ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
BÙI VĂN ĐỀ
ỨNG PHÓ VỚI NGẬP LỤT CỦA NGƯỜI DÂN HÀ NỘI
(Nghiên cứu trường hợp xã Tân Triều huyện Thanh Trì và
phường Tân Mai quận Hoàng Mai, Hà Nội)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
BÙI VĂN ĐỀ
ỨNG PHÓ VỚI NGẬP LỤT CỦA NGƯỜI DÂN HÀ NỘI
(Nghiên cứu trường hợp xã Tân Triều huyện Thanh Trì và
phường Tân Mai quận Hoàng Mai, Hà Nội)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
1.1.1. Khái niệm ứng phó ....................................................................... 18
1.1.2. Khái niệm ngập lụt ....................................................................... 18
1.1.3. Khái niệm biến đổi khí hậu ........................................................... 19
1.2. Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu........................................................ 20
1.2.1. Lý thuyết xã hội rủi ro .................................................................. 20
1.2.2. Lý thuyết vốn xã hội ..................................................................... 22
1.3. Tổng quan địa bàn nghiên cứu ...................................................................... 25
1.3.1. Xã Tân Triều huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội ........................... 25
1.3.2. Phường Tân Mai quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội ...................... 25
Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NGẬP LỤT ĐẾN ĐỜI
SỐNG NGƯỜI DÂN. ............................................................................................ 27
2.1. Thực trạng ngập lụt tại phường Tân Mai, quận Hoàng Mai và xã Tân Triều,
huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội ................................................................... 27
2.2. Tác động của ngập lụt đến sinh hoạt hàng ngày của người người dân ........... 30
2.3. Tác động của ngập lụt đến việc làm và thu nhập ........................................... 34
2.4. Tác động của ngập lụt đến sức khỏe ............................................................. 42
Chương 3. HOẠT ĐỘNG ỨNG PHÓ CỦA NGƯỜI DÂN VỚI NGẬP LỤT. .. 48
3.1. Hoạt động ứng phó của người dân trước khi ngập lụt ................................... 48
3.1.1. Hoạt động ứng phó độc lập của từng hộ gia đình ............................ 48
3.1.2. Hoạt động ứng phó dựa trên sự phối hợp của hộ gia đình với cộng
đồng và chính quyền địa phương ............................................................ 51
3.2. Hoạt động ứng phó trong khi ngập lụt .......................................................... 54
3.2.1. Hoạt động ứng phó độc lập của từng hộ gia đình ............................ 54
3.2.2. Phối hợp giữa gia đình với cộng đồng và chính quyền địa phương để ứng
phó trong khi ngập lụt ............................................................................... 59
3.3. Hoạt động ứng phó của người dân sau khi ngập lụt ...................................... 65
3.3.1. Hoạt động ứng phó độc lập của từng hộ gia đình ............................ 65
Tu sửa nhà cửa sau ngập lụt ...................................................................... 65
Phần 1.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu là vấn đề đang được toàn nhân loại quan tâm. Biến đổi khí
hậu đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế-xã hội và môi trường toàn
cầu. Trong những năm qua, nhiều nơi trên thế giới đã phải chịu nhiều thiên tai
nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt,
gây thiệt hại lớn về tính mạng con người và vật chất.
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu nhiều thiên tai nhất trên thế giới,
với khoảng 70% dân số sẽ phải đối mặt với những rủi ro vì bão, mưa lớn và lũ lụt.
Bờ biển dài, địa hình rừng núi, nhiều sông suối và khí hậu nhiệt đới gây ra bão và
mưa lớn khiến Việt Nam phải chịu thiên tai và thời tiết khắc nghiệt với tần suất
ngày càng gia tăng. Nghiên cứu mới đây của Quỹ Châu Á chỉ ra rằng trong 20 năm
qua Việt Nam là trong 5 nước có rủi ro thiên tai cao nhất thế giới, với mức thiệt hại
ước tính chiếm 1,5% GDP hàng năm [6]
Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực ứng phó với thiên tai qua việc giảm thiểu rủi
ro, đẩy mạnh công tác chuẩn bị và xây dựng nhiều kịch bản khác nhau về tác động
của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, việc ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn chưa có tiến
bộ rõ rệt và chưa có phương án cụ thể. Các cam kết chính trị rất rõ ràng và mạnh
mẽ, nhưng vẫn còn những thiếu hụt lớn trong việc xây dựng khả năng ứng phó của
cộng đồng và năng lực của chính quyền địa phương. Điều này dẫn tới việc người
dân vẫn còn phải chịu ảnh hưởng nặng nề do hạn hán, lũ lụt gây ra. Làm tăng tính
dễ bị tổn thương của cộng đồng, dân cư khu phố, tính dễ bị tổn thương gồm tổn
thương về xã hội, kinh tế, thể chất. Đặc biệt ở những khu vực nhà ở được phát triển
tự phát, cơ sở hạ tầng thiếu thốn và chưa đồng bộ, hệ thống thoát nước không phù
hợp và dịch vụ thu gom rác không bao quát được một cách toàn diện các đợt ngập
lụt không chỉ gây ra trở ngại trong đi lại, hư hại về tài sản, ảnh hưởng đến việc làm
và thu nhập mà còn dẫn đến nguy cơ khủng hoảng về môi trường, gây ra những tác
động về sức khỏe và điều kiện vệ sinh.
1
việc tìm nguồn tài liệu tham khảo, bởi liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các học giả
2
đi trước đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học, bài viết đề cập về việc
ứng phó của người dân trước thiên tai, đặc biệt là lũ lụt. Có thể kể đến một vài công
trình tiêu biểu sau đây:
Cuốn sách chuyên khảo “Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam” của Viện
khoa học khí tượng thủy văn và môi trường, đã nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí
hậu đến điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đề xuất các giải pháp, chiến lược
phòng tránh, giảm nhẹ và thích nghi, phục vụ phát triển bền vững ở Việt Nam. Cuốn
sách đã giới thiệu những kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu, thực trạng biến đổi khí
hậu toàn cầu và ở Việt Nam, từ đó nêu ra những tác động của biến đổi khí hậu đến các
ngành, lĩnh vực và các khu vực địa lý – khí hậu trong cả nước [25, tr.9].
Nhóm tác giả Phan Văn Tân, Ngô Đức Thành có công trình nghiên cứu
về“Biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Một số kết quả nghiên cứu, thách thức và cơ hội
trong hội nhập quốc tế”. Công trình nêu lên một số biểu hiện của biến đổi khí hậu ở
Việt Nam trong các thập kỷ qua, xu thế biến đổi trong tương lai cũng như một số
bằng chứng và khả năng tác động tiềm ẩn của nó. Việc nghiên cứu biến đổi khí hậu
trong quá khứ được dựa trên các tập số liệu quan trắc từ hệ thống mạng lưới trạm
khí tượng thuỷ văn của Việt Nam; việc đánh giá xu thế biến đổi trong tương lai
được thực hiện thông qua các mô hình khí hậu khu vực nhằm chi tiết hoá các kịch
bản biến đổi khí hậu toàn cầu. Bên cạnh các yếu tố như lượng mưa, nhiệt độ, tốc độ
gió,... báo cáo cũng chỉ ra một số kết quả về sự biến đổi của các hiện tượng khí hậu
cực đoan như mưa lớn, nắng nóng, rét đậm, rét hại, hạn hán, hoạt động của xoáy
thuận nhiệt đới...Vấn đề hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu biến
đổi khí hậu và xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam, phục vụ chiến
lược và kế hoạch ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu [14, tr.42-55].
Tác giả Nguyễn Phú Thắng có công trình nghiên cứu “Đánh giá hiện trạng,
nguyên nhân ngập lụt cục bộ địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang và đề
biến đổi khí hậu vì mục tiêu phát triển bền vững. Chính vì sử dụng các phương pháp
phân tích của khoa học tự nhiên đặc biệt là các phương pháp mô hình thủy văn,
công nghệ GIS vào xây dựng bản đồ ngập lụt ở lưu vực sông, kết hợp với phân tích
lượng mưa. Từ đó đưa ra các dự báo biến đổi dòng chảy lũ và ngập lụt để đưa ra các
cảnh báo, dự báo về mức độ ngập lụt và hạn hán tới chính quyền và người dân để họ
có kế hoạch thích ứng và ứng phó [8, tr.66-74].
4
Trong công trình nghiên cứu “Sống chung với lũ, lụt những vấn đề lý thuyết và
thực tiễn”của tác giả Vũ Thị Ngọc, Viện Phát triển bền vững vùng Trung Bộ, đã đề
cập đến kinh nghiệm ứng phó với lũ lụt của một số nước phát triển trên thế giới
bằng việc sử dụng khoa học công nghệ. Từ đó so sánh với các ứng phó và thích ứng
với ngập lụt của Việt Nam thông qua những biện pháp truyền thống của cộng đồng,
tác giả khẳng định “ sống chung với lũ” là một truyền thống của người Việt Nam,
tác giả đã đề cập đến vấn đề phức tạp của khí hậu Việt Nam từ thời kỳ phong kiến
đến hiện đại bằng số lượng thống kê các cơn bão, lụt hàng năm và những cách ứng
phó của dân gian trước tác động của lũ lụt. Trong nghiên cứu này tác giả nhấn mạnh
đến yếu tố chính sách của nhà nước đối với công tác phòng ngừa, giảm thiểu và
thích ứng với những tác động của Lũ lụt từ xưa đến nay. Tác giả cũng nêu lên
những kinh nghiệm quý giá và những biện pháp ứng phó với lũ lụt hiệu quả được
cộng đồng chia sẽ. Tuy nhiên những kinh nghiệm đó phù hợp với các vùng nông
thôn gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp [9, tr.14 - 17].
Tác giả Nguyễn Hồng Anh, Viện Phát triển vùng Trung Bộ có công trình “Bài
học kinh nghiệm qua tri thức dân gian và thực tế của các địa phương trong phòng
chống lũ”. Báo cáo đã đề cập đến các giai đoạn của chính của quá trình quản lý rủi
ro thiên tai, trong đó tác giả cũng nêu ra ba giai đoạn như: thứ nhất, phòng ngừa với
mục đích là giảm thiểu rủi ro, hạn chế thiệt hại bằng cách tập trung vào giải quyết
các nguy cơ và khả năng tấn công con người của thiên tai. Tác giả coi đây là biện
sở hạ tầng và những khu vực bê tông hóa khác ngăn chặn nước mưa thấm xuống mặt
đất vì thế nước sẽ chảy tràn nhiều hơn và dễ dàng làm ngập hệ thống thoát nước nếu
mưa lớn kéo dài. Ông đã nêu lên những ví dụ điển hình về một số quốc gia ở Châu Á,
Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh về yếu kém trong việc quản lý, quy hoạch cơ sở hạ
tầng đô thị làm mất khả năng thoát nước tự nhiên cũng như, hay tắc nghẽn hệ thống
thoát nước do rác thải sinh hoạt không được thu gom đúng cách. Theo báo cáo này thì
biến đổi khí hậu có khả năng làm tăng rủi ro lũ lụt ở các đô thị theo 3 cách: từ biển
(mực nước biển dâng); từ mưa (dư lượng mưa tăng hoặc mưa kéo dài; và từ những
thay đổi gây ra tăng lưu lượng dòng chảy ví dụ như băng tan. Ngoài ra tác giả cũng
đề cập đến các rủi ro về sức khỏe lên quan đến Biến đổi khí hậu, trong đó có lũ lụt –
1
Tại hội nghị nhóm chuyên gia LHQ về phân bố dân cư, đô thị hóa, dịch cư và phát triển, phòng dân số, ban
kinh tế và phúc lợi xã hội Liên hợp quốc, New york, 21-23, 2008
6
ví dụ như sự gia tăng của bệnh tiêu chảy cho vệ sinh không đảm bảo nếu bị ngập lụt
kéo dài, sự tăng lên của các bệnh nhiệt đới, hay sự gia tăng của bệnh sốt xuất huyết ở
một số quốc gia trong những năm gần đây. Có thể nói điểm đáng chú ý nhất của công
trình này là tác giả đã đề cập đến vai trò ứng phó với biến đổi khí hậu của chính
quyền đô thị, trong vai trò đó thì cần thiết phải hiểu được quy mô và phạm vi của sự
tham gia của chính quyền đô thị trong một số lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu
như: Tài chính; kỹ thuật công trình công cộng; Quy hoạch phát triển và kiểm soát
phát triển; Sức khỏe môi trường; Y tế công; Xã hội, cộng đồng dịch vụ an toàn…với
từng vấn đề cụ thể trên thì vai trò của chính quyền địa phương tập trung ở những khía
cạnh then chốt như: Mức độ công việc thuộc trách nhiệm của chính quyền địa
phương; Mức độ tham gia của chính quyền địa phương trong từng lĩnh vực, ai chịu
trách nhiệm quy hoạch xây dựng bảo trì công trình và cơ sở hạ tầng hay cung ứng
Tác động của biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng ở cả khu vực nông thôn lẫn
đô thị, nhu cầu tìm ra các giải pháp ứng phó phù hợp là điều hết sức cần thiết
nhằm thích ứng và giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu. Nhóm các tác giả gồm
Ulrike Schinkel, Lê Diệu Ánh, Frank Schwartze thuộc đại học công nghệ
Brandenburg Cottbus, Khoa Quy hoạch đô thị và Thiết kế không gian và enda Việt
Nam, 2011 đã nghiên cứu và xuất bản ấn phẩm “Làm thế nào để Ứng phó với tác
động của biến đổi khí hậu ở đô thị”với mục đích là đóng góp, trao đổi các kiến
thức về biến đổi khí hậu, tác động của biến đổi khí hậu ở cấp địa phương và các cơ
hội thích ứng ứng và giảm thiểu khả năng dễ bị tổn thương. Đối tượng của cuốn sổ
tay nhằm hướng tới các cộng đồng đô thị chịu ảnh hưởng của sự thay đổi về khí
hậu, ngập lụt và nhiệt độ gia tăng. Cuốn sổ tay đã trình bày phương pháp tiếp cận
một cộng đồng tại TP Hồ Chí Minh và những công cụ áp dụng cho các cộng đồng
khác có hoàn cảnh tương tự, cũng như cho các tổ chức xã hội dân sự và cơ quan
chính quyền địa phương để có thể hỗ trợ quá trình thích ứng trong môi trường mà
họ chịu ảnh hưởng [16, tr.15].
Ấn phẩm của nhóm tác giả đã khái quát tính dễ bị tổn thương bởi Biến đổi khí
hậu gây ra cho một số khu vực ở TP Hồ Chí Minh, từ đó với giới thiệu việc thích
ứng dựa vào cộng đồng như một phương pháp tiếp cận cấp cơ sở có tính khả thi để
ứng phó, nêu lên các biện pháp cụ thể về cách xây dựng, thực hiện và kết quả của
dự án tại các khu vực thí điểm, đồng thời cung cấp các tài liệu xây dựng năng lực và
8
nâng cao nhận thức. Kết quả từ các dự án thí điểm cho thấy nhiều ưu điểm trong khi
ứng phó với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng, tuy nhiên theo nhóm tác giả thì
vẫn còn tồn tại nhiều thách thức như: tiếp cận cấp cơ sở bị hạn chế về quy mô và
pham vi, những tác động của biến đổi khí hậu như ngập do nước biển dâng, nóng
bức do tăng nhiệt độ không được giải quyết hiệu quả. Từ những vấn đề đặt ra trong
nghiên cứu của nhóm tác giả trên, đề tài tiếp tục nghiên cứu về những tác động của
môi trường của khoa học tự nhiên, các ngành khoa học này tập trung nghiên cứu các
nguyên nhân, cường độ, tuần suất và chu kỳ của mưa lũ hàng năm ở nhiều vùng khác
nhau. Ngoài ra, các tác giả cũng nêu lên một số kinh nghiệm về phòng chống lũ lụt ở
các khu vực thường xảy ra lũ lụt. Do đặc thù của khoa học tự nhiên, các đề tài đã bỏ
qua các yêu tố cộng đồng trong việc phân tích và đưa ra những kiến nghị nhằm ứng
phó với tình trạng ngập lụt và hạn hán. Qua các công trình nghiên cứu trước về các vấn
đề liên quan đến biến đổi khí hậu, lũ lụt, thích ứng, ứng phó với biến đổi khi hậu thì
hầu hết các công trình đều được tiến hành ở các khu vực thuộc miền Trung và Nam bộ,
rất hiếm thấy những nghiên cứu đối với các khu vực miền Bắc, hay vùng Đồng bằng
sông Hồng. Vì thế trong đề tài này, tác giả hướng tới phân tích và nhấn mạnh các yếu
tố cộng đồng xã hội được sử dụng trong việc hoạt động với ứng phó với ngập lụt như:
kiến thức, kinh nghiệm bản địa của người dân đô thị với ngập lụt đô thị, sự phối hợp
của các cá nhân trong hành động ứng phó của người dân đô thị tại thành phố Hà Nội.
Đây cũng chính là điểm mới mà đề tài của chúng tôi sẽ đề cập tới.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.
3.1. Ý nghĩa khoa học
Trong nghiên cứu này, tác giả đã vận dụng một số lý thuyết xã hội học như lý
thuyết “Xã hội rủi ro”, lý thuyết “Vốn xã hội” vào nghiên cứu một hiện tượng xã
hội cụ thể. Thông qua nghiên cứu, đề tài mang đến một cách nhìn mới về các hoạt
động ứng phó với ngập lụt của người dân qua đó mở rộng sự hiểu biết về khái niệm
ứng phó với ngập lụt.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài chú trọng nghiên cứu những hoạt động ứng phó mà người dân thực hiện
trước, trong và sau khi ngập lụt xảy ra. Qua đó, tác giả phân tích những điểm mạnh
và điểm yếu của việc ứng phó với ngập lụt của người dân nhằm tìm kiếm những
10
giải pháp ứng phó hiệu quả mà người dân thực hiện để giảm thiểu rủi ro từ ngập lụt,
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nguyên cứu
6.1. Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng ngập lụt diễn ra như thế nào trên địa bàn phường Tân Mai và xã
Tân Triều trong từ năm 2008 đến 2015?
Ngập lụt đã tác động như thế nào đến hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời sống
của người dân?
Người dân trên địa bàn đã ứng phó như thế nào với tình trạng ngập lụt?
Các biện pháp ứng phó với ngập lụt mà người dân thực hiện đã mang lại hiệu
quả ra sao?
6.2. Giả thuyết nghiên cứu
Từ năm 2008 đến nay, tình trạng ngập lụt có xu hướng ngày càng gia tăng và
gây những tác động xấu đến hoạt động sinh hoạt, việc làm, thu nhập và sức khỏe
của người dân đô thị.
Người dân đã có những biện pháp ứng phó kịp thời nhằm giảm thiểu những rủi ro,
thiệt hại do ngập lụt gây ra đồng thời thực hiện những biện pháp ứng phó linh hoạt.
Hiệu quả của công tác ứng phó với ngập lụt của người dân đô thị vẫn chưa cao,
ngập lụt tại các khu vực nghiên cứu đã có những thiệt hại nhất định tới đời sống, thu
nhập và sức khỏe của người dân.
7. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thu thập thông tin cho đề tài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng
những phương pháp chủ yếu sau:
7.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Trước khi tiến hành nghiên cứu, tác giả thực hiện tham khảo, đọc và phân tích
các tài liệu liên quan đã được công bố một cách kỹ lưỡng là sự trợ giúp đắc lực cho
tác giả xây dựng những ý tưởng và đề cương chính cho đề tài. Những tài liệu được
tham khảo bao gồm:
-
Báo cáo phát triển kinh tế xã hội xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, phường
7.2. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được thực hiện trong đề tài nghiên cứu là một phương
pháp thu thập thông tin bổ sung nhằm mục đích quan sát khu vực chịu nhiều tác
động của ngập lụt tại phường Tân Mai, quận Hoàng Mai và xã Tân Triều, huyện
Thanh Trì.
Nội dung quan sát gồm:
-
Cơ sở hạ tầng tại khu vực nghiên cứu gồm hệ thống công trình giao
thông, hệ thống các công trình thoát nước, hồ chứa nước,
-
Các hoạt động sinh hoạt, việc làm của người dân trong khu vực nghiên cứu
-
Môi trường sống và điều kiện sống tại khu vực nghiên cứu
-
Quan sát nhà ở, độ cao của nền nhà, sân và nền đường
Địa điểm quan sát:
-
Quan sát tại khác khu vực thường xuyên bị ngập lụt nhất theo đánh giá
của người dân,
-
vào các nội dung chính sau:
Thứ nhất, Tác động của ngập lụt đến hoạt động sinh hoạt, việc làm, sức khỏe
của người dân; Thứ hai, trước những tác động đó người dân đã làm gì để ứng phó với
ngập lụt và hoạt động mà họ thực hiện có mang lại hiệu quả trong quá trình ứng phó
hay không; và cuối cùng là sự phối hợp của người dân với cộng đồng cũng như chính
quyền được thực hiện như thế nào trong quá trình ứng phó với tình hình ngập lụt.
Với những nội dung chính trên, đề tài nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn các
cán bộ xã/ phường phụ trách việc ứng phó và khắc phục hậu quả ngập lụt ở hai địa
bàn: 06 người; Người dân chịu ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt trên hai địa bàn: 20
người. Như vậy, tổng số mẫu thực hiện phỏng vấn sâu là 26 mẫu.
7.4. Phương pháp khảo sát xã hội học
Xây dựng bảng hỏi
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài, nội dung phiếu điều tra được thiết
kế với 26 câu hỏi với các nội dung chính sau:
+ Phần thứ nhất: gồm 10 câu hỏi về những tác động của ngập lụt đến đời sống
trên ba yếu tố chính đó là: Sản xuất, sinh hoạt và đời sống
14
+ Phần thứ hai: gồm 10 câu hỏi về cách thức, hiệu quả của việc ứng phó với
ngập lụt của người dân.
+ Phần thứ ba: gồm 6 câu hỏi về thông tin nhân khẩu học của người trả lời
Kích cỡ mẫu
Để đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy, nghiên cứu tiến hành tính toán kích
thước mẫu theo công thức tính mẫu tỷ lệ dựa trên số liệu thống kê khu vực nghiên
cứu, tại phường Tân Mai quận Hoàng Mai và xã Tân Triều huyện Thanh Trì có dân
số đông, đất rộng vì thế tác giả chỉ tập trung nghiên cứu ở khu vực thường xuyên bị
tác động của ngập lụt nhất tại hai địa bàn này. Cụ thể với phường Tân Mai là các tổ
dân phố, 28, 29, 30, 31; và xã Tân triều là các khu vực xóm Lẻ, xóm Chùa và xóm
69
46,0
Nữ
81
54,0
Từ 18 đến 35
30
20,0
Từ 36 đến 55
85
56,7
Trên 55
35
23,3
Tiểu học
Giới tính
Tuổi
Trình độ học vấn
Nguồn: Nghiên cứu khảo sát xã hội học tại phường Tân Mai, Hoàng Mai
và xã Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội.
- Công cụ phân tích kết quả nghiên cứu: Sử dụng phương pháp thống kê, đo
lường xã hội học bằng phần mềm SPSS 22.0 For Window.
8. Khung Phân tích
Tác giả xây dựng khung phân tích với mục đích đưa đến một cách nhìn khái
quát về nội dung của công trình nghiên cứu, khung phân tích đồng thời cũng đóng vai
trò là công cụ định hướng xuyên suốt và thống nhất toàn bộ nội dung của nghiên cứu.
16
Ngập Lụt
Sinh hoạt
Việc làm và thu nhập
Sức khỏe
Ứng phó
Trước khi lụt Trong khi lụt
Sau khi lụt
ứng phó được hiểu bao gồm hai khía cạnh: Giảm nhẹ và thích ứng. Giảm nhẹ các
tác động của biến đổi khí hậu như nước biển dâng, ngập lụt, hạn hán, sự nóng lên
của trái đất…Còn thích ứng đề cập đến khả năng tự điều chỉnh của một hệ thống để
thích nghi với những biến đổi của khí hậu nhằm giảm nhẹ những nguy cơ thiệt hại,
đối với các hậu quả có thể xảy ra hoặc tận dụng những cơ hội [13, tr.40].
Trên cơ sở của khái niệm trên, trong đề tài nghiên cứu này khái niệm ứng
phó được hiểu là bao gồm tất cả các hoạt động đề phòng là những hoạt động được
thực hiện trước khi xảy ra ngập lụt; thứ hai, là hoạt động chống – là những hoạt
động đối phó thực hiện trong quá trình ngập lụt; và thứ ba là các hoạt động khắc
phục những hậu quả của lũ lụt sau khi chấm dứt trình trạng ngập lụt. Chính vì lẽ đó
khái niệm ứng phó có ý nghĩa bao hàm cả khái niệm thích ứng.
1.1.2. Khái niệm ngập lụt
Để hiểu được khái niệm ngập lụt, trước hết cần phải hiểu tìm hiểu về khái
niệm lũ. Lũ là hiện tượng tự nhiên do nước trong sông, hồ dâng cao trong một
khoảng thời gian nhất định sau đó giảm dần [29].
Tùy theo tính chất, mức độ mà lũ được phân ra nhiều loại như lũ quét,
lũ sớm, lũ muộn…Lụt là hiện tượng ngập nước của một vùng lãnh thổ do lũ
gây ra, lụt có thể do lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ sông, đê hoặc làm vỡ các
2
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
18
công trình ngăn lũ vào các vùng trũng, có thể do nước biển dâng khi gió bão
làm tràn ngập nước vùng ven biển [30].
Từ các khái niệm về lũ và lụt cho thấy lũ là nguyên nhân gây ra lụt, lụt kéo dài
trong thời gian dài dây nên tình trạng ngập lụt, ngập úng. Tuy hai khái niệm trên tương
đối chính xác và đầy đủ nhưng chưa bao quát được hết các vấn đề về lũ lụt, đặc biệt là