đức Minh và các cộng sự đã đưa ra 87 kỹ năng giảng dạy của người
13
giáo viên trong cuốn “Một số vấn đề tâm lý học sư phạm và lứa tuổi học sinh
vai có chủ đề cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi và 4-5 tuổi học sinh phải có tối thiểu
20 kỹ năng”. Để tổ chức tốt trò chơi đóng vai có chủ đề cho trẻ 5-6 tuổi học
sinh cần có tối thiểu 28 kỹ năng [17,18]. Đối với trò chơi toán học đã có một
số công trình nghiên cứu như:
- “Tìm hiểu biểu tượng số học ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi “ của Lê Thị Hài [6].
- “Một số biện pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm hình thành biểu tượng
về thiên nhiên cho trẻ mẫu giáo lớn“ của Lê Bích Ngọc [15].
Các công trình trên nghiên cứu hệ thống và tỷ mỷ sự hình thành các biểu
tượng toán học, các tác giả cũng đã khẳng định rằng việc hình thành và củng
cố biểu tượng toán qua trò chơi toán học là rất có ý nghĩa trong quá trình cho
trẻ làm quen với biểu tượng toán sơ đẳng.
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi học tập,
nghiên cứu việc hình thành các biểu tượng toán cho trẻ của các trường trung
học sư phạm mầm non và các trường cao đẳng nhà trẻ – mẫu giáo ở cả 2 miền
Nam Bắc.
Như vậy việc nghiên cứu kỹ năng tổ chức trò chơi cho trẻ mầm non ở
Việt Nam đã có nhiều. Mỗi tác giả nghiên cứu một hướng khác nhau nhưng
tất cả đề hướng đến mục đích là khẳng định bản chất của trò chơi, các quy
trình hướng dẫn trẻ chơi, những biện pháp hướng dẫn trò chơi. Còn các kỹ
năng tổ chức trò chơi cho trẻ mầm non của sinh viên được nghiên cứu bài bản
nhất là của Hoàng Thị Oanh còn kỹ năng tổ chức trò chơi toán học của sinh
viên thì đến nay vẫn còn rất ít. Chính vì thế việc nghiên cứu vấn đề này càng
trở lên cần thiết góp phần vào việc đào tạo nghề cho giáo viên mầm non
tương lai, đáp ứng đòi hỏi thực tiễn của nước ta hiện nay.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Kỹ năng và các giai đoạn hình thành kỹ năng
1.2.1.1. Khái niệm kỹ năng
15
quan niệm này là các tác giả như: K.K. Platônôv, Nguyễn Quang Uẩn,
Ngô Công Hoàn, Nguyễn Ánh Tuyết
Về thực chất, hai quan niệm trên không phủ nhận nhau mà chỉ có khác nhau ở
chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của kỹ năng cũng như đặc tính
của chúng .
1.2.1.2. Các giai đoạn hình thành kỹ năng
Theo K.K. Platônôv thì sự hình thành kỹ năng diễn ra theo 5 giai đoạn và
theo ông đây cũng chính là 5 mức độ hình thành kỹ năng.
- Giai đoạn 1: giai đoạn có kỹ năng sơ đẳng.
Ở giai đoạn này, con người ý thức được mục đích hành động và tìm kiếm
cách thức hành động dựa trên vốn hiểu biết và kỹ xảo đời thường, hành động
được thực hiện bằng cách thử và sai .
- Giai đoạn 2: giai đoạn biết cách làm nhưng không đầy đủ.
Ở giai đoạn này, con người có hiểu biết về cách thức thực hiện hành động,
sử dụng các kỹ xảo đã có nhưng không phải là kỹ xảo chuyên biệt dành cho
hoạt động này.
- Giai đoạn 3: giai đoạn có những kỹ năng chung mang tính chất riêng lẻ.
Ở giai đoạn này, con người có hành loạt kỹ năng phát triển cao nhưng còn
mang tính chất riêng lẻ, các kỹ năng này cần thiết cho các dạng hoạt động
khác nhau. Ví dụ như: kỹ năng kế hoạch hoá hoạt động, kỹ năng tổ chức hoạt
động v.v
- Giai đoạn 4: giai đoạn có kỹ năng phát triển cao.
Ở giai đoạn này, con người biết sử dụng sáng tạo vốn hiểu biết và kỹ xảo,
đã có ý thức được không chỉ mục đích hành động mà cả động cơ lựa chọn
cách thức đạt mục đích.
- Giai đoạn 5: giai đoạn có tay nghề.
Ở giai đoạn này, con người biết sử dụng một cách sáng tạo đầy triển vọng
các kỹ năng khác nhau [38]
18
Là khả năng ứng dụng các kiến thức và tài liệu đã đọc vào các tình huống cụ
thể.
Cấp độ 4: Phân tích
Là khả năng mổ xẻ các tài liệu thành các bộ phận hoặc từng phần nhỏ để có
thể hiểu được cấu trúc của tài liệu hoặc sự cấu thành của một vấn đề.
Cấp độ 5: Tổng hợp
Là khả năng tập hợp các thành viên, bộ phận, ý kiến để tạo lên một tổng thể
mới. Bao gồm việc tạo ra một thông tin độc đáo, một kế hoạch hoạt động
hoặc
đúc kết các mối quan hệ có liên quan. Ở mức độ này đòi hỏi sự sáng tạo.
Cấp độ 6: Đánh giá
Là khả năng xác định giá trị của tài liệu theo mức nhất định. Sự đánh giá phải
dựa trên các tiêu chí nhất định.
Là những người giáo viên sư phạm, nhiệm vụ là đào tạo ra các thầy cô
giáo để dạy trẻ em ở nhà trẻ, mẫu giáo nên theo chúng tôi thì vừa phải xem kỹ
năng là kỹ thuật thực hiện các thao tác của hoạt động nhưng cũng phải quan
tâm đến kết quả thực hiện các thao tác đó. Kỹ năng được xem xét như một
năng lực, một vốn quý của con người và kỹ năng ở mỗi người một khác nhau
.
Từ những nội dung đã trình bày ở trên theo chúng tôi: Kỹ năng là khả
năng vận dụng, thực hiện có kết quả các thao tác, hành động của từng
người theo một quy trình nhất định. Kỹ năng của mỗi người được hình
thành và hoàn thiện theo từng giai đoạn. Theo chúng tôi có 4 giai đoạn
hình thành kỹ năng sau:
1- Giai đoạn nhận thức:
Là giai đoạn con người nhận thức đầy đủ mục đích, cách thức, điều kiện hành
động. Ở giai đoạn này người ta chỉ nắm lý thuyết, chưa hành động thực sự.
sau [39]:
1. Nắm vững nhiệm vụ
20
2. Tính toán khả năng của các thành viên trong tập thể
3. Xác định phương tiện và điều kiện hành động
4. Vạch kế hoạch
5. Phổ biến công việc và giao nhiệm vụ
6. Xác định các mối quan hệ lẫn nhau trong tập thể
7. Lập các mối quan hệ với bên ngoài
8. Thực hiện nhiệm vụ
9. Tổng kết, đánh giá
N.V. Kuzmina đặc biệt nghiên cứu sâu về hoạt động tổ chức của nhà sư phạm
bà đã nêu ra cấu trúc hoạt động tổ chức gồm 5 thành phần:
1. Thành phần nhận thức
2. Thành phần thiết kế
3. Thành phần kết cấu
4. Thành phần giao tiếp
5. Thành phần tổ chức
Muốn hoạt động tổ chức đạt kết quả, nhà tổ chức phải nắm vững và thực hiện
tốt các hành động trong 5 thành phần trên của hoạt động tổ chức. Có nghĩa là
nhà tổ chức phải có các kỹ năng tổ chức [34].
L.I. Umanxki cho rằng “ Kỹ năng tổ chức là khả năng của người tổ chức làm
việc có hiệu quả trong các tình huống khác nhau” [39]
N.V. Kuzmina đã đưa ra cấu trúc 5 thành phần chức năng của kỹ năng tổ chức
là:
1-Thành phần nhận thức :
Bao gồm những hành động có liên quan đến việc tích luỹ các tri thức mới
về mục đích giáo dục và phương tiện đạt được nó; về tình trạng của khách thể
được.
- Dự kiến các hoạt động của người học mà qua đó họ sẽ lĩnh hội được những
thông tin cần thiết.
22
- Dự kiến các hoạt động và hành vi của bản thân nhà sư phạm sẽ phải như
thế nào trong quá trình tác động qua lại với người học.
4 - Thành phần giao tiếp
Bao gồm những hành động liên quan tới việc hình thành mối quan hệ hợp
lý có tính chất giáo dục giữa người cán bộ giảng dạy với người học tuân theo
mục đích giáo dục. Nó bao gồm những kỹ năng sau:
- Biết thiết lập mối quan hệ qua lại đúng đắn với các chủ thể khác mà nhà
giáo dục cần tác động.
- Biết xây dựng mối quan hệ đúng đắn với người lãnh đạo (theo chiều
dọc) và các đồng nghiệp (theo chiều ngang) trong hệ thống giáo dục.
- Biết phối hợp hoạt động của mình với nhiệm vụ quốc gia được đề ra
cho
người lãnh đạo với tư cách là một công dân thực hiện nhiệm vụ đó.
5- Thành phần tổ chức
Bao gồm các hoạt động thực tiễn tư tưởng giáo dục để tổ chức cụ thể mối
quan hệ giữa chủ thể và khách thể của các tác động sư phạm. Hoạt động của
chủ thể và khách thể phải tuân theo thời gian và không gian phù hợp với hệ
thống các nguyên tắc và thời gian biểu mà quá trình giáo dục cần phải thoả
mãn để hướng vào việc đạt các kết quả giáo dục. Trong thành phần cũng được
thể hiện ở những kỹ năng cơ bản sau:
- Biết tổ chức thông tin trong quá trình thông báo cho người nghe.
- Biết tổ chức các loại hoạt động của người học sao cho kết quả phù hợp
với mục đích đề ra.
- Biết tổ chức hoạt động và hành vi của mình trong quá trình tác động qua
Đây là khái niệm mà đề tài sử dụng làm công cụ nghiên cứu của mình.
1.2.3. Biểu tượng toán học
Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng (nghĩa bóng là hình thức của nhận
thức, cao hơn cảm giác) cho ta hình ảnh của sự vật, hiện tượng còn giữ lại
trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt [23].
Nhận thức
Thiết kế Kết cấu Giao tiếp
Tổ chức
24
Những hình ảnh của biểu tượng có thể được thể hiện ra trong não của chủ thể
một cách nguyên vẹn (giống với đối tượng trong hiện thực) hoặc có thể đã
được sáng tạo (so với đối tượng đã tri giác).
Biểu tượng được coi là một sản phẩm vừa của quá trình trí nhớ, vừa của
quá trình tưởng tượng. Đó là sự phản ánh thực tế khách quan dưới hình thức
hình ảnh cụ thể. Biểu tượng không hiện ra ở não người rõ nét bằng lưu ảnh tri
giác, nó có thể lờ mờ hay biến dạng. Biểu tượng thường là những phần, những
đoạn nào đó của tri giác.
Đặc điểm chính của biểu tượng là vừa mang tính trực quan, vừa mang tính
khái quát nhờ có sự hỗ trợ lẫn nhau giữa hệ thống tín hiệu thứ nhất và hệ
thống tín hiệu thứ hai, trong đó hệ thống tín hiệu thứ nhất là xuất phát điểm về
những hình ảnh của biểu tượng. Hệ thống tín hiệu 2 làm nảy sinh biểu tượng
chung ở chủ thể, qua đó phản ánh những đặc trưng, những điểm có ý nghĩa cơ
bản đối với chủ thể hay những cái do bất thường gây lên ấn tượng [31].
Biểu tượng toán là những hình ảnh trực quan nảy sinh trong não người
về những con số, về hình dạng, về các đại lượng toán học [9].
J. Piaget cho rằng đứa trẻ 7 - 8 tuổi không tiếp nhận được khái niệm về