MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ai sinh ra cũng mong muốn có được những điều kiện tốt nhất để có thể
sinh sống và phát triển.Tuy nhiên, mỗi con người bên cạnh những thuận lợi,
luôn luôn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Vì thế mà mỗi
người luôn luôn phải trang bị cho mình những kĩ năng cần thiết để vượt qua khó
khăn. Đây là vấn đề cốt lõi của những người thành công trong cuộc sống. Trong
Tâm lý học, những kĩ năng này được nhiều tác giả trình bày trong hệ thống lí
luận về ứng phó với khó khăn. Nói chung, người nào biết ứng phó tốt là những
người không cam chịu số phận, định hướng hay nhận thức được trách nhiệm và
giải quyết được các tình huống khó khăn xảy ra trong cuộc sống.
Một người bình thường nhiều khi còn gặp phải vô số những khó khăn
khiến cuộc sống và tinh thần bị đảo lộn. Do vậy ở những người khuyết tật, các
khó khăn, trở ngại của họ còn lớn hơn rất nhiều, khiến cho cuộc sống của họ rất
khó để hòa nhập. Trên hành tinh chúng ta đang sống, số NKT ước tính khoảng
10% dân số tương đương với 650 triệu người (khảo sát năm 2007) [35, 4 – mục
2.1]. NKT là một vấn đề xã hội quan trọng ở Việt Nam. Dựa trên Bảng phân
loại Quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe (International Classification
of Functioning, Disability and Health-ICF) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO),
Tổng cục Thống kê Việt Nam đã tiến hành khảo sát và cho kết quả: tỷ lệ NKT
chung cả nước là 15,3% [35,4 – mục 2.1]. Gần 8% hộ gia đình Việt Nam có
NKT và hầu hết các hộ đó hộ nghèo. Có đến 80% NKT sống phụ thuộc vào
nguồn trợ cấp từ gia đình hoặc xã hội thông qua nhà nước hoặc cộng đồng.
Người khuyết tật (NKT) nói chung và người khuyết tật vận động (KTVĐ)
nói riêng là một bộ phận dân số tồn tại khách quan trong xã hội loài người.
Trong thời đại ngày nay, tất cả các quốc gia đều quan tâm đến vấn đề NKT. Có
thể nói việc đảm bảo cho NKT hòa nhập với đời sống xã hội được xem là thước
đo cho sự phát triển, sự tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, nếu người
KTVĐ chỉ thụ động tự coi mình là nạn nhân thì họ sẽ có rất ít thậm chí không có
1
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Biểu hiện của khó khăn và các kiểu ứng phó với các khó khăn ở người KTVĐ.
4. Giả thuyết khoa học
Người KTVĐ gặp phải rất nhiều khó khăn không chỉ trong các hoạt động
của cuộc sống, trong đó có nhiều khó khăn về mặt tâm lý,... Sự ứng phó của họ
với các khó khăn trên ở từng người là rất phong phú và sẽ có hiệu quả hơn nếu
được tham vấn, hướng dẫn cách ứng phó với khó khăn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về người KTVĐ; khó khăn, ứng
phó với khó khăn của người KTVĐ.
5.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng khó khăn, kiểu ứng phó với khó
khăn ở người KTVĐ, lý giải nguyên nhân của thực trạng này.
5.3. Đề xuất các biện pháp nhằm góp phần rèn luyện khả năng ứng phó
với khó khăn của người KTVĐ.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
* Giới hạn đối tượng nghiên cứu: chỉ nghiên cứu khó khăn và ứng phó
với khó khăn của người KTVĐ.
* Giới hạn khách thể nghiên cứu: 51 người KTVĐ ở độ tuổi trưởng
thành. Một số chuyên gia, người quản lí, người giảng dạy về lĩnh vực người
khuyết tật, những người thân của người KTVĐ,…
* Giới hạn địa bàn nghiên cứu: chỉ tiến hành nghiên cứu một số quận nội
thành trên địa bàn Hà Nội.
* Giới hạn thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2011 đến tháng 10/2012
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp các
phương pháp nghiên cứu sau đây:
7.1. Phương pháp nghiên cứu văn bản
7.2. Phương pháp quan sát
cực và ra một số văn bản liên quan tới quyền của người tàn tật, trong đó có trẻ
em tàn tật.
Càng ngày càng có nhiều các nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới về
NKT, đặc biệt là trẻ em khuyết tật. Vấn đề về các dạng khuyết tật, các hình thức
giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật được nói đến trong nhiều tài liệu, sách, báo
và các phương tiện truyền thông. Nét chung trong các tài liệu đó là nói đến khó
khăn do những khuyết tật của bản thân họ gây nên và đặc biệt nhấn mạnh đến
thái độ của xã hội với NKT. Hoặc trong nhiều tài liệu thì chủ yếu đi vào việc
nêu lên các biện pháp giáo dục - sư phạm trong quá trình giáo dục trẻ khuyết tật
trên cơ sở nêu lên những khó khăn và đặc điểm mỗi dạng tật.
Trên thế giới gần đây có một cuộc điều tra về NKT ở Mỹ và Anh. Năm
2005, hai tác giả là: Liz Gardener and David Melzer thuộc trường đại học
Cambridge và trường Dược Peninsula (University of Cambridge and
Peninsula Medical School) tiến hành một nghiên cứu với tên gọi: “Khuyết tật
vận động tự báo cáo và tốc độ dáng đi” ở Anh và Mỹ (Mobility disability
self-reporting and gait speed in England and the USA). Nghiên cứu này phần
nào chỉ ra khó khăn của người KTVĐ, nhưng chủ yếu đề cập đến các khó
khăn trong vận động liên quan tới dáng đi và việc đi lại.
5
Ở Việt Nam, năm 2005, Bộ LĐTBXH nghiên cứu ở tám tỉnh gồm Quảng
Ninh, Hoà Bình, Hà Tây, Thanh Hoá, Quảng Nam, Đắc Lắc, Đồng Nai và thành
phố Cần Thơ về khó khăn của NKT cho thấy “hầu hết những gia đình có NKT
đều có mức sống thấp, trong đó 33% rơi vào loại nghèo (số liệu thống kê quốc
gia là 22%). Trên thực tế, những gia đình có nhiều NKT phải chịu nhiều khó
khăn nhất: 31% gia đình có một NKT được xếp vào hộ nghèo; số lượng gia đình
có 3 NKT đã tăng lên tới 63%” [4,Ch1].
Năm 2007, với sự tài trợ của Quỹ Ford, Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội đã
tiến hành một dự án nghiên cứu nhằm “phân tích một cách toàn diện về tình hình
đến nay chúng ta vẫn chưa hiểu nhiều về tình trạng của những NKT do điôxin,
ngoại trừ một thực tế là họ gặp rất nhiều khó khăn về mặt kinh tế, xã hội cũng
như những vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng. Về mặt địa lý, những địa phương này
trải dài từ miền Bắc qua miền Trung rồi đến miền Nam, làm tăng tính đa dạng
của chủ đề nghiên cứu. Những tỉnh thành này cũng là những địa phương có
số NKT, bao gồm cả những người nghi bị nhiễm chất điôxin, rất cao”[4,Ch1].
Chính phủ Việt Nam cũng đã tiến hành một cuộc khảo sát trên 720 NKT
ở Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh do Ban Các Vấn đề Xã Hội của
Quốc hội thực hiện. Báo cáo của Chính phủ đã chỉ ra sự kỳ thị và phân biệt đối
xử làm hạn chế sự tiến bộ của NKT. Trong gia đình họ bị đối xử tệ bạc hơn
những thành viên khác; 13% cho biết họ bị cộng đồng đối xử tệ [4,Ch1].
“Năm 2007 được sự tài trợ của Quỹ Ford, Viện Nghiên cứu Phát triển xã
hội (ISDS) đã tiến hành khảo sát 4 tỉnh thành ở Việt Nam và đưa ra một vài con
số thống kê sau đây về quan điểm của cộng đồng về người khuyết tật - qua đó
cho thấy sự phân biệt đối xử là lớn như thế nào, các con số biến thiên do sự khác
biệt giữa các tỉnh:
Quan điểm đồng ý (tỉ lệ %)
Thái độ của cộng đồng với người khuyết tật
Đáng thương
Từ 98 đến 99%
Người khuyết tật là người ỷ lại
Từ 18 đến 32%
Người khuyết tật không thể có cuộc sống bình thường
Từ 40 đến 59,4%
Người khuyết tật bị như vậy là do số phận
Từ 56 đến 65%
Người khuyết tật đáng phải gánh chịu số kiếp khuyết tật như
Từ 14 đến 21%
vậy vì họ phải trả giá cho việc làm xấu xa ở kiếp trước
Gặp phải người khuyết tật là gặp vận đen
Bỏ rơi (7,1%);
•
Không cho ăn (4,3%);
•
Khóa/xích trong nhà (10,2%);
•
Bắt đi ăn xin (1,5%).” [35,4 – mục 3.5]
1.1.3. Nghiên cứu về ứng phó và ứng phó với khó khăn của người KTVĐ
1.1.3.1. Nghiên cứu về ứng phó
•
Ở nước ngoài
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề ứng phó với khó
khăn trong cuộc sống của con người. Có thể tổng hợp nghiện cứu về hành vi ứng
phó theo xu hướng cơ bản sau:
- Xu hướng thứ nhất: nghiên cứu các phương pháp đo hành vi ứng phó.
Tiêu biểu là trắc nghiệm Cách ứng phó (Way of coping Sacle, WCS) do
S.Folkman và R.S.Lazarus phát triển vào năm 1980, trong trắc nghiệm này các
tác giả đo 2 kiểu ứng phó đặc trưng, gồm ứng phó tập trung vào vấn đề và ứng
phó tập trung vào cảm xúc [41]. Một thang đo khác của E. Frydenberg và
R.Lewis (1993). Thang đo gồm 80 item, được chia làm 3 nhóm ứng phó chính
đó là: ứng phó giải quyết vấn đề, ứng phó không hiệu quả và ứng phó tìm kiếm
khăn trong gia đình. Bên cạnh đó, nhiều nhà tâm lý khác cũng nghiên cứu cách
ứng phó trong những tình huống đặc thù khác như: ứng phó với stress nơi làm
việc, ứng phó với bệnh nhân AIDS. Nhìn chung, các tác giả đã khu biệt ứng phó
của khách thể trong 1 nhóm nhất định để đưa những phân tích, đánh giá cách
ứng phó xác đáng và đề xuất biện pháp tăng cường khả năng ứng phó của nhóm
khách thể đó. Tuy nhiên, những nghiên cứu như vậy còn chưa được nhân rộng
trên phạm vi rộng lớn hơn.
- Xu hướng thứ tư: nghiên cứu giao thoa văn hóa về ứng phó. Mục đích
của các nghiên cứu giao thoa văn hóa là để tìm kiếm sự khác biệt và tương đồng
9
giữa các vùng văn hóa trong cách ứng phó với tình huống khó khăn, căng thẳng
của các quốc gia. D.Essau và S.Trodorff (1996) đã nghiên cứu cách ứng phó của
nhóm học sinh Malaysia so với học sinh Bắc Mỹ (Canada, Mỹ), Đức với những
vấn đề liên quan đến trường học [39,10]. Một nghiên cứu khác của
E.Frydenberg, R.Lewis (2002) đã so sánh 319 học sinh từ ba quốc gia
Colombia, Bắc Ireland và Australia về cách ứng phó với các vấn đề xã hội như:
ô nhiễm, phân biệt chủng tộc, chiến tranh và bạo lực trong cuộc sống cộng đồng
[40,5]… Những nghiên cứu trên giúp các nhà nghiên cứu về vấn đề ứng phó
hiểu rằng để nghiên cứu ứng phó của một cá nhân, nhóm, cộng đồng người thì
cần quan tâm đến các yếu tố văn hóa.
Tổng quan những nghiên cứu về hành vi ứng phó trên cho thấy tính chất
đa dạng và phong phú trong lĩnh vực này. Hầu hết kết quả nghiên cứu đều chỉ ra
khuôn mẫu ứng phó tích cực với mỗi loại tình huống, mỗi loại khách thể đồng
thời chỉ ra các yếu tố chi phối ứng phó của con người. Ý nghĩa xã hội của các
nghiên cứu này mang đến cho con người những cách ứng phó tích cực trước các
sự kiện khó khăn, phức tạp của hoàn cảnh, hướng dẫn con người cách xử lý,
đảm bảo cho sự ổn định tâm lý của mỗi cá nhân và duy trì trật tự xã hội.
•
phó với Stress của sinh viên trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế” [27]. Tác
giả đã chỉ được 1 số vấn đề cơ bản của việc ứng phó với stress. Tuy vậy, để đề
tài thêm hoàn thiện cần có những thực nghiệm về các biện pháp ứng phó và chỉ
ra các kĩ thuật ứng phó tốt với stress của sinh viên y dược.
Đề tài “Ứng phó với stress trong học tập của sinh viên trường Đại học Sư
phạm Hà Nội” (2010) của tác giả Bùi Thị Bích Phượng [17] đã đưa ra được hệ
thống biện pháp dưới hình thức thực nghiệm tác động cụ thể nhằm giúp sinh
viên nâng cao hiệu quả ứng phó. Đề tài chỉ ra thế nào là một ứng phó hiệu quả
và kỹ thuật ứng phó tốt.
Mới gần đây nhất, tác giả Phí Công Mạnh đã tiến hành nghiên cứu vấn đề
“Ứng phó với nhứng khó khăn trong học tập của sinh viên năm thứ nhất trường
Đại học Sư phạm Huế” (2011). Luận văn đã đưa ra hệ thống các biện pháp để
nâng cao khả năng ứng phó với những khó khăn trong học tập của sinh viên và
thực nghiệm một biện pháp nhằm hình thành và phát triển kĩ năng đó, bao gồm
cả việc trang bị cho họ tri thức về cách ứng phó với những khó khăn trong học
11
tập và tổ chức ứng dụng những kiến thức lĩnh hội được vào cuộc sống học tập
của bản thân [15].
Tóm lại, lịch sử nghiên cứu vấn đề ứng phó cho thấy tính chất đa dạng
của những nghiên cứu trong lĩnh vực này. Nó bao trùm những nội dung phong
phú từ cấp độ cá nhân đến cấp độ xã hội, với nhiều khách thể và đối tượng
nghiên cứu, với nhiều tình huống khác nhau trong cuộc sống. Tiếp tục đi sâu
nghiên cứu về ứng phó là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằm
giúp con người nâng cao khả năng ứng phó trước những hoàn cảnh khó khăn,
đảm bảo cho sự phát triển tâm lý ổn định của cá nhân.
1.1.3.2. Nghiên cứu về ứng phó với khó khăn của người KTVĐ
Mặc dù nghiên cứu về ứng phó với khó khăn xuất hiện tương đối chi tiết và
gia đóng góp cho xã hội bằng nhiều công việc khác nhau. Tỉ lệ người tàn tật có
nhu cầu song chưa có việc làm là 30,43%. Vùng đồng bằng sông Hồng và Đông
Nam bộ là hai vùng có số người tàn tật chưa có việc làm chiếm tỉ lệ cao, tương
ứng là 41,86% và 35,77%. Đây là một nhiệm vụ cấp bách cần được đề cập trong
các chương trình, dự án hỗ trợ người tàn tật để giúp họ có điều kiện hòa nhập
vào cộng đồng.
Cũng theo kết quả điều tra của Trung tâm tật học, trên thực tế nguyện
vọng của người tàn tật trong tổng số người tàn tật được hỏi ý kiến như sau:
48,5% số người tàn tật mong muốn nhà nước trợ cấp vốn để tự tạo việc làm
23,9% có nguyện vọng phục hồi chức năng;
13,56% có nhu cầu được bố trí việc làm;
9,98% mong muốn nhà nước thu hút vào các cơ sở bảo trợ xã hội;
4,08% có nguyện vọng được học nghề.
Nếu tính gộp các nhu cầu được trợ cấp vốn để tự tạo việc làm và có
nguyện vọng được đào tạo thì tỉ lệ này lên tới 66,14%. Điều này chứng minh đa
số người tàn tật có ý chí vươn lên để có cuộc sống tự lập, độc lập về kinh tế và
hòa nhập với cộng đồng. Như vậy đáp ứng được các nguyện vọng trên thì số
NKT nói chung trong đó có người KTVĐ nói riêng sẽ có thể ứng phó hiệu quả
với các khó khăn của mình.
13
Luật pháp Việt Nam quy định các doanh nghiệp trên lãnh thổ có trách
nhiệm nhận lao động là người tàn tật vào làm việc với tỉ lệ 2% - 3% so với tổng
số lao động. Doanh nghiệp nào không thực hiện được thì phải trích một phần lợi
nhuận để đóng góp vào quỹ hỗ trợ việc làm cho người tàn tật. Tuy nhiên, theo
ông Đoàn Soát, Chủ tịch Hội người mù Việt Nam, quy định tỷ lệ 2% người tàn
tật vào làm việc ở các cơ quan hành chính, doanh nghiệp chưa được thực hiện.
Nhà nước cũng chưa có chế tài, chưa có cơ quan nào được phân công giám sát
trúc hoặc chức năng tâm lý, sinh lý hoặc giải phẫu.
- Tàn tật (Disabilities): là bất kì một sự hạn chế hay thiếu hụt (do 1 khuyết
tật) khả năng này thực hiện được một hành động theo chức năng hay trong
phạm vi được coi là bình thường của con người.
- Tàn phế (Handicap): là sự thiệt thòi cho một cá nhân do khuyết tật hoặc
do tàn tật gây hạn chế hoặc cản trở cá nhân đó thực hiện vai trò bình thường,
phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính, các yếu tố văn hóa, xã hội.”[6,11].
“Ở Việt Nam, Bộ Y tế và Bộ LĐTBXH là hai bộ chính soạn thảo ra các
chính sách và cung cấp các dịch vụ phục hồi chức năng, chăm sóc và điều trị, hỗ
trợ và cung cấp phúc lợi xã hội cho NKT. Hai bộ này sử dụng những định nghĩa
sau về khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật của Tổ chức Y tế thế giới:
- Khiếm khuyết (ở cấp độ bộ phận cơ thể): bị mất hoặc tình trạng bất bình
thường một hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý. Khiếm khuyết
có thể là hậu quả của bệnh tật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc bẩm sinh.
- Giảm khả năng (ở cấp độ cá nhân): giảm hoặc mất khả năng hoạt động do
khiếm khuyết gây ra; hạn chế hoặc mất chức năng (vận động, nghe, hoặc giao tiếp).
- Tàn tật (ở cấp độ xã hội): những thiệt thòi mà một người phải chịu do bị
khuyết tật. Hậu quả của sự tương tác giữa một cá nhân bị khiếm khuyết hoặc
giảm khả năng với những rào cản trong môi trường xã hội, văn hoá hoặc vật
chất, làm cho cá nhân này không thể tham gia một cách bình đẳng vào cuộc
sống cộng đồng chung hoặc hoàn thành một vai trò bình thường” [4,Ch1].
Điều 1 trong Pháp lệnh về người tàn tật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam định nghĩa người tàn tật “không phân biệt nguồn gốc gây ra
tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng
15
biểu hiện dưới những dạng tàn tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt
động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn” [31,9].
Người KTVĐ là những người có cơ quan vận động bị tổn thương, biểu
- Khó khăn về học
- Khuyết tật ngôn ngữ
- Tổn thương não
- Khiếm thị” [20,4-5]
Bộ LĐTBXH cho biết hiện nay ở Việt Nam có trên 5,1 triệu người tàn tật
và trẻ mồ côi, chiếm 7% dân số
Các dạng tật:
Dạng tật
Vận
Thị giác
Thính
Ngôn
Trí tuệ
Thần
động
giác
ngữ
kinh
Tỉ lệ (%)
35,46
15,70
9,21
7,92
- Tật nứt cột sống. Riêng tật này không chỉ làm người khuyết tật mất khả
năng đi lại vì liệt hoàn toàn hai chân mà còn mất hoàn toàn cảm giác từ đốt sống
bị nứt. Do vậy họ không kiểm soát được việc tiểu tiện, đại tiện.
- Gù lưng: có thể gù thấp hoặc gù cao;
- Cụt chi: có thể là mất 1 hoặc cả 2 chân, 1 hoặc cả 2 tay, hoặc có thể là
mất 1 chân và 1 tay;
- Các dị dạng bẩm sinh như các ngón tay dính liền, thừa hoặc thiếu ngón
tay, biến dạng ngón tay, chân, tay chân chưa hoàn chỉnh, dị dạng,… [23,131].
1.2.3. Biểu hiện của khuyết tật vận động
Có nhiều dạng KTVĐ với các biểu hiện khác nhau:
“- Bại não: là 1 tình trạng gây tàn tật có nguyên nhân từ não. Chúng tật
này do não bị tổn thương trước khi sinh, trong khi sinh, sau khi sinh cho đến 5
tuổi. Dạng tật này thường gây ảnh hưởng đến các tư thế tự nhiên và hoạt động
bình thường của cá nhân. Người bị bại não có thể mềm nhũn, toàn thân co cứng
hoặc vận động không tự chủ.
- Bại liệt: là một loại bệnh truyền nhiễm do virus bại liệt lây qua đường
tiêu hóa gây nên. Người bị bại liệt có đặc điểm liệt mềm, nhiễu cơ.
- Bàn chân khoèo bẩm sinh: là bàn chân bị biến dạng gây khép phần bàn
chân trước, nghiêng trong ở gót chân và khớp cơ chân gấp lòng. Nhiều người đi
bằng mu bàn chân thay cho lòng bàn chân như người bình thường.” [25,32]
- Các dạng gù lưng, chân dài chân ngắn, lùn tuyến yên, ….
Có một số người bị khiếm khuyết các cơ quan vận động kèm theo một
hoặc hai khuyết tật khác như: chậm phát triển tinh thần, tật thính giác,…
18
Vì các dạng KTVĐ rất đa dạng nên biểu hiện của chúng cũng đa dạng.
Tùy theo dạng tật nào mà có biểu hiện tương ứng như thế.
1.2.4. Mức độ khuyết tật
+ Do các bệnh xã hội của người mẹ như: lậu, giang mai, AIDS,…
+ Đẻ non, thiếu tháng,…
+ Do mệt mỏi, căng thẳng của người mẹ.
+ Nguyên nhân trong khi sinh do tai biến khi sinh phải dùng dụng cụ hỗ
trợ không đảm bảo an toàn cho trẻ,…
- Nguyên nhân mắc phải:
+ Hậu quả của một số bệnh viêm màng não, viêm tai, cúm, sởi, đậu mùa,…
+ Sử dụng thuốc sai hoặc không đúng chỉ định,…
+ Do hậu quả của chiến tranh, do chất độc da cam hay do chấn thương
trong lao động, tai nạn giao thông,…
+ Do điều kiện sống thấp, thiếu vệ sinh, không đủ dinh dưỡng,…
+ Do ô nhiễm môi trường, chất độc hại, nước bẩn,..,
+ Do thiên tai, khí hậu gây bất lợi cho cuộc sống,…” [2,11]
•
Theo một tài liệu khác thì các nguyên nhân chính, chủ yếu gây nên
khuyết tật là:
- Di truyền, dị tật bẩm sinh, suy dinh dưỡng
- Thiếu chăm sóc trong thời kì mang thai và sơ sinh, dùng sai thuốc. Tật
bệnh không được phát hiện và chữa trị, phục hồi chức năng kịp thời
- Sự bất lực của y học và khoa học kỹ thuật
- Mù chữ và thiếu thông tin về các dịch vụ sẵn có, do không theo dõi hay
thiếu hiểu biết
- Nghèo đói, điều kiện ăn ở chật chội yếu kém, thiếu vệ sinh, ô nhiễm và
suy thoái môi trường, thiên tai
- Tai nạn thương tích giao trong, trong lao động, trong gia đình và trong
thể thao. Lạm dụng và nghiện rượu thuốc lá và ma túy, tuổi già bệnh tật (như
huyết áp cao, suy thận, suy tim mạch, rối loạn tâm thần và thần kinh….) kết hôn
tìm hiểu đã nêu:
- Những nguyên nhân do môi trường sống :
+ Đói nghèo, bệnh tật chưa chấm dứt ;
+ Môi trường bị ô nhiễm ;
+ Sử dụng thuốc chữa bệnh bừa bãi ;
+ Các bệnh xã hội ;
+ Chấn thương do tai nạn, rủi ro ;
+ Chấn thương tinh thần ;
+ Chiến tranh, bạo loạn.
- Những nguyên nhân do xã hội :
+ Xã hội không quan tâm, thờ ơ, thái độ chưa đúng mực ;
21
+ Quan niệm, thái độ đối với trẻ ;
+ Môi trường chưa tạo điều kiện cho trẻ phát triển.
- Nguyên nhân bẩm sinh
+ Do di truyền ;
+ Do sinh đẻ không bình thường ;
+ Do lây truyền từ cha mẹ, từ trong bào thai.
+ Các nguyên nhân khác.” [25,32]
Tóm lại, các nguyên nhân gây khuyết tật hết sức đa dạng.
1.2.6. Một số đặc điểm tâm lý nổi bật của NKT, KTVĐ
“Trước thế kỉ XV, người ta cho rằng trẻ khuyết tật nói riêng, NKT nói
chung trong đó có KTVĐ đa số không có khả năng phát triển như bình thường.
Ở những người này khả năng nhận thức, giao tiếp tư duy đề bị hạn chế. Trẻ
khuyết tật không có thang bậc giá trị nhân cách bình đẳng với trẻ bình thường,
dẫn đến tình trạng trẻ bị bỏ rơi, quyền của trẻ khuyết tật không được thừa nhận
trong pháp luật và trong quá trình giáo dục đào tạo. Trẻ khuyết tật là người thừa
trong gia đình, xã hội.” [23,11]. Dần dần, những quan điểm tiến bộ, nhân văn
hòa nhập bình thường với xã hội hơn các dạng khuyết tật khác” [6,34].
“Do bị thiếu hụt một phần, một bộ phận của cơ thể là cơ quan vận động
(cụt, liệt chân tay,…) nên mọi hoạt động của trẻ em khuyết tật cũng như người
lớn bị KTVĐ trong vui chơi, chạy nhảy, … đều bị hạn chế và gặp khó khăn, trẻ
không thể thực hiện được theo ý muốn của mình. Hứng thú làm việc của trẻ
giảm đi rõ rệt, nhanh mệt mỏi. Đặc biệt trong học tập, trẻ không ngồi được lâu,
chẳng hạn trẻ bị cụt tay, phải viết bằng chân hoặc miệng nên các em viết chậm
hơn so với trẻ bình thường” [23,134]. “Sự thiếu hụt về thể chất dẫn tới khả năng
các chức năng hoạt động của trẻ em tàn tật bị giảm sút hoặc do khuyết tật các cơ
quan giác quan, thần kinh nên khả năng nhận thông tin của các em bị hạn chế.
Khó khăn trong việc đi lại, giao tiếp, quan hệ xã hội xung quanh bị thu hẹp và
mọi sinh hoạt, hoạt động, giao tiếp, học tập, vui chơi, giải trí,… đều có vật cản.
Vì vậy nhiều em thường bị ức chế dẫn tới bi quan, chán nản, mặc cảm, hay nóng
nảy và bất cần.” [6,77]. “Trừ một số em khuyết tật về tâm thần, trẻ em tàn tật
thường có đời sống đời sống nội tâm rất nhạy cảm và tế nhị, rất thông cảm với
23
những khó khăn của các em khác và sẵn sàng giúp đỡ bạn… Các em luôn có
những đòi hỏi thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần và nhu
cầu hoàn thiện bản thân mình để vươn tới chân, thiện, mỹ. Như những trẻ em
bình thường khác, các em cũng có những nhu cầu, cần được tạo cơ hội, được
đảm bảo bình đẳng trong việc xóa bỏ tất cả các trở ngại, định kiến xã hội về mặt
tâm lý đã loại trừ hoặc hạn chế sự tham gia hoàn toàn của các em trong đời sống
xã hội. Phần lớn các em đều có nguyện vọng và mơ ước: muốn có cuộc sống
đầy đủ về vật chất, phục hồi chức năng, đến trường học, vui chơi hòa đồng như
những trẻ em bình thường khác, được sống cùng gia đình, có các cơ hội học
nghề và có việc làm, hòa nhập cộng đồng.” [6,77].
Vấn đề tâm lý người KTVĐ rất phức tạp. bởi mỗi dạng tật, thời gian bắt
đầu bị khuyết tật, hoàn cảnh gia đình,…. có ảnh hưởng to lớn đến các nét tâm lý
Đối với trẻ em, đa số trẻ có nhiều khó khăn đi liền với KTVĐ. Có một cái
nhìn càng toàn diện chúng ta càng có nhiều khả năng giúp trẻ vì nhiều khía cạnh
việc chăm sóc giáo dục trẻ có thể bị ảnh hưởng.
- Những khó khăn trong lời nói và ngôn ngữ
- Các vấn đề trong ăn uống và nuốt
- Khiếm thính
- Khiếm thị và các vấn đề về tri giác
- Các vấn đề tập trung và thiếu khả năng chú ý
- Bệnh động kinh
- Mệt mỏi và thường hay đau yếu
- Sự thay đổi gây khó khăn cho trẻ
- Các vấn đề xương khớp, thường ảnh hưởng đến hông, cột sống và bàn
chân.” [19,21-22].
Ở nhiều người lớn bị KTVĐ cũng gặp phải những khó khăn này.
•
Những khó khăn về mặt sinh thể:
“Những tác nhân hạn chế vận động:
- Yếu cơ: Khó vận động một bộ phận cơ thể theo cách bình thường. Cá
nhân, nhất là ở trẻ nhỏ gặp khó khăn nhiều hơn khi tìm hiểu môi trường xung
quanh và học thông qua vận động.
- Co cứng cơ: một phần cơ thể co cứng không vận động được, đặc biệt ở
vài tư thế nhất định.
25