SKKN Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều - Pdf 25

Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dù trong hoàn cảnh nào,
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là
nhân tố quan trọng quyết định đến sự hưng thịnh của nước nhà. Đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn đổi mới sâu sắc nền kinh tế
xã hội, công cuộc đổi mới đòi hỏi những công dân có tri thức khoa học kỹ thuật
có năng lực chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm đáp ứng yêu cầu của đời sống
xã hội đang thay đổi từng ngày, từng giờ, nhiệm vụ phát hiện tài năng, bồi dưỡng
nhân tài càng trở lên quan trọng từ những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống, mục
tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu Bậc Tiểu học nói riêng cũng cần có sự thay
đổi.
Những nét đặc trưng và đổi mới của mục tiêu giáo dụcTiểu học tạo ra là
những con người năng động, tự chủ, sáng tạo, sẵn sàng thích ứng với sự đổi mới
của xã hội, phát triển hài hoà với đời sống ngày càng đa dạng, phức tạp và hội
nhập của xã hội hiện đại.
Những đổi mới của mục tiêu giáo dục đã dẫn đến sự thay đổi tất yếu của
nội dung và phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học tạo điều kiện
cá thể hoá quá trình dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh,
người giáo viên đóng vai trò hướng dẫn, điều khiển giúp học sinh tự tìm tòi kiến
thức phát huy được trí lực của các đối tượng học sinh, trong đó có học sinh khá
giỏi.
Trong chương trình tiểu học, Toán học là một môn học chiếm vị trí quan
trọng, kiến thức Toán trong Tiểu học có nhiều ứng dụng trong cuộc sống hàng
ngày. Chúng cần thiết cho mọi người lao động và chuẩn bị cơ sở để tiếp tục học
các môn học khác và học lên bậc trên. Môn Toán có khả năng nổi trội trong việc
Trịnh Thị Đặng - Trường Tiểu học Thị trấn Vương
Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều
hình thành và rèn luyện các năng lực tư duy trừu tượng hoá, khái quát hoá, kích
thích trí tưởng tượng và phát triển khả năng rèn luyện suy luận phương pháp giải

đều.” để nghiên cứu và hi vọng sẽ có những ứng dụng thiết thực cho việc bồi
dưỡng học sinh giỏi lớp 5 ở trong trường Tiểu học.
II. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi nhiều giáo viên giới thiệu bài còn
lẻ tẻ, học sinh giải bài nào biết bài đó chứ chưa có cái nhìn khái quát một số
phương pháp chung với dạng toán này. Qua quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi ở
trường Tiểu học Thị trấn Vương, tôi thấy có một số tình trạng phổ biến là học
sinh còn cảm thấy khó khăn vì không nhận diện được bài toán dẫn đến việc bế
tắc không tìm ra được cách giải. Do đó việc nhận dạng, phân loại và lựa chọn
phương pháp thích hợp để tìm ra lời giải cho các bài toán về chuyển động đều
cho học sinh giỏi lớp 5 là hết sức cần thiết. Nhằm tạo điều kiện cho công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi, giúp cho giáo viên hiểu được một số vấn đề chung về các
bài toán nâng cao có nội dung về chuyển động, thấy được vị trí và tầm quan trọng
của dạng toán này. Có cách nhìn đầy đủ về hệ thống kiến thức, nội dung chương
trình, các dạng cơ bản nhất của kiểu bài toán có nội dung chuyển động, trên cơ sở
nắm bắt được sâu sắc về nội dung, phân dạng các bài toán về chuyển động, đề ra
phương pháp giải với mỗi dạng bài cụ thể.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Trịnh Thị Đặng - Trường Tiểu học Thị trấn Vương
Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều
Đề tài được nghiên cứu đối với học sinh giỏi lớp 5 tại trường Tiểu học Thị
trấn Vương - Tiên Lữ - Hưng Yên.
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

đại lượng. Nhưng phương pháp này cũng đòi hỏi một yêu cầu khi vẽ sơ đồ phải
biểu diễn chính xác, ghi rõ các dữ kiện thì giải bài toán mới nhanh gọn, chính
xác.
3. Chuẩn kiến thức và kĩ năng giải toán chuyển động:
Sau khi học dạng toán chuyển động học sinh cần nắm được những kiến
thức cơ bản của dạng toán chuyển động như sau:
Có 3 dạng bài toán cơ bản:
Bài toán 1: Cho biết vận tốc và thời gian chuyển động, tìm quãng đường.
Công thức giải: Quãng đường = vận tốc x thời gian.
Bài toán 2: Cho biết quãng đường và thời gian chuyển động, tìm vận tốc.
Công thức giải: Vận tốc = quãng đường : thời gian
Bài toán 3: Cho biết vận tốc và quãng đường, tìm thời gian.
Công thức giải: Thời gian = quãng đường : vận tốc.
* Chú ý: Phải chọn đơn vị đo thích hợp trong các công thức tính. Chẳng hạn nếu
quãng đường chọn đo bằng km, thời gian đo bằng giờ thì vận tốc phải đo bằng
km/giờ. Nếu thiếu chú ý điều này học sinh sẽ gặp khó khăn và sai lầm trong tính
toán.
Sau khi học xong phần phương pháp giải các bài toán chuyển động
đều, yêu cầu đạt được ở mỗi học sinh như sau :
Trịnh Thị Đặng - Trường Tiểu học Thị trấn Vương
Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều
- Biết thực hiện đúng các bước đi của qui trình giải các bài toán nói chung và
giải các bài toán chuyển động đều nói riêng, đặc biệt là bước tìm hiểu đề,
phân tích , lập kế hoạch giải.
- Học sinh trung bình phải thuộc từng dạng toán và nắm được cách giải từng
dạng toán đó ở dạng tường minh nhất.
+ Học sinh khá giỏi đòi hỏi phải nắm thành thục các thao tác, từ đó vận dụng một
cách linh hoạt các phương pháp giải và giải bài toán có chất lượng phức tạp.
4. Thực trạng việc dạy và học các bài toán chuyển động ở trường Tiểu
học Thị trấn Vương – Tiên Lữ - Hưng Yên.

lầm khi làm bài.
- Do thời gian phân bố cho loại toán chuyển động đều ít nên học sinh không
được củng cố rèn luyện kĩ năng giải loại toán này một cách hệ thống, sâu sắc,
việc mở rộng hiểu biết và phát triển khả năng tư duy, trí thông minh, óc sáng tạo
cho học sinh còn hạn chế.
- Học sinh chưa được rèn luyện giải theo dạng bài nên khả năng nhận dạng
bài, và vận dụng phương pháp giải cho từng dạng bài chưa có. Dẫn đến học sinh
lúng túng, chán nản khi gặp loại toán này.
- Khi làm bài nhiều em không đọc kĩ đề bài, suy nghĩ thiếu cẩn thận, hấp
tấp nên bỏ sót dữ kiện đề bài cho. Hoặc không chú ý đến sự tương ứng giữa các
đơn vị đo của các đại lượng khi thay vào công thức tính dẫn đến sai.
Một số khó khăn, sai lầm học sinh thường mắc phải khi giải loại toán này là:
-Tính toán sai
- Viết sai đơn vị đo
- Nhầm lẫn giữa thời gian và thời điểm
- Vận dụng sai công thức
Trịnh Thị Đặng - Trường Tiểu học Thị trấn Vương
Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều
- Học sinh lúng túng khi đưa bài toán chuyển động ngược chiều (hoặc
cùng chiều) lệch thời điểm xuất phát về dạng toán chuyển động ngược chiều
(hoặc cùng chiều) cùng thời điểm xuất phát.
- Câu trả lời không khớp với phép tính giải.
Ví dụ 1: Do tính toán nhầm nên HS tìm ra vận tốc của người đi bộ là 40
km/giờ ( điều này là không thể có trong thực tế)…
Ví dụ 2: Hai thành phố A và B cách nhau 186km. Lúc 6 giờ sáng, một xe
máy đi từ A với vận tốc 30 km/giờ về B. Lúc 7 giờ sáng một xe khác đi từ B với
vận tốc 35 km/giờ để về A. Hỏi lúc mấy giờ thì hai xe gặp nhau?
Bài giải: Thời gian hai người gặp nhau là:
186 : ( 30 + 35 ) = 2,86 ( giờ )
Đáp số: 2,86 giờ

CHƯƠNG II: CÁC DẠNG TOÁN VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI ĐỐI VỚI
MỖI DẠNG.
Với ngữ cảnh là chuyển động mà người ta có thể lồng vào đó những yếu tố
toán học khác nhau để tạo ra rất nhiều bài toán khác nhau, tuy nhiên với phạm vi
“ Dạy giải toán nâng cao lớp 5” tôi đã tập trung chú ý những bài toán mà trong đó
yếu tố đặc trưng cho mối quan hệ quãng đường, vận tốc, thời gian được sử dụng
tài tình, tạo nên sự phức tạp, rắc rối cho bài toán. Với suy nghĩ như vậy, tôi đã
phân chia thành các loại bài như sau:
Dạng 1: Các bài toán có một chuyển động tham gia.
Dạng 2: Các bài toán có hai chuyển động tham gia:
Loại 1: Hai chuyển động cùng chiều.
Loại 2: Hai chuyển động ngược chiều.
Dạng 3: Vật chuyển động trên dòng nước:
Dạng 4: Vật chuyển động có chiều dài đáng kể
Trịnh Thị Đặng - Trường Tiểu học Thị trấn Vương
Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều
Giải toán là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp bởi bài toán là sự kết
hợp đa dạng nhiều khái niệm, nhiều quan hệ toán học. Vì vậy, trong quá trình
hướng dẫn học sinh, ở mỗi dạng toán tôi đi theo các bước sau:
Bước 1: Cho học sinh giải những bài toán có tính chất điển hình chứa đựng
tất cả những đặc điểm chung của các bài toán cùng dạng nhưng ở mức độ đơn
giản, số liệu không lớn, không có dữ kiện phức tạp nhằm tạo điều kiện cho các
em tập trung suy nghĩ vào các mối quan hệ toán học và các từ mới chứa trong đầu
đề bài toán, dễ dàng nhận diện được dạng toán.
Bước 2: Cùng học sinh phân tích đề bài và giải bài mẫu về dạng đó.
`Bước 3: Cho học sinh giải một số bài tập tương tự bài mẫu nhưng ở mức
độ cao dần để giúp học sinh rèn luyện kĩ năng nhận dạng và phương pháp giải
của kiểu bài này.
Bước 4: Cho học sinh giải một số bài toán để tự luyện, có thể xen kẽ một
số bài dạng tương tự.

+ Vận tốc: kí hiệu là v. Đơn vị đo thường dùng là km/giờ, m/phút,
km/phút, m/giây( đối với những chuyển động quá nhanh) và quan trọng là vận
tốc chính là quãng đường đi được trong một đơn vị thời gian.
- Những công thức thường dùng trong tính toán:
s = v x t v = s : t t = s : v
- Chú ý: trong mỗi công thức trên, các đại lượng phải sử dụng trong cùng
một hệ thống đơn vị đo. Chẳng hạn:
+ Nếu đơn vị đo quãng đường là km, đơn vị đo thời gian là giờ thì đơn vị
đo vận tốc là km/giờ.
+ Nếu đơn vị đo quãng đường là km, đơn vị đo thời gian là phút thì đơn vị
đo vận tốc là km/phút.
+ Nếu đơn vị đo quãng đường là m, đơn vị đo thời gian là phút thì đơn vị
đo vận tốc là m/phút…
- Với cùng một vận tốc thì quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian.
- Với cùng một thời gian thì quãng đường tỉ lệ thuận với vận tốc
- Với cùng một quãng đường thì vận tốc tỉ lệ nghịch với thời gian ( mặc
dù ở chương trình thay sách 2000 – 2010 không đưa khái niệm tỉ lệ thuận, tỉ lệ
nghịch ở dạng tường minh so với chương trình cũ nhằm giảm bớt “gánh nặng”
kiến thức cho HS, song thông qua các bài toán về quan hệ tỉ lệ của đầu chương
trình lớp 5 tôi cũng cung cấp cho HS mối quan hệ tỉ lệ thuận: khi đại lượng này
tăng hoặc giảm bao nhiêu lần thì đại lượng kia cũng tăng hoặc giảm bấy nhiêu
lần. Tỉ lệ nghịch: khi đại lượng này tăng hoặc giảm bao nhiêu lần thì đại lượng
kia lại giảm hoặc tăng bấy nhiêu lần)
Bài toán 1: Một ôtô dự kiến đi từ A với vận tốc 45km/giờ để đến B lúc 12
giờ trưa. Nhưng do trời trở gió nên mỗi giờ xe chỉ đi được 35km và đến B chậm.
hơn so với dự kiến 40 phút. Tính quãng đường AB.
Phân tích và hướng dẫn giải
Trịnh Thị Đặng - Trường Tiểu học Thị trấn Vương
Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều
Đây là bài đầu tiên trong chuyên đề nên sau khi cho hoc sinh nghiên cứu kĩ

chuyển động trên cùng một quãng đường.
Bài toán 2: Một người đi xe máy từ quê với vận tốc 40km/giờ, dự kiến tới Hà
Nội lúc 8 giờ. Đi được nửa đường, người ấy phải dừng lại sửa xe mất nửa giờ.
Sau đó người ấy phải đi với vận tốc 50km/giờ để đến Hà Nội cho kịp giờ đã định.
Tính quãng đường từ quê đến Hà Nội.
Phân tích và hướng dẫn giải
Cho học sinh nhận xét và so sánh với bài tập 1 để nhận ra yêu cầu cao hơn
trong bài tập này. Đó là: nửa quãng đường trước người đó đi với vận tốc và thời
gian đúng như dự kiến. Vậy phải tìm tỉ số vận tốc ( thời gian) dự định với thực tế
của nửa quãng đường lúc sau, bài toán trở về bài toán 1. Yêu cầu HS tự giải
Lời giải
Đổi: nửa giờ = 30 phút
Tỉ số vận tốc trước và vận tốc sau khi dừng lại sửa xe là:
40 : 50 = 4/5
Vậy tỉ số thời gian dự định và thời gian thực đi trên nửa đoạn đường còn lại là 5/4
Ta có sơ đồ sau:
t thực đi:
t dự định
Thời gian người ấy đi nửa quãng đường còn lại sau khi sửa xe là:
30 : ( 5 – 4) x 4 = 120 (phút)
120 phút = 2 giờ
Quãng đường người ấy đi sau khi sửa xe là:
50 x 2 = 100 (km)
Quãng đường từ quê lên Hà Nội là:
Trịnh Thị Đặng - Trường Tiểu học Thị trấn Vương
Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều
100 x 2 = 200 (km)
Đáp số : 200 km
Đến đây cơ bản học sinh đã quen với loại bài này. Về nội dung bài toán cho
biết một , hai đại lượng để từ đó tìm ra đại lượng thứ ba . Để phức tạp hoá bài

230km. Hỏi người đó dừng lại nghỉ lúc mấy giờ?
Phân tích và hướng dẫn giải
Với bài này phần nhiều học sinh sẽ lúng túng khi xác định được tỷ số vận
tốc mà không có thêm dữ kiện nào khác về đường đi hay thời gian có liên quan.
Giáo viên hướng dẫn học sinh nhớ lại dạng toán giải bằng phương pháp “giả thiết
tạm”: nếu cả đoạn đường đó đều đi với vận tốc là 45km/giờ hoặc 35km/giờ thì
sao? Vì sao quãng đường đó sau khi giả sử như vậy lại tăng lên hoặc giảm đi?
Vậy thời gian đi sau hoặc trước lúc nghỉ có tìm được không. Đây cũng là điểm
khó của bài toán này, giải quyết điều này học sinh hoàn toàn có thể áp dụng kiến
thức cũ để giải bài toán này.
Lời giải:
Đổi: 1 giờ kém 20 phút chiều = 12 giờ 40 phút
Thời gian người đó đi từ A đến B không kể thời gian nghỉ là:
12 giờ 40 phút – 6 giờ – 40 phút = 6 (giờ)
Giả sử 6 giờ đó người đó đều đi với vận tốc 45 km/giờ thì đoạn đường đi được là:
45 x 6 = 270 (km)
Đoạn đường đã dài hơn là: 270 – 230 = 40 (km)
Đoạn đường đi được đã tăng lên do mỗi giờ lúc sau khi nghỉ ta đã giả sử cho nó
tăng thêm 45 – 35 = 10 (km). Vậy thời gian người đó đi sau khi nghỉ là:
40 : 10 = 4 ( giờ)
Thời điểm người ấy dừng lại nghỉ là:
12 giờ 40 phút - 4 giờ – 40 phút = 8 (giờ)
Trịnh Thị Đặng - Trường Tiểu học Thị trấn Vương
Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều
Đáp số: 8 giờ
Bài toán 4 : Một ô tô đi từ A đến B mất 4 giờ. Nếu mỗi giờ ô tô đi thêm 14 km
nữa thì đi từ A đến B chỉ mất 3 giờ. Tính khoảng cách giữa A và B .
Phân tích và hướng dẫn giải
Với bài toán này tôi đã hướng dẫn học sinh nhận dạng và đưa về dạng toán
điển hình như sau:

4
3
Vận tốc thực tế là :
14 : (4 - 3) x 3 = 42 (km/giờ)
Khoảng cách giữa A và B là:
42 x 4 = 168 (km)
Đáp số: 168 km
*) Bài tập ứng dụng
Bài 1: Hằng ngày, Hương đến trường bằng xe đạp với vận tốc 12 km/giờ. Sáng
nay, do có việc đột xuất nên Hương xuất phát chậm hơn so với mọi ngày 4 phút.
Hương nhẩm tính, để đến trường đúng giờ như mọi ngày thì phải đi với vận tốc 5
km/giờ. Tính quãng đường từ nhà Hương tới trường.
Bài 2: Lúc 8 giờ rưỡi, một ô tô đi từ A với vận tốc 60 km/giờ và phải đến B lúc
13 giờ. Đến 11 giờ, xe phải dừng lại sửa chữa mất 20 phút. Hỏi để đến B đúng dự
định thì trên đoạn đường còn lại, xe phải chạy với vận tốc bao nhiêu?
Bài 3: Một ô tô đi từ A qua B để đến C mất 8 giờ. Thời gian đi từ A đến B gấp 3
lần thời gian đi từ B đến C. Quãng đường AB dài hơn quãng đường BC là 130
km. Biết muốn đi đúng thời gian quy định thì từ B đến C ô tô phải tăng vận tốc
thêm km/ giờ. Hỏi quãng đường BC dài bao nhiêu ki-lô-mét?
Bài 4: Một ô tô chạy từ A đến B. sau khi chạy 1 giờ phải giảm vận tốc chỉ còn
3/5 vận tốc ban đầu, vì thế ô tô đến B chậm mất 2 giò. Nếu từ A, sau khi chạy
được 1 giờ ô tô chạy thêm 50 km nữa rồi mới giảm vận tốc như trên thì đến B chỉ
chậm 1 giờ 20 phút. Tính quãng đường AB.
Trịnh Thị Đặng - Trường Tiểu học Thị trấn Vương
Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều
Bài 5: Đặt một bài toán có nội dung về chuyển động khi biết hiệu thời gian là 50
phút và tỉ số vận tốc là 4/5?
DẠNG 2: CÁC BÀI TOÁN CÓ HAI CHUYỂN ĐỘNG THAM GIA:
Loại 1: Hai chuyển động cùng chiều.


này, hướng dẫn học sinh như sau:
Nghiên cứu kỹ đề bài, xác định những đại lượng có trong bài và mối quan
hệ giữa chúng.
Dùng sơ đồ đoạn thẳng, căn cứ vào các giả thiết để tóm tắt biểu thị mối
quan hệ giữa các đại lượng. Trên cơ sở đó tìm ra lời giải.
A C B
Lời giải
Đổi : 1 giờ 30 phút = 1,5 giờ.
Quãng đường xe tải đi trước xe du lịch là:
40 x 1,5 = 60 ( km)
Thời gian xe du lịch chạy để đuổi kịp xe tải là:
60 : ( 60 – 40 ) = 3 (giờ)
Trịnh Thị Đặng - Trường Tiểu học Thị trấn Vương
Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều
Thời điểm hai xe gặp nhau là:
6 giờ + 1 giờ 30 phút + 3 giờ = 10 giờ 30 phút
Hai xe gặp nhau cách A số ki – lô - mét là:
60 x 3 = 180 (km)
Đáp số: 10 giờ 30 phút
180 (km)
Để học sinh ghi nhớ kiểu bài và phương pháp giải, giáo viên đưa ra bài toán 3.
Bài toán 3: Lúc 7 giờ sáng, Diệu Hương đạp xe từ nhà đến huyện. Một giờ sau,
Diệu Hương tăng vận tốc thêm 5 km/giờ. Cùng lúc đó, bố đi xe máy đuổi theo
Hương với vận tốc gấp 3,5 lần vận tốc của Diệu Hương lúc đầu. Khi lên đến
huyện thì hai bố con gặp nhau. Tính quãng đường từ nhà lên huyện biết tổng vận
tốc lúc đầu, vận tốc lúc sau của Hương và vận tốc của bố là 60 km/giờ.
Phân tích và hướng dẫn giải:
Với cách làm như trên, tôi hướng dẫn học sinh đọc kĩ đầu bài, xác định các
đại lượng có trong bài, tự mình tóm tắt đầu bài, biểu diễn mỗi quan hệ giữa các
đại lượng, phát hiện ra lời giải.

2
- v
1
) ; (v
2
> v
1
)
Ta có câu thơ sau:
" Trên đường kẻ trước với người sau,
Hai kẻ cùng chiều muốn gặp nhau,
Vận tốc đôi bên tìm hiệu số,
Đường dài chia hiệu khó chi đâu !"
Bài tập ứng dụng
Bài 1: Bác Lan đi xe đạp về quê với vận tốc 10 km/h, 5/6 giờ sau bác Thảo đến
nhà tìm bác Lan . Biết bác Lan đã về quê nên bác Thảo đã đuổi theo với vận tốc
Trịnh Thị Đặng - Trường Tiểu học Thị trấn Vương
Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều
12 km/h. Bác Thảo về đến quê thì bác Lan đã về trước 10 phút. Hỏi từ nhà bác
Lan đến quê dài bao nhiêu km?
Bài 2: Lúc 9 giờ tối, tàu hải quân của ta phát hiện một chiếc tàu địch cách 15km
đang chạy trốn. Tàu ta đuổi theo tàu địch với vận tốc 40km/giờ, đến 10 giờ 30
phút thì đuổi kịp và bắt được tàu địch. Tính vận tốc của tàu địch và quãng đường
tàu ta đã đuổi bắt tàu địch.
Bài 3: Đặt một đề toán có nội dung về hai chuyển động cùng chiều gặp nhau
nhưng không cùng thời điểm xuất phát.
Loại 2: Hai chuyển động ngược chiều.

Trước khi vào luyện tập dạng toán này, tôi củng cố lại cho HS một số kiến thức
cơ bản như sau:

- Để tìm được thời gian gặp nhau ta làm như thế nào ? (Lấy quãng đường
chia cho tổng vận tốc)
* Bước 3 : Trình bày bài giải.
Học sinh trình bày bài giải.
Bài giải
Khi ô tô khách xuất phát thì ô tô tải đã đi được thời gian là:
8 giờ 30 phút – 7 giờ = 1 giờ 30 phút
Đổi : 1 giờ 30 phút = 1,5 giờ
Trịnh Thị Đặng - Trường Tiểu học Thị trấn Vương
Nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 giải các bài toán về chuyển động đều
Khi ô tô khách xuất phát thì ô tô tải đã đi được quãng đường là:
65 x 1,5 = 97,5 (km)
Quãng đường còn lại 2 xe phải đi là :
657,5 – 97,5 = 560 (km)
Sau 1 giờ cả 2 xe đi được :
65 + 75 = 140 (km)
Thời gian để 2 ô tô gặp nhau là :
560 : 140 = 4 (giờ)
Đáp số : 4 giờ
* Bước 4 : Kiểm tra đánh giá kết qủa.
Học sinh tự kiểm tra kết quả hoặc đổi vở để kiểm tra kết quả của nhau.
Học sinh thử lại kết quả dựa vào các dữ liệu đã cho của bài toán.
Chẳng hạn :
Quãng đường ô tô tải đi là : AC = 65 x (4 + 1,5) = 357,5 (km)
Quãng đường ô tô khách đi là : BC = 75 x 4 = 300 (km)
Quãng đường AB là : 357,5 + 300 = 657,5 (km)
(Đúng theo đề bài)
Bài toán 2: Hai thành phố A và B cách nhau 186 km. Lúc 6 giờ, một người đi xe
máy từ A với vận tốc 30 km/giờ về B. Lúc 7 giờ, một người khác đi xe máy từ B
với vận tốc 35 km/giờ để về A. Hỏi lúc mấy giờ thì hai người gặp nhau và chỗ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status