biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn sinh học nội dung các quy luật và hiện tượng di truyền - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM MINH ĐOÀN
BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LỚP 9 MÔN SINH HỌC
NỘI DUNG CÁC QUY LUẬT VÀ HIỆN TƯỢNG DI TRUYỀN LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN SINH HỌC
Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học : TS. Nguyễn Thế Hưng

HÀ NỘI – 2011 1


Sinh học 20

1.1.2.1. Khái niệm bài tập, bài tập nhận thức, câu hỏi tự lực 20
1.1.2.2. Lược sử ra đời của bài tập Sinh học trong dạy hoc Sinh học 22
1.1.2.3. Bản chất của bài tập di truyền trong dạy học 23
1.1.2.4. Vai trò của bài tập di truyền trong dạy học 23
1.1.2.5. Các tiêu chuẩn của bài tập di truyền trong dạy học Sinh học 24
1.1.2.6. Đặc điểm của bài tập trong dạy học nội dung các quy luật và
hiện tượng di truyền 26

1.2. Thực trạng việc dạy học sinh giỏi lớp 9 về nội dung kiến thức các
quy luật và hiện tượng di truyền 29

1.2.1. Việc học của học sinh 29
1.2.2. Việc dạy của giáo viên 31
CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LỚP 9
MÔN SINH HỌC 33

2.2. Chương trình và nội dung kiến thức phần các quy luật và hiện
tượng di truyền 33

2.2.1. Vị trí, tầm quan trọng của nội dung kiến thức quy luật và hiện
tượng di truyền trong chương trình Sinh học 9 33

2.2.2. Phân tích chương trình và nội dung kiến thức quy luật và hiện
tượng di truyền 33

2.3. Mục tiêu kiến thức và kỹ năng cần có khi học về nội dung các
quy luật và hiện tượng di truyền Sinh học 9 35


3.5.2. Kết quả thực nghiệm định lượng 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
1.Kết luận 96
2. Khuyến nghị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
4

PHỤ LỤC 1 101

PHỤ LỤC SỐ 2: 124
khăn như: giáo viên chưa chuẩn bị tốt hệ thống lý thuyết và chưa xây dựng
được hệ thống bài tập chuyên sâu trong quá trình giảng dạy; học sinh không có
nhiều tài liệu tham khảo; nội dung giảng dạy chưa đáp ứng được nội dung thi học
sinh giỏi ở các kì thi học sinh giỏi môn Sinh học các cấp.
6

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “ Biện
pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh học ( nội dung các quy luật và
hiện tượng di truyền)”. Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài giúp
cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh đạt kết quả cao trong những
năm tới.
2. Lịch sử nghiên cứu
Việc nghiên cứu nhằm nâng cao ch
ất lượng dạy học môn Sinh học 9 nói
chung và phần di truyền và biến dị nói riêng mới chỉ có một số đề tài nghiên cứu:
- Luận văn “ Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều
lựa chọn dạng MCQ để hình thành kiến thức trong dạy học phần di truyền và
biến dị Sinh học 9 trung học cơ sở” của tác giả Hoàng Hải Phòng (Luận văn
tốt nghiệp khoá 4, Đại h
ọc giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội)
- Luận văn “Rèn luyện học sinh kỹ năng hệ thống kiến thức trong dạy học
Sinh học 9” của tác giả Ngô Văn Hưng năm 2006
Tuy vậy, chưa có một luận văn hay đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về
việc dạy học nội dung Các quy luật và hiện tượng di truyền cho học sinh giỏi lớp
9.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề xuấ
t các biện pháp trong dạy học nội dung các quy luật và hiện tượng
di truyền góp phần nâng cao hiệu quả trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9
môn Sinh học.

tượng di truyền trong dạy học sinh giỏi.
8

- Đề xuất các biện pháp rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức cho học
sinh về nội dung các quy luật và hiện tượng di truyền.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp trong
đề tài.
9. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp các cơ sở lí luận
của việc sử dụng câu hỏi và bài tập trong dạy học Sinh h
ọc 9; cơ sở lí luận về hệ
thống hóa kiến thức trong dạy học Sinh học 9.
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra: Tìm hiểu việc dạy( thông qua nghiên cứu giáo
án, dự giờ, phỏng vấn, trao đổi với giáo viên) và việc học ( thông qua
trao đổi với học sinh, phân tích các sản phẩm học tập của học sinh) nhằm
đánh giá tình hình dạy và học nội dung kiến th
ức phần các quy luật và
hiên tượng di truyền Sinh học lớp 9 từ đó đề xuất biện pháp.
- Phương pháp xử lí số liệu: Các số liệu thu được trong quá trình điều tra
khảo sát trong thực nghiệm sư phạm được xử lí bằng bảng biểu và các
giá trị đặc trưng của thống kê toán học( trị số trung bình, phương sai, độ
lệch chuẩn) kiểm định giả thuy
ết thống kê các tham số.
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm với
tiến trình dạy học đã soạn thảo. Phân tích kết quả thu được trong quá trình thực
nghiệm sư phạm, đối chiếu với mục đích nghiên cứu và rút ra kết luận của đề tài.
10. Luận cứ
- Luận cứ lý thuyết:
9

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Hệ thống hoá kiến thức trong dạy học Sinh học
1.1.1.1. Hệ thống hoá kiến thức
* Khái niệm hệ thống:
Lý thuyết hệ thống coi đối tượng nghiên cứu là một hệ toàn vẹn, bao gồm
các thành tố có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Khái niệm hệ thống đượ
c
Vonbertalanffy xác định như sau “ hệ thống là một tổng thể các phần tử có quan
hệ, có tương tác với nhau”. Hay định nghĩa của Miller: “ hệ thống là tập hợp các
yếu tố cùng với những mối quan hệ tương tác giữa chúng với nhau”.
Khái niệm hệ thống đã được triết học đề cập tới: Đó là một tổ hợp các yếu
tố cấu trúc liên quan chặt chẽ vớ
i nhau trong một chỉnh thể, trong đó mối quan
hệ qua lại biện chứng giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tượng trở nên một
chỉnh thể trọn vẹn và đến lượt mình, khi nằm trong mối quan hệ qua lại đó,
chúng tạo nên những thuộc tính mới, các thuộc tính mới này không có ở những
yếu tố cấu trúc khi chúng đứng riêng lẻ. Mối tác động qua lại biện chứng giữa
các yếu tố cấu trúc đã sản sinh ra động lực cho sự tự thân vận động và phát triển
của hệ thống.
PH.Ăngghen đã nhấn mạn rằng sự tác động qua lại là nguyên nhân bên
trong quy định sự phát triển vì vậy sự phát triển của tư duy lý thuyết khoa học
không chỉ là sự gia công sắp xếp lại các tài liệu đã được tích luỹ trong các nghiên
cứu khác nhau mà chính là việc xác định các mối quan hệ biệ
n chứng giữa các tri
thức đó với nhau trong một chỉnh thể trọn vẹn.
11

Trong bút kí triết học và nhiều tác phẩm của mình V.I.Lênin đã chú ý
nhiều đến khái niệm chỉnh thể, cái chung tương ứng với khái niệm hệ thống, còn

khái quát, tim ra trong đó những mối quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật và
hiện tượng.
Như vậy việc hệ thống hoá kiến thức giúp giáo viên củng cố cho học sinh
những điều đã học, sẵp xế
p chúng thành một hệ thống chặt chẽ, giúp học sinh lý
giải được ý nghĩa sâu xa của kiến thức ấy, biết cách diễn đạt ý tưởng của mình
bằng ngôn ngữ của chính mình khi nghiên cứu nội dung Sinh học.
Trong dạy học việc hệ thống hoá kiến thức sẽ có tác dụng rèn luyện ở học
sinh những phẩm chất trí tuệ sau đây:
- Rèn luyện kỹ năng đọc sách, tài liệu giáo khoa, phát triển năng lực nhận
thức cho học sinh. Muốn hệ thống hoá kiến thức được học sinh phải đọc kỹ nội
dung sách giáo khoa để chắt lọc, lựa chọn kiến thức cơ bản, cốt lõi nhất. Đồng
thời phải thiết lập mối quan hệ giữa các phần kiến thức. Quá trình này đòi hỏi
học sinh phải vận dụng thành thạo cá thao tác tư duy cơ bản như: so sánh, phân
tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá…Đấy là quá trình gia công chuyển
hoá tri thức sách vở thành tri thức bản thân. Như vậy việc hệ thống hoá kiến thức
giúp học sinh sử dụng được các nguồn tài liệu đa dạng, phát triển tư duy lôgic, tư
duy hình tượng, tư duy biện chứng trên cơ sở đó phát triển năng lực nhận thức và
năng lực hành động chủ động và sáng tạo.
- Qua việc hệ
thống hoá kiến thức học sinh biết cách đối chiếu so sánh sự
vật hiện tượng để tìm ra quy luật nghĩa là rèn luyện học sinh khả năng khái quát
hoá rút ra kết luận.
- Bằng phương pháp hệ thống hoá kiến thức, tri thức mà học sinh lĩnh hội
được không phải ở dạng cung cấp sẵn mà trên cơ sở hoạt động với đối tượng,
13

trên các mối liên hệ bản chất giữa các sự vật hiện tượng vì thế tri thức sâu, chính
xác phản ánh đúng bản chất, kỹ năng kỹ xảo chắc chắn.
- Việc hệ thống hoá kiến thức còn giúp học sinh vừa chiếm lĩnh kiến thức

kiến thức. Do đó trong quá trình rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức, giáo
viên phải luôn bám sát mục tiêu bài học và hình thành các thao tác phù hợp với
nội dung bài học.
b. Phát huy tính tích cực củ
a học sinh:
Khi hệ thống hoá kiến thức điều quan trọng là đưa học sinh tham gia vào
việc lập bảng, sơ đồ hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất. Bằng những
chỉ dẫn hay hệ thống câu hỏi dựa vào đó học sinh sẽ xác định được nội dung và
xác định được mối quan hệ giữa các nội dung qua đó lĩnh hội được kiến thức.
c. Giúp học sinh nâng dần khả năng hệ thống hoá kiến thức:
Trong quá trình rèn luyện kỹ nănng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh
tuỳ thuộc vào trình độ năng lực cụ thể của học sinh để giáo viên nâng dần yêu
cầu các mức độ hệ thống hoá từ dễ đến khó, không nóng vội sẽ dễ làm cho học
sinh chán nản khi không thực hiện được các yêu cầu mà giáo viên đặt ra.
Các mức độ hệ
thống hoá được sắp xếp từ dễ đến khó như sau:
- Nghiên cứu nội dung qua bảng, sơ đồ hệ thống hoá do giáo viên trình
bày.
- Học sinh nghiên cứu bảng, sơ đồ cho trước để rút ra nhận xét.
- Điền bảng, sơ đồ thiếu khuyết, sơ đồ câm cho trước nhờ nghiên cứu tài
liệu, sách giáo khoa theo hướng dẫn của giáo viên.
- Tự xây dựng bảng, sơ đồ hệ thống hoá kiến th
ức qua hướng dẫn của giáo
viên.
15

d. Đảm bảo tính lôgic
Về mặt lôgic khách quan, tính quy luật của các hiện tượng di truyền tồn tại
hoàn toàn khách quan, còn mỗi nhóm hay mỗi quy luật di truyền được khám phá
ra ở những thời điểm nhất định trong lịch sử khoa học. Lịch sử khám phá này

Bước 2: Xác định các khía cạnh( các mặt) của nội dung kiến thức
Bước 3: Thiết lập các cột, các hàng
Bước 4: Hoàn thiện b
ảng hệ thống
* Giải thích các bước:
- Bước 1: Xác định nhiệm vụ học tập nghĩa là xác định rõ hành động mà
học sinh phải thực hiện và những điều kiện cần có để thực hiện được hành động
đó.
Bằng những gợi ý, bài tập, phiếu học tập giáo viên sẽ giúp học sinh xác
định được mình phải làm gì? đọc tài liệu nào? Nghiên cứu mục nào? dựa trên cơ
s
ở nào? để có thể thực hiện được nhiệm vụ đó.
- Bước 2: Xác đinh các khía cạnh ( các mặt) của nội dung kiến thức: Nghĩa
là phân tích sự phát triển của kiến thức dựa trên một tiêu chí nhất định nào đó.
Bằng các câu hỏi gợi ý, hướng dẫn cua giáo viên, học sinh sẽ xác định
được tiêu chí để phân tích sự phát triển của kiến thức, từ đó xác định được các
khía cạnh (các mặt) của nội dung kiến thức để đưa vào cấu trúc của bảng.
- Bước 3: Thiết lập các cột, hàng nghĩa là xác định cách trình bày bảng hệ
thống hoá bằng cách:
Tiến hành đếm kiến thức và căn cứ vào chủ đề định thể hiện để xác định
cấu trúc của bảng: số hàng, số cột, kích thước của các hàng các cột kích thước
của bảng, bố trí theo chiều ngang hay chiều dọ
c…
17

- Bước 4: Hoàn thiện bảng hệ thống
Điền nội dung cụ thể vào các ô giữa cột và hàng tương ứng trong bảng vừa
thiết kế và hoàn thiện bảng hệ thống cho phù hợp với mục đích đề ra. Có thể đọc
bảng vừa xây dựng để từ đó rút ra những kết luận cần thiết.
b. Xây dụng sơ đồ hệ thống hoá kiến thức

a. Kỹ nă
ng
Theo gốc Hán - Việt, “kỹ” là sự khéo léo, “năng” là có thể. Kỹ năng là khả
năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực
tiễn. Kỹ năng đạt tới mức hết sức thành thạo khéo léo thì trở thành kỹ xảo.( Theo
Trần Bá Hoành - Một số cơ sở lý thuyết của các hướng cải cách môn Sinh học -
1996)
Theo M.A Đanilop (1980) kỹ năng là khả
năng của con người biết sử dụng
có mục đích và sáng tạo những kiến thức trong hoạt động lý thuyết cũng như
thực tiễn. Kỹ năng bao giờ cũng dựa trên kiến thức lý thuyết, kỹ năng chính là
kiến thức trong hành động.
Theo quan niệm của A.V.Petrovxki (1982) thì kỹ năng là cách thức hành
động dựa trên cơ sở tri thức. Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện t
ập
tạo cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà
cả trong những điều kiện thay đổi.
Từ những quan niệm về kỹ năng trên ta thấy các tác giả đã xét kỹ năng ở
hai khía cạnh khác nhau:
Thứ nhất: Coi kỹ nănng như là cách thức hành động phù hợp với mục tiêu
và điều kiện hành động.
19

Thứ hai: Coi kỹ năng như là năng lực của con người, nghĩa là coi kỹ năng
là thực hiện có kết quả với chất lượng cần thiết với thời gian tương ứng, không
những trong điều kiện quen thuộc mà còn trong điều kiện mới.
Như vậy quan niệm thứ hai không chỉ coi kỹ năng là kĩ thuật, cách thức
hành động mà còn coi kỹ năng là một bi
ểu hiện của năng lực con người, đòi hỏi
ở con người phải luyện tập theo một quy trình xác định mới hình thành được kỹ

các mối quan hệ qua lại giữa chúng.
* Quá trình hình thành kỹ năng hệ thống hoá kiến thức :
Thực chất của quá trình hình thành kỹ năng hệ thống hoá kiến thức trong
học tập là hình thành ở học sinh khả năng sử dụng các thao tác tư duy đê phân
tích nội dung xác định các yếu t
ố của kiến thức và mối quan hệ giữa chúng, từ đó
sắp xếp các kiến thức thành hệ thống. Vi vậy, muốn hình thành kỹ năng hệ thống
hoá kiến thức cho học sinh cần:
- Hướng dẫn học sinh biết cách phân tích nội dung để tìm ra kiến thức cơ
bản cốt lõi nhất hay chính là xác định các đỉnh của sơ đồ hệ thống hoá
- Hướng dẫn học sinh tìm ra được các m
ối quan hệ và tính chất của mối
quan hệ giữa các nội dung kiến thức để xác định được các cạnh và chiều của các
cạnh trong sơ đồ hệ thống hoá.
- Hướng dẫn học sinh hình thành một mô hình khái quát để diễn đạt các
yếu tố kiến thức thành một sơ đồ thể hiện tính hệ thống.
1.1.2. Cơ sở lí luận của việc sử dụng câu hỏi và bài tập trong d
ạy học
Sinh học
1.1.2.1. Khái niệm bài tập, bài tập nhận thức, câu hỏi tự lực
21

a. Khái niệm bài tập
Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học nhằm
hình thành kiến thức mới, củng cố, hoàn thiện kiến thức đã học.
Bài tập có thể là; Một câu hỏi, một thí nghiệm, một bài toán, một bài toán
nhận thức.
- Bài tập tạo ra một định hướng nhận thức của người học, đẻ người học
h
ướng tới việc tìm hiểu, sử dụng vốn hiểu biết tri thức, định hướng bổ sung thêm

ở thành bài tập nhận thức, bài tập chỉ
trở thành bài tập nhận thức khi mâu thuẫn khách quan trong bài tập được học
sinh ý thức như là một vấn đề, nghĩa là biến thành mâu thuẫn chủ quan. Từ đó
học sinh dựa vào những kiến thức trong sách giáo khoa, những kiến thức đã tiếp
thu từ trước, những kiến thức từ thông báo của giáo viên để tìm cách khắc phục,
biến đổi mâu thuẫn, khi gi
ải quyết được mâu thuẫn thì lĩnh hội được kiến thức từ
bài tập.
c. Khái niệm câu hỏi tự lực.
Các câu hỏi tự lực là những câu hỏi gợi ý của giáo viên theo một định
hướng sư phạm trong dạy học. Đó là loại câu hỏi hướng dẫn tư duy tìm tòi tài
liệu mới của học sinh khi đọc tài liệu giáo khoa. Điều này có tác dụng rút ngắn
thời gian nhận th
ức các tri thức mới của học sinh từ tài liệu giáo khoa, tập dượt
cho học sinh tác phong tự học, tự nghiên cứu tìm tòi có định hướng từ các tri
thức hờ hững của tài liệu giáo khoa.
1.1.2.2. Lược sử ra đời của bài tập Sinh học trong dạy hoc Sinh học
Tuỳ thuộc vào từng môn học mà sự ra đời của bài tập trong dạy học có
khác nhau. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến sự ra đờ
i của bài tập di truyền trong
dạy học Sinh học.
23

Từ sau kết quả nghiên cứu của Menđen, các bài tập di truyền mới được
thiết lập. Trước hết là để nghiên cứu các quy luật di truyền, sau đó phục vụ cho
công tác dạy học. Lĩnh vực di truyền học là một mũi nhọn của Sinh học đề cập
đến những nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm. Do sự xâm nhập ngày càng sâu
của toán học vào các lĩnh vực Sinh học. Cho nên ngườ
i ta mô hình hoá ngày
càng nhiều nội dung Sinh học bằng các biểu thức toán học gọn nhẹ tạo ra những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status