ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
********************
NGUYỄN HỮU TOÀN TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM TỰ Ý THỨC CỦA THANH NIÊN
TÁI NGHIỆN MA TÚY TẠI ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã số : 5.06.07 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC TÂM LÝ GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. LÊ KHANH HÀ NỘI, 2004
9. NC : Nhân cách
10. LĐTBXH : Lao động Thƣơng binh Xã hội 3
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tệ nạn ma tuý đã và đang là hiểm họa của toàn cầu, việc lạm dụng, buôn bán
các chất ma tuý trong mấy thập kỷ qua diễn ra hết sức phức tạp và ngày càng gia
tăng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, dẫn đến tình trạng nghiện ma tuý tràn lan,
đặc biệt trong tầng lớp thanh thiếu niên. Ở nƣớc ta Đảng và Nhà nƣớc đã thi hành
nhiều biện pháp nhằm giúp những ngƣời mắc tệ nạn này nhanh chóng trở thành
ngƣời có ích cho công cuộc xây dựng đất nƣớc với mục tiêu “Dân giàu, nƣớc mạnh,
xã hội công bằng văn minh”.
Nghiện ma tuý là trái với đạo đức truyền thống của dân tộc, gây cản trở tới
sự phát triển kinh tế gia đình và xã hội, tác hại to lớn cho sức khoẻ của một số bộ
phận nhân dân, ảnh hƣởng xấu tới nòi giống dân tộc, để lại hậu quả nghiêm trọng
cho các thế hệ sau. Nghiện ma tuý làm biến dạng nhân cách con ngƣời, là một trong
những nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm pháp. Vì vậy công tác phòng chống tệ
nạn nghiện ma tuý và chống tái nghiện đang là một nhiệm vụ cấp bách của toàn xã
hội. Theo báo cáo của Bộ Công an, tổng số ngƣời nghiện có hồ sơ quản lý qua các
năm là:
1994: 55.445 ngƣời; 1995: 61.596 ngƣời; 1996: 69.195 ngƣời
1997: 71.013 ngƣời; 1998: 86.295 ngƣời; 1999: 90.195 ngƣời
2000: 92.617 ngƣời; 2003: 110.247 ngƣời
Trong thực tế, số ngƣời nghiện ma tuý ở nƣớc ta ƣớc tính đến hiện nay vào
khoảng 113.903 đến 130.000 ngƣời và mỗi năm tiêu tốn khoảng 2000 tỷ đồng (theo
VTV1 đƣa tin ngày 26/06/2002). So sánh với năm 1982 cả nƣớc có hơn 40.000
ngƣời nghiện [6, tr.61] thì số ngƣời nghiện tăng gấp hơn 3 lần.
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Tự ý thức của thanh niên tái nghiện ma tuý
3.2. Khách thể nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành khảo sát các khách thể là TNTNMT thƣờng trú tại địa
bàn Hà Nội, nhƣng đang cai nghiện tại trung tâm giáo dục số số 02 và số 04 thuộc
địa bàn xã Yên Bài - huyện Ba Vì - tỉnh Hà Tây. Số mẫu là 200 ngƣời trong điều tra
tổng thể, độ tuổi khách thể từ 18 - 30 tuổi. 5
4. NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.1. Nghiên cứu tài liệu làm sáng tỏ nội hàm một số khái niệm có liên quan
nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
4.1.2. Điều tra nghiên cứu thực tiễn nhằm trả lời cho câu hỏi:
- Đặc điểm tự ý thức của thanh niên tái nghiện ma tuý có đặc điểm gì?Cụ thể
là tìm hiểu xem:
+ Họ tự nhận thức về bản thân nhƣ thế nào?
+ Đánh giá và tỏ thái độ với bản thân ra sao ?
+ Tự điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình nhƣ thế nào ? Khả năng tự
vạch ra đƣợc kế hoạch để tự điều khiển, điều chỉnh mình theo những quy tắc hành
vi và chuẩn mực xã hội hay không ?
- Việc tự ý thức đó có liên quan gì đến việc họ tái nghiện ma tuý ?
4.1.3. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thu đƣợc rút ra một số kết luận và từ đó
đƣa ra một số khuyến nghị về phƣơng diện giáo dục nhằm góp phần nhỏ vào công
tác nâng cao hiệu quả cai nghiện, chống tái nghiện.
4.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về mặt nội dung: Tự ý thức của con ngƣời là một phạm trù rất rộng
mà nghiên cứu này không bao hết đƣợc, chúng tôi chỉ đề cập đến một số đặc điểm
tự ý thức nổi trội của TNTNMT.
1.1. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong hai thập kỷ qua, đặc biệt là những năm 90 trở lại đây, ma tuý là một
trong những hiểm hoạ mang tính toàn cầu. Đặc biệt là từ khi căn bệnh thế kỷ
HIV/AIDS phát triển một cách nhanh chóng, đe doạ nghiêm trọng đến sự tồn vong
của loài ngƣời. Từ đó đến nay, những nghiên cứu về các chất ma tuý và các chất
gây nghiện gắn liền với căn bệnh nguy hiểm này càng đƣợc tiến hành một cách
công phu nhằm tìm ra những biện pháp thích hợp để giải quyết vấn đề.
1.1.1. Trên thế giới
Với phƣơng châm phòng chống tệ nạn ma tuý từ xa, ở một số nƣớc đã có
nhiều công trình tâm lý học nghiên cứu đƣợc tiến hành ở trẻ vị thành niên, trong đó
tập trung vào hành vi và thái độ của chúng đối với các chất gây nghiện nhƣ: cafe,
thuốc lá và các loại rƣợu. Viện nghiên cứu y học Mỹ (1994) đã nghiên cứu những
yếu tố bảo vệ trẻ vị thành niên để chúng không sử dụng Alcohol. Những yếu tố đó
bao gồm khả năng kiểm soát bản thân, trong đó các nghiên cứu về lòng tự trọng của
Rutter (1990); Demo (1995) cho thấy lòng tự trọng liên quan việc sử dụng chất
gây nghiện ở vị trẻ thành niên. Những trẻ có lòng tự trọng cao rất ít sử dụng các
chất gây nghiện và ngƣợc lại những trẻ có lòng tự trọng thấp thƣờng xuyên sử
dụng chất gây nghiện.
Nghiên cứu của Brook (1990); Hawkins (1992) ở Mỹ chỉ ra yếu tố quan hệ
với bạn bè trong xã hội cũng có ảnh hƣởng rất lớn với việc sử dụng ma tuý và
Alcohol ở trẻ. Nghiên cứu của Dons (1985); Kovach và Glichman (1986); Shilts
(1991); cho thấy việc sử dụng chất gây nghiện và gây nghiện của trẻ vị thành niên
gắn với tri giác của việc sử dụng ma tuý ở bạn bè.
Nghiên cứu của Jonhson (1986); Kuperminc; Onestak; Forman; Linney
(1989) cho thấy sự gắn bó về mặt tình cảm giữa cha mẹ con cái hoặc mâu thuẫn xẩy
ra trong gia đình thƣờng xuyên dẫn đến tình trạng tress, có ảnh hƣởng đến việc sử
dụng alcohol và các chất gây nghiện ở trẻ vị thành niên; ngƣợc lại sự gắn bó tình 9
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở nƣớc ta những nghiên cứu chuyên biệt dƣới góc độ tâm lý học về ma tuý
chƣa nhiều bằng các nƣớc khác, song cũng đã có một số công trình nghiên cứu đựơc
công bố trong các cuộc hội thảo về vấn đề này. Hầu hết trên các phƣơng tiện truyền
thông đại chúng ở nƣớc ta đều có mục bàn về việc phòng chống tệ nạn ma tuý nhƣ
một trong những vấn đề cấp bách cần đƣợc “giải quyết” càng sớm càng tốt.
Hàng loạt các bài báo và tạp chí đề cập đến vấn đề ma tuý, nghiện ma tuý, tái
nghiện ma tuý và phòng chống tệ nạn này ở thanh niên, trƣớc hết phải kể đến bài
viết của PGS-TS Mạc Văn Trang trong bài “Nạn nghiện ma tuý xem xét dƣới góc
độ cá nhân” (Tạp chí khoa học thanh niên 1998). Tác giả đã đề cập những động cơ
(lý do) khiến thanh thiếu niên sử dụng ma tuý, quá trình dẫn đến nghiện ma tuý và
các biện pháp giúp cá nhân phòng chống, cai nghiện từ phía gia đình, nhà trƣờng và
xã hội. Bài “Kết hợp nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn tệ nạn ma tuý trong học sinh
– sinh viên” của tác giả Văn Phong (tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
tháng 11 năm 1997). Tác giả chú trọng đến công tác tuyên truyền giáo dục mọi
ngƣời để nâng cao nhận thức về tác hại của ma tuý. Bài “Ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới
xoá bỏ tệ nạn ma tuý trong học sinh, sinh viên” của tác giả Lê Vũ Hùng (Tạp chí
khoa học thanh niên số 4 năm 1999) đã đề cập và đƣa ra biện pháp chính nhƣ kiểm
tra, quản lý chặt học sinh, sinh viên để họ không sử dụng ma tuý. Bài “Hai yếu tố
giảm số ngƣời nghiện ma tuý” của Lê Phƣơng Liên (báo nhân dân ngày 08 tháng 04
năm 1999) nêu ra vấn đề sau cai nghiện vẫn cần sự quản lý của chính quyền, sự
thƣơng yêu động viên của gia đình, sự quan tâm của xã hội, tránh cho ngƣời nghiện
có mặc cảm lầm lỗi, bị xã hội bỏ rơi, xa lánh. Bài “Một số giải pháp phòng ngừa ma
tuý trong giới trẻ” của Đăng Giao (tạp chí khoa học thanh niên) đề cập giải pháp về
kinh tế xã hội, về văn hoá giáo dục (công tác tuyên truyền giáo dục đạo đức lối sống
cho thanh thiếu niên, chú trọng giáo dục định hƣớng giá trị). Bài “Chống tái nghiện
nhìn từ góc độ tâm lý”, tác giả Đỗ Ngọc Yên đề cập nguyên nhân tái nghiện là do
Phong Hoà và Đặng Ngọc Hùng cho rằng: "Các chất ma túy là những chất độc, có
tính chất gây nghiện, có khả năng bị lạm dụng"[Ma túy và những vấn đề công tác
kiểm soát ma túy, NXB CAND, Hà Nội 1994]. Cũng có quan điểm giống nhƣ vậy,
tác giả Nguyễn Hồng Minh và Lại Thị Sử định nghĩa "Ma túy là tên chung để chỉ
các hoạt chất tự nhiên và các loại thuốc độc hại gây nghiện có tác dụng đối với thần
kinh con ngƣời" [20]. Theo tác giả Vũ Ngọc Bừng thì "Các chất ma túy là các chất 11
hoá học có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khi xâm nhập vào cơ thể ngƣời có tác
dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con ngƣời lệ thuộc vào
chúng và cuối cùng gây nên tổn thƣơng cho cá nhân và cho cộng đồng" [41]. Có rất
nhiều quan điểm khác nhau về ma túy song định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới
đƣợc nhiều ngƣời tán thành hơn cả. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới
(WTO) đã đƣợc UNESCO tán thành thì "Ma túy là chất gì khi đƣa vào cơ thể sống
có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng tâm sinh lý của cơ thể"[25].
Tổng hợp các quan niệm ở trên về ma tuý chúng tôi thấy khi xem xét ma tuý
phải chú ý những điểm: Nguồn gốc của ma tuý, tính chất gây nghiện của nó và tác
hại của chất đó đối với cơ thể. Từ đó chúng tôi có thể hiểu ma tuý là những chất
hoá học có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc tổng hợp, có khả năng ức chế thần kinh, có
tính chất gây nghiện và khi đưa vào cơ thể quá liều có thể làm thay đổi các chức
năng tâm sinh lý bình thường của con người.
Qua định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu rằng:
Theo nghĩa rộng thì ma túy là một chất hoá học hoặc là những chất tổng hợp
mà khi con ngƣời sử dụng sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và tinh thần (gồm cả
những chất bị cấm dùng nhƣ: thuốc phiện, hêrôin, côcain đến những chất chỉ dùng
hạn chế theo chỉ dẫn của thầy thuốc để chữa bệnh nhƣ moocphin, seduxen và
những chất hiện nay Nhà nƣớc ta chƣa cấm sử dụng nhƣ: thuốc lá, rƣợu, cà phê )
Theo nghĩa hẹp thì ma túy bao gồm: thuốc phiện, cần sa, các chế phẩm khác
nhƣ moocphin, hêrôin, côcain và các chất kích thích thần kinh, tâm thần ghi trong
túy, nghiện ma túy và tái nghiện ma túy.
Sử dụng ma túy là việc dùng ma túy với mục đích chữa bệnh, đúng liều
lƣợng, đúng lúc theo sự chỉ định chặt chẽ của các bác sĩ. Việc sử dụng nhƣ vậy là có
lợi cho sức khoẻ ngƣời dùng.
Lạm dụng ma túy là sử dụng ma túy một cách quá liều vào mục đích tiên
khiển. Cách sử dụng này là có hại đối với cơ thể.
Khái niệm nghiện ma túy cũng đƣợc đề cập ở các góc độ khác nhau. Nghiện
ma túy từ góc độ y học đƣợc tổ chức y tế thế giới định nghĩa là trạng thái nhiễm độc
chu kỳ hay mãn tính do sử dụng lặp lại nhiều lần một chất độc tự nhiên hay tổng
hợp nào đó. Sự nhiễm độc này đƣợc thể hiện ở sự tăng dần liều dùng và sự lệ thuộc 13
về tâm sinh lý của ngƣời dùng vào tác dụng của chất độc đó. Bởi từ góc độ quan
tâm của ngành y nên khái niệm nghiện chỉ chú trọng đến vấn đề thể chất, sức khoẻ
con ngƣời.
Từ quan điểm xã hội thì nghiện ma túy là "tệ nạn xã hội làm tổn hại đến sức
khoẻ, nhân cách, ảnh hƣởng xấu đến đời sống sinh hoạt và trật tự an toàn xã
hội"[41, tr.15].
Từ phƣơng diện tâm lý học thì khái niệm nghiện ma túy phải bao quát đƣợc
cả về mặt thể chất và mặt tâm lý của ngƣời nghiện, đồng thời cũng nêu lên tác hại
của nghiện trên cả bình diện cá nhân và xã hội. Trong từ điển Tâm lý học, nghiện
ma túy đƣợc định nghĩa là trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính của cơ thể, có
hại cho cá nhân và cho xã hội do dùng nhiều lần một lƣợng chất độc tự nhiên và
tổng hợp. Nghiện ma túy có những đặc điểm nhƣ: bức xúc về mặt tâm lý muốn sử
dụng lại ma túy, sự lệ thuộc của cơ thể vào chất gây nghiện.
Nhƣ vậy, có thể định nghĩa nghiện ma tuý nhƣ sau: nghiện ma túy là hiện
tượng bị phụ thuộc cả thực thể và tinh thần vào ma túy do sử dụng thường xuyên
với liều lượng ngày càng tăng dẫn đến mất khả năng kiểm soát bản thân ở người
nghiện ma túy, có hại cho cá nhân và cho xã hội. Thiếu ma tuý, ở ngƣời nghiện sẽ
một hay nhiều chất ma túy dẫn đến tình trạng nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính, bị lệ
thuộc thể chất và tinh thần vào ma túy. Ngƣời nghiện ma túy nếu ngừng sử dụng
thuốc thì sẽ bị hội chứng cai nghiện (mất ngủ, đau xƣơng, chóng mặt ), ảnh hƣởng
đến sức khoẻ và tinh thần (giảm trí nhớ, suy thoái nhân cách ) trong một thời gian
nhất định tuỳ thuộc vào mức độ nghiện ở từng ngƣời.
Nguyên nhân tâm lý dẫn đến nghiện ma túy:
- Do đua đòi, bị dụ dỗ, rủ rê, lôi kéo.
- Muốn thử tìm cảm giác lạ
- Muốn chứng tỏ mình "chịu chơi", "anh hùng"
- Gặp chuyện buồn không có hƣớng giải quyết (học hành, tình cảm)
- Thiếu sự quan tâm của gia đình và ngƣời thân.
Từ định nghĩa về ma túy chúng ta có thể định nghĩa đƣợc tái nghiện ma túy. 15
Tái nghiện ma túy là ngƣời đã từng ít nhất một lần nghiện và đã cai nghiện
ma túy, sau đó tiếp tục sử dụng lại ma túy dẫn đến tình trạng nhiễm độc chu kỳ hay
mãn tính, bị lệ thuộc thể chất và tinh thần vào ma túy. Ngƣời tái nghiện ma túy (sử
dụng lại ma túy sau khi đã cai nghiện) nếu ngừng sử dụng thuốc thì sẽ bị hội chứng
cai nghiện (mất ngủ, đau xƣơng, chóng mặt ), ảnh hƣởng đến sức khoẻ và tinh thần
trong một thời gian nhất định tuỳ thuộc vào thời gian và mức độ nghiện ở từng
ngƣời.
- Lệ thuộc ma túy về mặt thể chất: ngƣời nghiện phải tiếp tục dùng ma túy
bằng bất cứ giá nào, bởi vì nếu ngƣng dùng ma túy sẽ đƣa đến những cơn vật vã do
thiếu ma túy, có khi rất trầm trọng. Trong lệ thuộc ma túy về mặt thể chất ngƣời ta
thƣờng thấy có hiện tƣợng phải tăng liều sử dụng mới có cảm giác sảng khoái giống
nhƣ lúc đầu. (ví dụ: heroin luôn có khuynh hƣớng tăng liều sử dụng. Đầu tiên chỉ
thử dùng một "tép" mỗi ngày, nhƣng về sau phải tăng dần đến 2 - 3 "tép" mỗi ngày,
hoặc đầu tiên chỉ dùng heroin dạng bột để hút, hít thì về sau phải chuyển sang chích
heroin.
xử nhƣ thế dễ dàng đẩy con em mình vào con đƣờng tái nghiện.
Trong suốt thời gian nghiện ma túy thì ngƣời nghiện là nô lệ cho ma túy. Họ
luôn tìm đủ mọi cách, mọi mánh khoé để có tiền thoả mãn cơn nghiện. Vì vậy khi
đã cai nghiện thì nếp nghĩ cũ vẫn còn, tự họ có thể vẫn muốn quay lại con đƣờng cũ.
Mặt khác ngƣời nghiện vốn dễ bị rủ rê lôi kéo do tâm lý không vững vàng nên khi
gặp khó khăn trong cuộc sống họ dễ dựa dẫm vào ma túy coi đó nhƣ một "lối
thoát". Ở họ thƣờng thấy những biểu hiện tâm lý sau:
- Có sự ham muốn ma túy không kiềm chế đƣợc và phải sử dụng ma túy
bằng bất cứ giá nào.
- Có khuynh hƣớng tăng dần liều dùng, liều dùng sau phải nhiều hơn liều
dùng trƣớc thì mới có tác dụng.
- Nếu thiếu thuốc sẽ kèm theo những triệu chứng mệt mỏi, uể oải, giảm trí
nhớ, mất ý chí và có thể làm bất cứ điều gì miễn là có thuốc để dùng.
- Tâm tƣ mất ổn định, mất khả năng tƣ duy mạch lạc, tâm trạng thƣờng lo
lắng bồn chồn. 17
- Thói quen sinh hoạt thay đổi, thích và hay ngủ ngày, đêm thức.
- Có thói quen hay tụ tập, đi lại đàn đúm, có nhu cầu chơi bời với những
ngƣời không có việc làm, lƣời lao động, nếu còn đi học thì hay bỏ học.
- Hàng ngày cứ đến một giờ nhất định nào đó dù có làm việc gì cũng cũng bỏ
dở để tụ tập với nhóm bạn nghiện khác.
- Tâm lý thích ở một mình, ít và ngại tiếp xúc với mọi ngƣời. Thƣờng chỉ
tiếp xúc với một nhóm bạn nghiện nhất định nào đó.
- Tâm lý khát khao, thèm muốn ma túy theo chu kỳ.
- Khi lên cơn nghiện, có cảm tƣởng bị khốn quẫn mất hết phƣơng hƣớng.
- Khi có ma túy sử dụng sẽ xuất hiện các trạng thái về mặt tâm lý nhƣ: Tinh
thần sảng khoái, cảm thấy lâng lâng với “ảo giác” rất hạnh phúc, có cảm giác minh
mẫn hơn, mạnh mẽ hơn. Có cảm giác bồng bềnh, quên đi nỗi nhọc nhằn phiền
nhƣ số năm cần thiết để thoát khỏi ma túy cho những đối tƣợng bắt đầu nghiện khi
chƣa tròn 16 tuổi là 11 năm, những ngƣời bắt đầu nghiện trong độ tuổi 17 - 20 thì
chỉ cần trung bình khoảng 7 năm, và độ tuổi 21-25 chỉ cần 4 năm. Tuy nhiên, ở
nhóm ngƣời bắt đầu nghiện ma túy khi đã quá tuổi 25 thì quá trình điều trị lại bắt
đầu kéo dài hơn, lên đến 6 năm. Kết quả nghiên cứu trên cũng cho thấy khi đã sa
vào ma túy sớm thì xã hội cũng nhƣ gia đình, cá nhân phải khó khăn nhƣ thế nào để
loại bỏ sự nghiện ngập ra khỏi đời sống xã hội.
1.2.3.1. Tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ người nghiện và tái nghiện
Trong những năm gần đây nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hƣởng của ma
túy đối với sức khoẻ con ngƣời đã khẳng định: ma túy là nguyên nhân phát sinh
nhiều loại bệnh tật, huỷ hoại sức khoẻ con ngƣời. Nghiện ma túy là một căn bệnh
làm cho các con nghiện gầy còm, ốm yếu, kém ăn, mất ngủ, thần kinh rối loạn, trí
nhớ kém, lƣời biếng, ngại vận động, ngại làm việc, sợ nƣớc, sợ ánh sáng v.v…Thể
chất và tinh thần bị huỷ hoại dần dần, trí thông minh bị suy giảm và cạn kiệt, sợ sệt,
chán trƣờng, mệt mỏi, thất vọng và luôn có mặc cảm lầm lỗi, khổ tâm, quan sát
cũng thấy điều đó khi họ đang ở trong các trại cai nghiện. Còn ở ngoài cuộc sống
đời thƣờng, đôi khi họ nhƣ con thú dữ, sẵn sàng chém giết, đập phá hoặc làm bất cứ
việc gì miễn là đƣợc thoả mãn cơn nghiện. 19
Khi cơn nghiện ập đến thì họ quằn quại đau đớn, rên rỉ, thậm chí co giật,
chảy nƣớc miếng trông thật thảm hại.
- Các nhà khoa học Hoa Kỳ khẳng định rằng, những ngƣời nghiện ma túy
thƣờng bị bệnh tim mạch với tỷ lệ cao so với ngƣời không nghiện.
Các nhà khoa học Châu Âu đã thông báo: những ngƣời thƣờng xuyên sử
dụng ma túy dễ mắc các bệnh gan và thận.
Các bệnh thần kinh thƣờng thấy xuất hiện ở những ngƣời nghiện ma túy. Các
chất ma túy tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ƣơng, tạo nên những dấu ấn,
những phản xạ mới, gây nên những xung động kích thích hoặc ức chế lên các trung
cùng dẫn đến những đổ vỡ, những hậu quả không thể lƣờng hết đƣợc, đó là tội
phạm.
1.2.3.3. Tác hại của ma tuý đối với trật tự an toàn xã hội
Nền trật tự an toàn xã hội là tổng thể các mối quan hệ xã hội đƣợc điều chỉnh
bởi các quy phạm pháp luật, các phong tục tập quán và các chuẩn mực đạo đức. Mỗi
cá nhân, mỗi gia đình, mỗi tập thể sản xuất, cơ quan, trƣờng học trong hoạt động
thƣờng ngày đều bị chi phối, ràng buộc lẫn nhau trong sự hài hoà và hết sức năng
động của toàn xã hội.
Nghiện ma túy là một tệ nạn xã hội và là nguyên nhân gây nên những hậu
quả nghiêm trọng cho trật tự an toàn xã hội. Nghiện hút và mại dâm luôn đi song
song với nhau. Với những đặc điểm tâm lý, tính cách, nhận thức của những con
nghiện, lối sống gấp gáp, hung hãn, cuồng nhiệt, vô tổ chức, vô kỷ luật, bất cần đời,
chán trƣờng và bệnh hoạn; số con nghiện này đang là nguồn bổ sung vào thế giới tội
phạm. Để có tiền mua ma túy đáp ứng nhu cầu cơn nghiện, họ lao vào trộm cắp tài
sản, trấn lột, tống tiền, thậm chí cả những vụ giết ngƣời cƣớp của. Kết quả nghiên
cứu thống kê tội phạm học chỉ ra rằng, trên 60 % số đối tƣợng phạm các tội vừa nêu
là những ngƣời nghiện ma túy.
Ma túy, nghiện hút ma túy là một trong những nguyên nhân, điều kiện phát
sinh tội phạm. Do tác hại ảo giác của một số loại ma túy, ngƣời nghiện có thể có
những hành vi hung hãn, gây hƣng phấn, quậy phá gây mất trật tự an toàn xã hội,
hoặc có khi nổi máu yêng hùng dẫn đến đua xe, lạng lách gây tai nạn giao thông.
Nếu mỗi ngƣời nghiện sử dụng từ 10.000 đến 30.000 đồng mỗi ngày để mua ma túy 21
thì mỗi ngày nƣớc ta tiêu tốn từ 2 tỉ đến 6 tỷ đồng (với khoảng 200.000 ngƣời
nghiện hiện nay). Không những thế tốn kém do phải xây dựng lực lƣợng phòng,
khắc phục, giải quyết các hậu quả do ma túy đem lại cũng không nhỏ, ngoài ra xã
hội phải mất tiền để giáo dục, điều trị tốn hàng chục tỉ đồng (20 tỉ đồng cho năm
1996). Ma túy làm tha hoá thế hệ trẻ - những ngƣời sa chân vào con đƣờng nghiện
đánh giá thì tập thể các tác giả còn chỉ ra những mặt tiêu cực trong định hƣớng giá
trị của thanh niên, đó là:
- Về mặt tƣ tƣởng: Chƣa thật tin tƣởng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng
đất nƣớc, không hài lòng với công việc mức thu nhập thấp, việc buôn bán mai mối
giữ vị trí cao trong các dạng làm thêm để kiếm sống, ích kỷ lo thân, động cơ và
trách nhiệm xã hội giảm sút.
- Ý thức pháp luật non kém: Số tội phạm tăng từ 1990 đến 1991 là 19%, một
số thanh niên thành phố chạy theo lợi nhuận, hẹp hòi, cạnh tranh thô bạo, sống
buông thả, coi thƣờng giá trị đạo đức và văn hoá truyền thống.
- Tâm lý không an tâm với những gì đã có trong công việc, hoài nghi trong
tình yêu, tình bạn, trong quan hệ cơ quan, không nhiệt tình trong công tác xã hội.
Thực tiễn cuộc sống chỉ ra rằng, khi thanh niên định hƣớng sai hệ thống giá
trị của bản thân so với hệ thống giá trị chung của xã hội, sẽ có thể dẫn tới những
hành vi của thanh niên đi chệch hƣớng xã hội. Nếu giá trị của cá nhân đƣợc đề cao
hơn giá trị của xã hội thì mọi cố gắng của họ nhằm vào bảo vệ giá trị, quyền lợi của
mình, thoả mãn nhu cầu của mình và thờ ơ trƣớc giá trị của ngƣời khác.
Có thể nói thanh nhiên là những ngƣời nhiều đặc điểm tâm lý đang đƣợc
hoàn thiện, nhiều mặt còn đang khủng hoảng, nhiều mặt trong nhân cách đang phát
triển trong mối quan hệ tƣơng tác với các tác nhân của môi trƣờng xung quanh. Tâm
lý và tính cách của thanh niên đang ở giai đoạn hình thành và phát triển một cách
năng động, rất ham mê với cái mới lạ, hay tò mò và nhạy cảm; dễ bị ảnh hƣởng của
những tác động từ bên ngoài, nhất là những mặt tiêu cực.
Vì chƣa coi trọng mặt phẩm chất chính trị, xã hội, lối sống đạo đức, trách
nhiệm công dân nên một số thanh niên có thể dễ dàng hành động sai lệch chuẩn
mực đạo đức. 23
Sai lệch chuẩn mực đạo đức có thể do cá nhân bị động với lý do cá nhân
chƣa nhận thức đƣợc hết, hoặc nhận thức sai các chuẩn mực đạo đức chung của gia
chuyển thành hành vi sai lệch chủ động.
Ngƣợc lại, lúc đầu xuất phát từ một hành vi sai lệch chủ động, song cá nhân
không ý thức hết đƣợc hậu quả của hành vi sai lệch của mình, dẫn tới những tác hại
to lớn cho ngƣời khác ngoài ý muốn của họ. Nhƣ vậy trong trƣờng hợp này hành vi
sai lệch chủ động của cá nhân đã chuyển thành hành vi sai lệch bị động của bản
thân họ.
Vì vậy dù có hành vi sai lệch bị động hay hành vi sai lệch chủ động đều cần
có các biện pháp ngăn ngừa và điều chỉnh, nhằm hƣớng tới mục đích chung của mọi
ngƣời và toàn xã hội, đƣa xã hội phát triển nhƣng đồng thời mọi ngƣời cũng bình
đẳng hơn và sống có trách nhiệm với nhau hơn, với mục đích cùng tồn tại và tiến
bộ.
1.2.4.2. Thanh niên với hiện tượng nghiện và tái nghiện ma túy
Do sự định hƣớng giá trị bị sai lệch dẫn tới hành vi lệch chuẩn nói trên mà
nhiều thanh niên đã đi vào con đƣờng nghiện ngập ma túy rồi lại tiếp tục tái nghiện,
tập trung vào những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Do có những bế tắc trong cuộc sống gia đình và xã hội không đƣợc giải
quyết, họ chịu tác động bởi những tâm lý tiêu cực, muốn tìm sự lãng quên cuộc
sống hiện tại. Do không có việc làm hoặc nếu có thì cũng không ổn định, do trắc trở
trong tình yêu nên đến với ma túy.
- Do tiếp tục đua đòi ham vui cùng bạn bè, bị bạn bè lôi cuốn khích lệ, thử
một vài lần thành quen và bị nghiện.
- Do tiếp tục phải dùng các loại thuốc giảm đau nhƣ: Moocphin; Codein;
Dolagan để chữa bệnh hoặc làm giảm đau các vết thƣơng sau quen dần và thành
nghiện.
- Do tiếp tục chung sống với ngƣời nghiện ma túy, hoặc ở vùng có tập tục,
thói quen dùng ma túy, có điều kiện tiếp xúc, thử lại ma túy và bị nghiện.
Kết quả điều tra ở Trung tâm cai nghiện Bình Triệu thành phố Hồ Chí Minh
cho thấy, số ngƣời nghiện vì bế tắc trong cuộc sống gia đình chiếm 23, 26%. Số