kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý trong rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của giáo sinh trường Trung cấp sư phạm mầm non Đắk Lắk - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục Việt Nam đang đổi mới toàn diện và đồng bộ theo hướng hiện
đại hóa, xã hội hóa, chuẩn hóa để hòa nhập với xu thế chung của thời đại, đưa
nền giáo dục nước nhà lên một tầm cao mới ngang tầm với các nước trong
khu vực và trên thế giới. Do sự biến động nhanh chóng của thực tiễn giáo dục
trong thời kỳ đổi mới hiện nay, việc dạy học trong các trường sư phạm càng
cần thiết phải gắn chặt với thực tiễn – môi trường hoạt động sau này của sinh
viên sư phạm.
Sản phẩm lao động của người thầy giáo là nhân cách học sinh do những
yêu cầu khách quan của xã hội quy định. Sản phẩm này là kết quả tổng hợp
của cả thầy lẫn trò nhằm biến những tinh hoa văn hóa nhân loại thành tài sản
riêng của trò. Đặc điểm đó của nghề dạy học quy định những phẩm chất tâm
lý cần phải có trong toàn bộ nhân cách của người thầy giáo. Sự phù hợp giữa
yêu cầu khách quan của nghề dạy học với những phẩm chất tương ứng trong
nhân cách của người thầy giáo sẽ tạo nên chất lượng của sản phẩm giáo dục.
Rõ ràng sự trau dồi nhân cách đối với người thầy giáo là một yêu cầu cấp
thiết trong sự nghiệp đào tạo.
RLNVSP là một trong những hoạt động đào tạo cơ bản của các trường sư
phạm, có tác dụng hình thành nên các kỹ năng sư phạm cho người thầy giáo
tương lai. Tuy nhiên thực tế hiện nay cho thấy trong quá trình RLNVSP, giáo
sinh phải trải qua rất nhiều khó khăn.
Đặc biệt tại Trường Trung cấp Sư phạm Mầm non Đăk Lăk có nhiều con
em người dân tộc Êđê. Trình độ đầu vào của các em khá thấp, bên cạnh đó khả
năng tiếng phổ thông, kỹ năng giao tiếp của các em còn nhiều hạn chế gây cho
các em rất nhiều khó khăn trong quá trình RLNVSP. Đứng trước những khó
khăn đó nếu như không biết cách ứng phó thì sẽ làm cho các em chán nản dẫn

1





- Khách thể nghiên cứu: 200 em giáo sinh người dân tộc Êđê thuộc
trường Trung cấp Sư phạm mầm non Đăk Lăk.
5. Giới hạn đề tài
Đề tài nghiên cứu thực trạng các KNƯP với những KKTL trong việc
RLNVSP của giáo sinh người dân tộc Ê đê trường Trung cấp Sư phạm Mầm
non Đăk Lăk.
6. Giả thuyết khoa học
- Hầu hết GS người dân tộc Êđê đều gặp phải KKTL trong hoạt động
RLNVSP, những KKTL phổ biến nhất là: Vốn ngôn ngữ và khả năng diễn đạt
còn hạn chế, thiếu tự tin vào khả năng của bản thân, mất bình tĩnh khi đứng ở
vị trí người giáo viên, chưa gắn được lý thuyết với thực hành.
- GS bước đầu có kỹ năng ứng phó với KKTL trong việc RLNVSP tuy
nhiên, còn nhiều hạn chế.
- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến KNƯP với những KKTL trong việc
RLNVSP của giáo sinh người dân tộc Êđê trường Trung cấp Sư phạm Mầm
non Đăk Lăk, trong đó các yếu tố ảnh hưởng chính là: vốn tri thức nghề
nghiệp, kinh nghiệm sống còn hạn chế, chưa có động cơ học tập đúng đắn và
khả năng giao tiếp bằng tiếng phổ thông yếu.
Nếu sử dụng các biện pháp như: mở lớp giáo dục kỹ năng sống, tổ chức
các buổi ngoại khóa học tập trao đổi kinh nghiệm, rèn tiếng phổ thông cho
giáo sinh... sẽ nâng cao được KNƯP với KKTL trong việc RLNVSP của GS
và làm hạn chế tối đa những khó khăn trên.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu văn bản
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

1.1.1. Nghiên cứu của các nhà tâm lý học nước ngoài
Trên thế giới có nhiều nước, nhất là các nước phát triển đã quan tâm
nghiên cứu KNƯP với hoàn cảnh khó khăn nói chung ở lứa tuổi vị thành niên
nhất là ở tuổi học sinh THCS và ứng dụng vào thực tiễn nhằm góp phần nâng
cao KNƯP cho các em.
Các nghiên cứu khẳng định: những hạn chế về KNƯP của vị thành niên
với hoàn cảnh khó khăn đã ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh
thần của các em.
Một nghiên cứu của Neru và Ronan (1988) chỉ ra rằng VTN không có kỹ
năng phòng ngừa những tác động của hoàn cảnh có thể dẫn đến stress, những
vấn đề về trầm cảm, lo âu. Để giải quyết được, VTN cần có niềm tin dựa trên
năng lực, xác lập được những KNƯP với những hoàn cảnh khó khăn của
chính bản thân VTN [53;1].
Theo Kovacs (1989), có nhiều vấn đề về tâm thần của VTN liên quan
đến sự kém hiểu biết về kỹ năng xã hội, đây cũng là một trong những nguyên
nhân làm tăng ý tưởng và hành vi tự sát [53; 2].

5


Một số tác giả cho rằng hành vi ứng phó có tính chất ổn định và được coi
là xu hướng ứng xử (Carver, Schenier, Weinntraub).Theo các tác giả này, con
người có cách ứng phó nhất định trong nhiều tình huống khác nhau. [57].
Cách ứng phó thể hiện mối liên quan của hành vi ứng phó với các sự
kiện của cuộc sống, với những trải nghiệm sớm của cá nhân được nhiều tác
giả quan tâm.
Các tác giả Myers L.B. Brewin C.R (1994) cho rằng đứa trẻ có những
trải nghiệm âm tính sớm thường có kiểu ứng phó dồn nén, ức chế khi chúng
gặp quang cảnh của sự kiện cũ hoặc những hoàn cảnh làm chúng liên tưởng
tới những sự kiện cũ, đặc biệt những sự kiện liên quan đến quan hệ gia đình.

quan tâm nghiên cứu. Mccubbin (1980) nghiên cứu ảnh hưởng có hại của
cách ứng phó sai lầm với stress gia đình và chỉ ra rằng nó có thể dẫn đến việc
phá hủy hệ thống gia đình. Figley (1993) quan tâm đến những chiến lược ứng
phó hiệu quả trong những tình huống stress gia đình. Fosson lại chỉ ra những
kiểu chuyển đổi trong gia đình có thể dẫn đến stress và cách mà các thành
viên ứng phó với sự chuyển đổi này.
Slavin (1991) - nhà tâm lý học đã nghiên cứu cách ứng phó của con
người đối với chuyển đổi của xã hội ngày nay và phát hiện thấy chuyển đổi xã
hội liên quan đến những vấn đề vĩ mô như quan hệ dân tộc, tục lệ, lễ nghi, sự
phân hóa kinh tế - xã hội và nó có liên quan đến thói quen, văn hóa của mỗi
gia đình, mỗi cá nhân. Cuộc sống của mỗi xã hội đòi hỏi mỗi cá nhân phải
thích nghi với chuyển đổi xã hội dường như đã gây ra những tình huống stress
sâu sắc. Vì thế hành vi ứng phó của mỗi con người đều chịu ảnh hưởng của
văn hóa, sự lựa chọn cách ứng xử của con người trước hoàn cảnh mới đã làm
nên văn hóa hành vi, nhiều khi nó liên quan đến chuẩn mực văn hóa, lễ nghi,
tập tục ở cấp độ xã hội. Vì vậy, những chương trình tự giáo dục, phân loại giá
trị và chế ngự stress là những phương pháp được đề nghị để ứng phó với
những chuyển đổi xã hội [27].
Tương tự như vậy, việc chuẩn bị tay nghề cho người giáo viên tương lai,
trong đó KNƯP với những KKTL trong quá trình RLNVSP là một trong

7


những yếu tố cơ bản để giúp giáo sinh có thể tháo gỡ được những KKTL giúp
hình thành được những kỹ năng sư phạm một cách hiệu quả nhất.
Tác giả O.A. Apdullina – giáo sư trường Đại học Matxcơva là người đặc
biệt quan tâm đến vấn đề kỹ năng sư phạm. Thông qua việc nghiên cứu công
tác của giáo viên trẻ, ông đưa ra nhận xét: Trong công tác của những người
giáo viên trẻ mới vào nghề do sự tách rời lý luận giáo dục, có sự suy nghĩ

Năm 2006, Viện Tâm lý học thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam đã
tiến hành nghiên cứu về cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó
khăn tại một số trường THCS, THPT, Trung tâm Giáo dục thường xuyên ở
Hà Nội và một số trẻ ở trường Giáo dưỡng số 2 Ninh Bình. Nghiên cứu đã
đưa ra một số những đặc điểm ứng phó của trẻ vị thành niên Việt Nam [27].
Bên cạnh nghiên cứu của Viện Tâm lý học, Trung tâm Thông tin và
Chương trình Giáo dục Lê Thánh Tông, Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố
Hồ Chí Minh với sự tài trợ của UNESSCO và UNICEF đã triển khai chương
trình giáo dục kỹ năng sống.
Gần đây cũng có một vài nghiên cứu đề cập đến vấn đề KNƯP như:
Năm 2008 – Công trình nghiên cứu cấp Bộ của tác giả Đào Thị Oanh
cùng các cộng sự “Thực trạng biểu hiện của một số xúc cảm và kỹ năng
đương đầu với xúc cảm tiêu cực ở thiếu niên hiện nay” đã chỉ ra hầu hết học
sinh thiếu niên chưa biết đương đầu hiệu quả với các xúc cảm tiêu cực và
chưa hình thành một phong cách đương đầu nhất định với xúc cảm tiêu cực.
Không thấy có sự khác biệt giữa học sinh nam và nữ; giữa các địa bàn khác
nhau; giữa các khối lớp và giữa các trường với nhau [31].
Năm 2008 – Luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Thị Thu Hồng “Kỹ năng
ứng phó với những khó khăn trong cuộc sống của học sinh Trung học Cơ sở
tại Hà Nội” cho thấy: học sinh THCS gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.
Tuy nhiên, việc lựa chọn các phương án tích cực đề giải quyết những khó
khăn của các em còn nhiều lúng túng do thiếu hiểu biết về mặt xã hội, đặc biệt
thiếu kỹ năng sống.

9


Bên cạnh đó có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các luận văn thạc sĩ,
các khóa luận tốt nghiệp, các bài tập lớn của sinh viên đã đề cập đến hoạt
động RLNVSP. Tuy nhiên các công trình trên chỉ dừng lại ở việc hình thành

quan trọng hơn cả là năng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắm
vững cách thức hành động là đem lại kết quả tương ứng.
Các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Thái Duy Tuyên cũng quan
niệm kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, là hệ thống thao tác trí tuệ và
thực hành, phương thức vận dụng tri thức vào thực hành để giải quyết các
nhiệm vụ đặt ra phù hợp với điều kiện cho trước. Con người nắm được các
hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng.
Tác giả Trần Trọng Thủy, trong cuốn “Tâm lý học lao động” cũng cho
rằng: “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động. Con người nắm bắt được cách
thức hành động tức là có kỹ thuật hành động và có kỹ năng” [34; 2].
Cách tiếp cận thứ hai: Xem xét kỹ năng không chỉ là kỹ thuật của hành
động mà còn là biểu hiện năng lực của con người. Theo quan niệm này thì kỹ
năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt sáng tạo, vừa có
tính mục đích. Khuynh hướng này có N.Đ.Lêvitôp, X.I Kixegôf, K.K.
Platônôp, Nguyễn Quang Uẩn, Phạm Tất Dong, Hà Thị Đức, Trần Quốc
Thành... Tuy cách trình bày khác nhau, nhưng hầu hết các tác giả đều thống
nhất: Kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả một nhiệm vụ về lý luận hay
thực tiễn nhất định, là năng lực vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đã
có vào hoạt động cá nhân.
Theo N.Đ.Lêvitôp thì “kỹ năng là sự thực hiện kết quả của một động tác
nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng
những cách thức đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành
động có kết quả”. Ông cho rằng, con người có kỹ năng không chỉ nắm bắt lý
thuyết về hành động mà phải biết vận dụng vào thực tế [13; 3].
K.K. Platônôp khảng định: “Cơ sở tâm lý của những kỹ năng là sự thông
hiểu mối liên hệ giữa mục đích và hành động, các điều kiện và phương thức
hành động” [29;77].

11



Thứ ba, để có kỹ năng đòi hỏi con người phải biết cách hành động trong
những điều kiện cụ thể và hành động theo quy trình, muốn vậy đòi hỏi phải có
sự tập luyện mới có được.
Thứ tư, tiêu chuẩn xác định sự hình thành và mức độ phát triển của kỹ
năng là: tính chính xác, tính thành thạo, tính linh hoạt và sự phối hợp nhịp
nhàng các động tác trong hoạt động.
Thứ năm, kỹ năng liên quan mật thiết đến năng lực của con người, là sự
biểu hiện cụ thể của năng lực.
Với cách nhìn như vậy, chúng ta có thể hiểu một cách chung và khái quát
về kỹ năng như sau: Kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả một hành
động hay một công việc nào đó bằng cách vận dụng những tri thức và kinh
nghiệm đã có trong những điều kiện nhất định.
1.2.1.2. Kỹ năng ứng phó
* Khái niệm kỹ năng ứng phó
Để đưa ra khái niệm “kỹ năng ứng phó” phải xuất phát từ khái niệm “kỹ
năng” và khái niệm “ứng phó”.
Có nhiều định nghĩa về “ứng phó”. Thuật ngữ “cope” trong tiếng Anh có
nghĩa là “ứng phó”, “đương đầu”, “đối mặt” với những tình huống và hoàn
cảnh bất thường, khó khăn.
Theo nghĩa rộng, ứng phó bao gồm tất cả các dạng tương tác của chủ thể
với những yêu cầu của thế giới bên ngoài và nội tâm – nắm bắt làm chủ hay là
suy giảm làm quen hay lảng tránh khỏi những yêu cầu của hoàn cảnh có vấn
đề. Những điều kiện bên ngoài – yêu cầu của hoàn cảnh, hay bên trong - đặc
điểm tâm lý của chủ thể tạo nên nội dung của cách ứng phó, làm chúng hoàn
toàn khác biệt với sự thích ứng đơn giản.
Có quan điểm cho rằng: ứng phó tham gia vào hành động, khi mà tính
phức tạp của nhiệm vụ vượt qua tầm năng lượng của những phản xạ thường
ngày và đòi hỏi những năng lượng mới, trong khi đó sự thích ứng thường


người thích ứng nhanh chóng với những yêu cầu của hoàn cảnh, cho phép họ

14


nắm bắt và làm chủ chúng, làm những yếu cầu của hoàn cảnh trở nên suy yếu,
làm cho con người thoát khỏi, hoặc làm quen với chúng và bằng cách đó cải
hóa được những tác động gây stress của hoàn cảnh. Nhiệm vụ chủ yếu của
ứng phó là cung cấp và ủng hộ sự bến vững của con người, sức khỏe thể chất
cũng như tâm lý, làm thỏa mãn các quan hệ xã hội của cá nhân.
Như vậy từ hai khái niệm “kỹ năng” và “ứng phó”, ta có thể hiểu: kỹ
năng ứng phó là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết có kết quả những
tình huống, hoàn cảnh bất thường và khó khăn.
Khi giúp con người giải quyết những vấn đề cụ thể, các nhà tham vấn
chuyên nghiệp thấy rằng: chú ý đến những KNƯP thường giúp ích cho cá
nhân, các KNƯP thành công thay đổi cùng với những hoàn cảnh có vấn đề
phải vượt qua. Tuy nhiên, học và luyện tập KNƯP thường được xem là rất
hữu ích với hầu hết các cá nhân, thậm chí việc chia sẻ KNƯP với người khác
cũng thường có ích.
* Phương án ứng phó
Phương án ứng phó là sự ứng phó một cách chủ động có dự định trước
một tình huống xảy ra [51]. Cách ứng phó là những phương thức ứng phó cụ
thể hơn trước một tình huống, một hoàn cảnh nhất định. Trong mỗi phương
án ứng phó có thể có nhiều cách ứng phó khác nhau.
Có nhiều cách phân loại phương án ứng phó phụ thuộc vào đối tượng
nghiên cứu của từng tác giả.
Lazarus và Folkman cho rằng có hai phương án ứng phó với hoàn cảnh.
Đó là tập trung trọng tâm vào vấn đề (hành vi hướng tới vấn đề cần giải
quyết, giải quyết vấn đề) và tập trung vào các cảm xúc (thay đổi thái độ, tâm
thế của cá nhân trong mối quan hệ với hoàn cảnh). Phương án ứng phó trọng

phương án ứng phó bằng hành động (behavioral coping strategies), và phương
án ứng phó bằng con đường sinh lý (physiological coping strategies).
Phương án ứng phó bằng nhận thức gồm việc thay đổi cách diễn giải
hoàn cảnh khó khăn của con người và vì thế có thể thay đổi cách họ đáp lại
hoàn cảnh

16


Phương án ứng phó bằng hành động bao gồm việc lên kế hoạch, sắp xếp
lại các công việc phải làm trước hoàn cảnh xảy ra nhằm làm giảm đến mức tối
thiểu những khó khăn gây ra cho bản thân. Phương án ứng phó bằng hành
động chủ yếu nằm trong phương án giải quyết vấn đề mà một số tác giả đã đề
cập ở trên. Nó gắn chặt với vấn đề lựa chọn và ra quyết định trên cơ sở phân
tích hình thành và tiềm năng, khả năng của bản thân. Như thế, phương án ứng
phó bằng hành động chú ý đến toàn bộ hoàn cảnh khó khăn trong một tổng
thể và những hành động của bản thân theo một kế hoạch nhất định.
Phương án ứng phó bằng con đường sinh lý là việc phản ứng trực tiếp
hướng về thể chất của bản thân trước hoàn cảnh khó khăn, stress xảy ra, ví dụ
như sử dụng thuốc lá, rượu, ma túy, vv... Cách ứng phó này chỉ có tác dụng
tạm thời vì nó không nhằm trực tiếp đến những vấn đề xảy ra [27].
Olson phân tích phương án ứng phó thành 3 loại: Phương án ứng phó
hướng tác nhân kích thích; phương án ứng phó hướng đến làm giảm nhẹ
stress và phương án ứng phó nhận thức.
Phương án ứng phó hướng tác nhân kích thích, phương án này hướng
đến tác nhân kích thích nhằm cố gắng thu hẹp, hạn chế tiêu cực của nguồn
gây ra stress, có thể hạn chế được nguyên nhân của vấn đề, tiềm năng của sự
đe dọa cũng như giảm được khả năng kéo dài của stress; đẩy cách thức ứng
phó xoay quanh vấn đề xảy ra; tìm hiểu kỹ lưỡng vấn đề, các nguyên nhân
phát sinh, những bước hành động để khắc phục nó, làm thay đổi hoặc phát

5) Tập trung vào những người bạn thân; 6) Tìm kiếm sự gắn bó; 7) Mơ
tưởng; 8) Buông xuôi; 9) Giảm thiểu căng thẳng; 10) Hành động xã hội; 11)
Phớt lờ vấn đề; 12)Tự trách bản thân; 13) Không nói vấn đề của mình với ai;
14) Tìm kiếm sự hỗ trợ về tâm linh; 15) Tập trung vào những mặt tích cực;
16) Tìm kiếm sự hỗ trợ chuyên nghiệp; 17)Tìm kiếm những trì giải trí; 18)
Luyện tập thể chất. [53].
Mỗi phương án ứng phó đều được xác định bởi ý nghĩa chủ quan của
hoàn cảnh trải nghiệm và đều đáp lại các nhiệm vụ đặt ra theo các cách khác
nhau – giải quyết vấn đề thực tế hoặc trải nghiệm các cảm xúc, thay đổi tự

18


đánh giá hoặc điều chỉnh mối quan hệ qua lại với mọi người. Không có một
bảng phân loại chung cho các phương án ứng phó mà chúng được xác định
bởi các nhà nghiên cứu khác nhau mà tùy theo hướng nghiên cứu của họ.
1.2.2. Khó khăn và khó khăn tâm lý trong việc RLNVSP
1.2.2.1. Khó khăn
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn thường hay nói đến hai từ
“khó khăn” khi tiến hành công việc mà gặp phải một trở ngại nào đó. Vậy thế
nào là khó khăn?
Trong từ điển Anh – Việt, từ “difficultly” được dùng để chỉ sự khó khăn,
sự gay go, sự khắc nghiệt đòi hỏi phải có nhiều nỗ lực để khắc phục.
Người ta hay dùng từ “shock” để chỉ sự khó khăn, sự sốc, sự choáng
váng trước một môi trường mới.
Theo từ điển Pháp – Việt [9; 335] thì từ “difficulté” chỉ sự khó khăn, sự
việc trở ngại.
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng [46; 357] khó khăn có nghĩa là mất
nhiều trở ngại công sức.
Theo từ điển láy Việt [19; 20] khó khăn có nghĩa là có nhiều trở ngại,

Qua nghiên cứu và tổng hợp các tài liệu chúng tôi đưa ra định nghĩa về
KKTL như sau: KKTL là toàn bộ các yếu tố tâm lý của cá nhân, nảy sinh
trong quá trình hoạt động, mà những yếu tố này tác động tiêu cực, thường
làm cản trở, ảnh hưởng xấu đến tiến trình và kết quả của hoạt động đó.
1.2.2.3. Khó khăn tâm lý trong việc RLNVSP
* Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
Theo từ điển tiếng Việt của Minh Tân – NXB Thanh Hóa năm 1998 định
nghĩa: Nghiệp vụ là công việc chuyên môn của một nghề.
Nghiệp vụ sư phạm là công việc chuyên môn của nghề dạy học bao gồm
hai công việc chủ yếu là giáo dục và giảng dạy cho học sinh để học trở thành
những con người có nhân cách phát triển toàn diện đáp ứng nhu cầu của xã
hội và thời đại.

20


Như vậy RLNVSP là công việc chuyên môn nhằm nâng cao tay nghề
cũng như rèn luyện những phẩm chất cần có của người giáo viên.
Ai cũng rõ, trong thời đại ngày nay, sự tiến bộ của kỹ thuật và nhịp độ
phát triển khoa học đã đề ra những yêu cầu ngày càng cao đối với trình độ
chung của thế hệ trẻ. Nếu như ở thời đại văn minh nông nghiệp, mục đích
của học chủ yếu là để biết thì ngày nay thời văn minh tin học người ta phải
học để sống và học để làm.Vì thế trong môi trường sư phạm không chỉ đào
tạo những sinh viên có kiến thức mà cần phải có những kỹ năng, kỹ xảo
tương ứng. Để có được những kỹ năng kỹ xảo đó thì người giáo sinh phải
tham gia RLNVSP.
Hoạt động sư phạm là một hoạt động phức tạp, đặc thù bởi mục đích đối
tượng và công cụ lao động của lao động sư phạm quy định.
Đối tượng của hoạt động sư phạm là con người. Sản phẩm của giáo dục
phải là con người phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mĩ, vì đối tượng quan hệ

yếu tố tâm lý đóng vai trò chủ đạo hoặc thứ yếu đối với hoạt động RLNVSP.
Bên cạnh đó, yếu tố chủ thể cũng đóng vai trò quan trọng. Đối tượng như
nhau nhưng mỗi nhân cách, mỗi cá nhân khác nhau thì quá trình hoạt động
diễn ra trong trạng thái tâm lý khác nhau. Đó là tính chủ thể của hoạt động.
Đứng trên quan điểm cấu trúc, KKTL trong hoạt động RLNVSP là trạng
thái tâm lý thể hiện tính thụ động quá mức của chủ thể, làm cản trở họat động
RLNVSP.
Cơ chế KKTL trong hoạt động RLNVSP có thể coi là sự gia tăng các
mặc cảm và tâm thế tiêu cực như mặc cảm xấu hổ, tâm trạng lo lắng, sự hãi,
mặc cảm tự ti đánh giá thấp bản thân.
Quan điểm khác lại cho rằng KKTL trong hoạt động RLNVSP chính là
tổ hợp các thuộc tính, các trạng thái tâm lý, các đặc điểm nhân cách làm
cho chủ thể không phát huy được năng lực và các kỹ năng sư phạm, do đó
hạn chế kết quả rèn luyện.

22


Đứng trên quan điểm chức năng, có thể thấy KKTL là sự thiếu thích ứng,
thiếu linh hoạt của chủ thể trong hoạt động RLNVSP và thực hiện các mục
tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong hoạt động RLNVSP.
Theo quan niệm này, sự thiếu thích ứng, thiếu tính linh hoạt trong hoạt
động RLNVSP thể hiện cách xử lý của chủ thể rập khuôn cứng nhắc khi tình
huống, đối tượng và nhiệm vụ thay đổi. Quan niệm này cho thấy, với những
người tuy có năng lực nhưng nếu thiếu sự linh hoạt sẽ gặp khó khăn trong quá
trình hoạt động nói chung và hoạt động RLNVSP nói riêng.
KKTL trong hoạt động RLNVSP là trạng thái thụ động, lúng túng của
chủ thể khi gặp tình huống khó khăn phức tạp trong hoạt động RLNVSP.
Những tình huống khó khăn, phức tạp trong hoạt động RLNVSP sẽ tạo ra
những trở ngại khách quan, gây cản trở cho hoạt động. Trước những tình

những KKTL và có những biểu hiện như sau:
1- Chưa hiểu biết đầy đủ nội dung và cách thức RLNVSP
2 - Thiếu tự tin vào khả năng của bản thân
3 - Chưa có tâm thế sẵn sàng rèn luyện
4 - Rụt rè e ngại trước tập thể
5 - Ngại ngùng khi đứng ở vị trí người giáo viên
6 - Chưa làm chủ được trạng thái cảm xúc của bản thân
7- Vốn ngôn ngữ và khả năng diễn đạt còn hạn chế
8 - Có tâm trạng lo lắng, hồi hộp căng thẳng
9 - Thiếu tự tin, lúng túng trong hành vi, cử chỉ, điệu bộ
10 - Khó khăn trong việc huy động tri thức, kinh nghiệm vào RLNVSP
11 - Không say mê với hoạt động RLNVSP, vv...
1.2.3. Kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý trong việc RLNVSP
Qua nghiên cứu và khái quát các tài liệu trên chúng tôi nhận định: kỹ
năng ứng phó với những khó khăn tâm lý trong việc rèn luyện nghiệp vụ sư
phạm là khả năng vận dụng kiến thức để loại bỏ những đặc điểm tâm lý cá
nhân và kiểu hành vi ứng xử không phù hợp với nội dung, đối tượng và mục
đích RLNVSP.

24


* Biểu hiện của KNƯP với những KKTL trong việc RLNVSP
Biểu hiện của KNƯP với những KKTL trong việc RLNVSP chính là
việc giáo sinh tiến hành giải quyết những KKTL bản thân gặp phải trong quá
trình RLNVSP.
Muốn ứng phó được với KKTL trong hoạt động RLNVSP cũng có nghĩa
là họ phải có kỹ năng giải quyết vấn đề. Trong cuốn “Giáo dục kỹ năng sống”
của tác giả Nguyễn Thanh Bình có đưa ra 7 bước giải quyết vấn đề [5]. Dựa
trên các bước này chúng tôi đưa ra biểu hiện của KNƯP với những KKTL


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status