Hà Nội - 2010Hà Nội - 2010
Quan niệm về hôn nhân và gia đình
trong kinh quran
Quan niệm về hôn nhân và gia đình
trong
kinh quran
Luận văn thạc sỹ triết họcLuận văn thạc sỹ triết học
Vũ văn chungVũ văn chung
đạI học quốc gia hà nội
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN
đạI học quốc gia hà nội
TRNG I
HC KHOA HC X HI V NHN VN
Vũ văn chung luận văn thạc sỹ triết học hà nội 2010Vũ văn chung luận văn thạc sỹ triết học hà nội 2010
Hà Nội - 2010Hà Nội - 2010
Luận văn thạc sỹ triết họcLuận văn thạc sỹ triết học
đạI học quốc gia hà nội
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN
đạI học quốc gia hà nội
TRNG I
HC KHOA HC X HI V NHN VN
Chuyên ngành
Mã số
Chuyên ngành
Mã
số
: Tôn giáo học
: 60.22.90
: Tôn giáo học
:
60.22.90
110
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
6. Đóng góp của luận văn 6
7. Ý nghĩa của luận văn 6
8. Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ KINH QUR’AN 7
1.1. Nguồn gốc kinh Qur’an 7
1.1.1. Bối cảnh ra đời 10
1.1.2. Vai trò của Muhammad 19
1.2. Vai trò của kinh Qur’an đối với Muslim 27
1.2.1. Nội dung cơ bản của kinh Qur’an 27
1.2.2. Kinh Qur’an trong đời sống Muslim 39
Chương 2: VẤN ĐỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG KINH QUR’AN 47
2.1. Vấn đề hôn nhân trong kinh Qur’an 47
2.1.1. Kết hôn 47
2.1.2. Ly hôn 56
2.2. Vấn đề gia đình trong kinh Qur’an 64
2.2.1. Mối quan hệ vợ - chồng 70
2.2.2. Mối quan hệ giữa cha, mẹ và các con. 76
2.3. Ảnh hưởng quan niệm hôn nhân, gia đình trong kinh Qur’an đối
với hôn nhân và gia đình người theo đạo Islam ở Việt Nam 85
theo đạo Islam ở Việt Nam là không nhỏ. Sự ảnh hưởng không chỉ dừng
lại trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức mà còn thấm sâu, hòa quyện trong
quan niệm, tập tục hôn nhân và gia đình truyền thống người theo đạo
Islam ở Việt Nam.
2
Gia đình là tế bào cơ sở của mọi xã hội, đóng vai trò chủ đạo trong
tái tạo, bảo tồn và duy trì nòi giống cũng như là cơ sở tiên quyết để gìn giữ,
truyền dạy, bảo lưu văn hóa truyền thống. Đặc điểm nổi trội của hôn nhân
và gia đình là tính bảo lưu lâu dài những yếu tố được định hình từ quá khứ,
biểu hiện ra bằng những tập tục, mối quan hệ huyết tộc
Trong quá trình lịch sử, mọi gia đình không chỉ chịu ảnh hưởng bởi
những giá trị truyền thống lâu đời của gia tộc, dòng họ và truyền thống dân
tộc mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các hệ tư tưởng tôn giáo mà họ tin
theo. Hệ tư tưởng tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn, thậm chí chi phối đời sống
hôn nhân và gia đình của các tín đồ. Giáo lý, kinh sách tôn giáo coi vấn đề
hôn nhân và gia đình như một vấn đề trọng yếu, chính là nền tảng cốt lõi để
phát triển đạo, mở rộng cộng đồng tín đồ của mình.
Nếu đối với mỗi xã hội, hạt nhân của nó là gia đình, như Hồ Chủ
Tịch từng nói trong Hội nghị dự thảo luật hôn nhân gia đình, ngày 10 tháng
10 năm 1959: "Xã hội tốt thì gia đình càng tốt/ Gia đình tốt thì xã hội mới
tốt/ Hạt nhân của xã hội là gia đình", thì đối với mỗi tôn giáo, gia đình là
cũng chính là "cái gốc", là "hạt nhân" của tôn giáo.
Không chỉ với Công giáo trong giáo lý và đặc biệt là kinh Thánh
nhấn mạnh, quan tâm sâu sắc tới vấn đề hôn nhân và gia đình, mà Islam
cũng rất coi trọng vấn đề hôn nhân gia đình, coi đó như là một "chiến lược"
để phát triển đạo, củng cố, giáo dục đức tin. Điều này được nhắc đến nhiều
lần trong kinh Qur'an.
Islam là một tôn giáo lớn trên thế giới luôn thu hút được sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước
dưới những khía cạnh tiếp cận khác nhau.
Có thể kể đến các tác giả nước ngoài tiêu biểu như: Dominique
Sourel với “Hồi giáo” (Do Mai Anh, Thi Hoa, Thu Thủy, Thanh Vân dịch),
Nxb. Thế giới, Hà Nội, năm 2002; Jamal J.Elias với tác phẩm “Islam” và
“Vấn đề giáo phái trong Islam giáo”, Nxb.Routledge Publisher, USA, năm
1999; Trevor Ling Owen Cole, Peggy Morgan với “Six Rilegions in the
Twenty First Century”, Nxb. Stanley Thornes Publisher, England, năm
2000; Will Durant với “Lịch sử văn minh Ả rập”, Nxb Văn hóa thông tin,
4
Hà Nội, 2004… Nhìn chung, các công trình này đều nghiên cứu về nguồn
gốc ra đời, lịch sử truyền bá, sự phân chia các giáo phái, quá trình phát
triển của đạo Islam trên thế giới.
Các tác giả trong nước nghiên cứu về Islam, Hồi giáo Việt Nam, vai
trò của Hồi giáo đối với văn hóa, như: Nguyễn Văn Luận với “Người Chăm
Hồi giáo miền Tây Nam phần Việt Nam”, Tủ sách biên khảo, Nxb. Bộ văn
hóa giáo dục và Thanh Niên, năm 1974; Nguyễn Đức, Thế Trường, Lê Yên
với “Islam Hồi giáo”, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2002; Nguyễn
Thọ Nhân với “Đạo Hồi và thế giới Ả rập”, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
năm 2004; Nguyễn Hồng Dương với “Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo, tín
ngưỡng của đồng bào Chăm ở hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận hiện nay",
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2007… Những công trình này nghiên
cứu về lịch sử hình thành và phát triển của đạo Islam, những giáo lý, giáo
luật, lễ nghi của đạo Islam và cũng đề cập ít nhiều đến cộng đồng tín đồ
Islam ở Việt Nam, sự ảnh hưởng của đạo Islam trong đời sống sinh hoạt văn
hóa, tín ngưỡng của người theo đạo Islam ở Việt Nam.
Qur’an, đồng thời liên hệ với hôn nhân và gia đình người theo đạo Islam ở
Việt Nam, dự đoán xu hướng biến đổi và đề xuất một số khuyến nghị phát
huy những giá trị văn hóa truyền thống trong hôn nhân gia đình người theo
đạo Islam ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm hôn nhân và gia đình
trong kinh Qur’an.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Một số vấn đề cụ thể trong quan niệm hôn
nhân và gia đình: Quan niệm kết hôn, ly hôn; Mối quan hệ vợ- chồng; Quan
hệ giữa cha mẹ và các con; liên hệ với hôn nhân gia đình người theo đạo
Islam ở Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn đựơc xây dựng trên cơ sở vận dụng
quan điểm mác xít về tôn giáo, bản chất, vai trò, chức năng xã hội của
tôn giáo.
6
Luận văn cũng tiếp thu những kết quả của các công trình nghiên cứu
trong và ngoài nước về đạo Islam, kinh Qur’an.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp của
Tôn giáo học và Triết học, phương pháp lôgíc lịch sử, phân tích, tổng hợp,
đối chiếu và so sánh.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn tìm hiểu, phân tích một số vấn đề cụ thể về quan niệm hôn
nhân gia đình trong kinh Qur’an như: kết hôn, ly hôn, mối quan hệ vợ -
chồng, quan hệ cha, mẹ - con cái. Chỉ ra những hạt nhân hợp lý, giá trị tích
cực và điểm chưa phù hợp của những quan niệm ấy trong đời sống nhân
loại hiện nay nói chung, đặc biệt hôn nhân gia đình các tín đồ theo đạo
và tổ chức tôn giáo. Trong đó ý thức tôn giáo là yếu tố quan trọng nhất. Ý
thức tôn giáo phản ánh toàn bộ tâm lý tôn giáo và hệ tư tưởng tôn giáo. Bộ
phận trung tâm, hạt nhân của hệ tư tưởng tôn giáo chính là thần học. Thần
học có vai trò quan trọng, là nhân tố để củng cố và duy trì đức tin tôn giáo.
Nếu thần học bị lợi dụng để vào mục đích nào đó, sẽ làm nó “méo mó, biến
dạng” cái “bản chất” vốn có của tôn giáo. Nhận định về điều này, khi phê
phán những quan niệm về tôn giáo, C.Mác cho rằng: “Người ta xuất phát từ
tôn giáo chính cống và từ thần học chính cống. Cái mà trước kia người ta
coi là ý thức tôn giáo, là quan niệm tôn giáo thì sau này lại được quy định
theo nhiều cách khác nhau. Toàn bộ bước tiến là ở chỗ những quan niệm
siêu hình, quan niệm chính trị, quan niệm pháp luật, quan niệm đạo đức và
những quan niệm khác mà người ta cho là những quan niệm thống trị, đều
được liệt vào những quan niệm tôn giáo hay thần học; cũng như ở chỗ
người ta tuyên bố rằng ý thức chính trị, ý thức pháp luật, ý thức đạo đức, ý
thức tôn giáo hay ý thức thần học, rằng con người chính trị, con người pháp
luật, con người đạo đức – xét cho cùng “con người nói chung” – là con
người tôn giáo”[52;26-27]. Ngược lại, thần học cũng có thể làm “biến
8
dạng” tôn giáo khi nó trở thành “bà đỡ” cho chính trị. Trong kết cấu tôn
giáo, tâm lý tôn giáo, sự thờ cúng tôn giáo, tổ chức tôn giáo là những yếu
tố có thể biến đổi, duy chỉ có ý thức hệ tôn giáo là không thể thay đổi, mà
kinh sách của các tôn giáo chứa đựng những tư tưởng ý thức hệ tôn giáo là
“bất di bất dịch”, kinh sách của tôn giáo đóng vai trò quan trọng đối với
việc củng cố đức tin, duy trì đức tin và thực hành đức tin. Những tư tưởng
thần học trong kinh sách tôn giáo phản ánh lý tưởng của chính tôn giáo ấy,
mục đích mà nó hướng tới. Tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể của
sự hình thành và phát triển của mỗi tôn giáo mà kết cấu, nội dung của thần
cầu truyền bá tư tưởng giáo thuyết tôn giáo mà bắt nguồn từ chính những
tiền đề kinh tế xã hội, từ tồn tại xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất
định mà tôn giáo đó ra đời. Kinh sách của tôn giáo vừa là sản phẩn sáng tạo
của bộ óc con người, vừa là sự kế thừa những thành quả của nền văn hóa
mà nó ra đời đồng thời cũng là sự tiếp thu ảnh hưởng của những nền văn
hóa khác, của những tôn giáo trước nó. Ví như, Phật giáo là một tôn giáo
lớn, với hệ thống kinh sách đồ sộ “thiên kinh vạn quyển”. Kinh điển Phật
giáo chịu ảnh hưởng của chính hệ ngôn ngữ, văn hóa mà nó truyền thừa.
Nếu như kinh điển của Phật giáo Nguyên thủy ở Ấn Độ, phần nhiều chịu
ảnh hưởng trực tiếp của nền văn hóa tiền Vedda và Vedda, ảnh hưởng của
tư tưởng kinh Vedda, tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại và Upanissad, Bà la
môn. Thì kinh điển của các tông phái Phật giáo truyền thừa ở Tây Tạng lại
vừa có sự kế thừa của kinh điển Phật giáo Nguyên thủy, đồng thời chịu ảnh
hưởng của ngôn ngữ, văn hóa Tây Tạng… Hay, Thánh kinh của Ki tô là
sản phẩm của văn hóa La Mã, phản ánh những giá trị văn hóa La Mã và
chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại, tư tưởng của đạo Do
Thái. Với Islam thì kinh Qur’an (Hình 1) ra đời trên bán đảo Ả rập là sản
phẩm của nền văn hóa Ả rập, phản ánh những giá trị văn hóa trên bán đảo
Ả rập, ảnh hưởng bởi những điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, tín ngưỡng
của bán đảo Ả rập. Đối với người Muslim, kinh Qur’an được thiêng liêng
hóa, coi là chân lý, trong đó có những điều răn dạy về giáo lý, luật lệ, lễ
nghi, sự thờ phụng, cách thức hành đạo, điều kiện nhập đạo, mối quan hệ
gia đình, xã hội, đồng đạo, các nguyên tắc cư xử…tất cả việc “đạo” và
10
“đời”. Kinh Qur’an thường được lấy làm chuẩn mực cho tất cả, được lấy để
giải quyết mâu thuẫn trong phiên tòa, trong sự tranh chấp, xô xát.
1.1.1. Bối cảnh ra đời
Kinh Qur’an được hình thành cùng với quá trình hình thành đạo
Islam trong buổi đầu sơ khai, gắn liền với bối cảnh kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội và tín ngưỡng tôn giáo trên bán đảo Ả rập.
Ảrập là một bán đảo lớn ở Tây Nam châu Á, tiếp giáp giữa ba châu:
châu Á, châu Âu và châu Phi, lại nằm trên con đường giao lưu quốc tế nối
các trung tâm văn hóa cổ kính của thế giới về cả đường bộ và đường thủy
nên từ lâu Ảrập đã có một nền văn hóa khá đặc biệt và giữ một vai trò quan
trọng trong văn minh thế giới.
Về phương diện địa lý, Ảrập là một cao nguyên đá hoa cương hơi
nghiêng về phía vịnh Ba Tư, được bao quanh bởi những dãy núi không cao.
Khí hậu vùng này rất nóng, ít mưa, về phương Nam có gió mùa nên đời
sống dễ chịu hơn. Bởi thế, có người ví Ảrập như một lò lửa khổng lồ, là nơi
xuất phát những tôn giáo làm dịu lòng nhân thế nhưng âm ỉ thiêu đốt đám dân
nghèo khó.
Thời thượng cổ người ta chỉ biết nhiều đến vùng bờ biển phía Tây từ
Hồng Hải tới cao nguyên Nedjed, từ bán đảo Sinai đến phía Nam thành phố
Mecca - chính ở vùng này Islam đã ra đời và là bàn đạp để truyền đạo tới
cả ba Châu tiếp giáp.
Về phía Nam có một số xứ như Yemen, Hađramut, Oman, Bhreim
nhưng dân cư còn thưa thớt.
Dân chúng Ảrập thường tập trung trong các vùng núi non (ở đó
tương đối phì nhiêu hơn) và các ốc đảo chính ở miền Taif, Tabuouk,
Taima, El Ola, Kaiba…Các thành phố chính là Mecca và Medina.
Về phương diện nhân văn, dân Ảrập chia làm hai nhóm có nguồn
gốc và nếp sống khác hẳn nhau. Hai nhóm này thường kình địch nhau từ
đời này qua đời khác.
Ở miền Nam, dân thuộc dòng Yémenites con cháu của Quahtan gồm
các người Laklm, Kinda, Ghassan… Dân dòng này từ lâu đã biết định cư
13
khác. Ở phương Bắc đã từng xuất hiện một số tiểu vương quốc Ả rập,
nhưng sau đó đã trở thành phiên thuộc của đế quốc Bygiăng tin và đế quốc
Ba Tư ở bên cạnh. Khu vực miền Trung của bán đảo, trình độ xã hội còn
kém xa khu vực miền Nam và miền Bắc, lấy nền kinh tế chăn nuôi làm cơ
sở, dân du mục (người Pêtuin), nghề nông nghiệp của vùng này tương đối
nguyên thủy. Do Ả rập nằm sát đường giao thông quan trọng giữa ba châu
Âu, Á, Phi; đường thông thương chủ yếu đi qua toàn bán đảo, các thành
phố như Mecca, Yasưlipu.v.v… theo đà phát triển, mậu dịch và thương
nghiệp trong thành phố cũng được phát triển. Nhìn chung, vùng đất Trung
Bộ đang trong quá trình tan rã nhanh chóng của xã hội theo chế độ thị tộc,
xã hội có giai cấp đang dần hình thành, nhưng diễn ra tương đối chậm ở
các vùng thảo nguyên và sa mạc.
Trong số những cư dân thành thị Mecca, do sự phát triển của thương
nghiệp đã xuất hiện sự phân hóa tài sản: Một cực tầng lớp quý tộc giàu có
quản lý nhiều nô lệ, gia súc và tài sản; còn cực kia là tầng lớp bần nông và
nô lệ nghèo khổ, mất hết sự bảo hộ hữu hiệu của bộ lạc. Các thành viên
trong nội bộ thị tộc dựa vào quan hệ huyết thống để duy trì sự liên hệ, sống
tập trung trong từng khu vực. Chức trách chủ yếu của các thủ lĩnh bộ tộc là
duy trì, bảo đảm an toàn và đoàn kết trong bộ tộc, nhưng không có quyền
hành chính. Giữa những bộ lạc thị tộc, bộ lạc du mục và những cư dân định
cư làm nghề buôn bán vì tranh giành bãi cỏ, đầm nước, gia súc, đường sá,
hàng hóa và của cải nên thường xảy ra chiến tranh, tàn sát lẫn nhau; cưỡng
hiếp và cướp đoạt trở thành hành vi bình thường trong cuộc sống, sự trả thù
cho những người cùng huyết thống trở thành một phong tục tập quán.
Trong lịch sử từng xảy ra những việc như: hai bộ tộc chỉ vì để đạt mục tiêu
trong một cuộc đua ngựa đã gây ra tranh chấp trong vòng mấy chục năm.
có vị trí thuận lợi cho việc kiểm soát tuyến đường mậu dịch theo hướng
Bắc – Nam dọc theo dải phía Tây của bán đảo. Đây là tuyến đường thông
thương hàng hóa ở phía Nam Ả rập cũng như hàng hóa được vận chuyển
tới đây bằng đường biển từ Abyssinia và Ấn Độ để tới Địa Trung Hải. Một
tuyến đường mậu dịch khác theo hướng Tây – Bắc từ vịnh Ba Tư bị ngưng
lại do cuộc xung đột giữa Ba Tư với đế quốc Bygiăngtin ở nửa cuối thế kỷ
15
VI, bởi thế tầm quan trọng của con đường qua Mecca tăng lên. Kết quả là,
Mecca trở thành một trung tâm thương mại, nơi có những giao dịch tài
chính lớn do các thương gia có số tài sản riêng ngày càng lớn dường như
không bị phụ thuộc vào mối liên hệ truyền thống và gia đình, thị tộc. Xã
hội Ả rập đã xuất hiện hình thức tư hữu, hình thức sở hữu tư nhân, điều này
đã tạo ra một cuộc khủng hoảng cho xã hội Mecca. Sự xuất hiện của tư hữu
đã phá vỡ cơ cấu xã hội cũ mà đơn vị cơ sở là các thị tộc, bộ lạc, đồng thời
làm gia tăng những rối ren trong xã hội. Điều này cho thấy, chính sự phân
công lao động đang diễn ra trong công xã thị tộc, bộ lạc trên bán đảo Ả rập
đã tạo nên hình thức sở hữu mới đó là sở hữu tư nhân. Sở hữu tư nhân được
hình thành trên ở đây là do những quy định mối quan hệ giữa cá nhân với
nhau trong thị tộc, bộ lạc, căn cứ vào quan hệ của họ với tư liệu lao động,
công cụ lao động và sản phẩm lao động. Sự phá vỡ mô hình xã hội thị tộc
bộ lạc trên bán đảo Ả rập là một tất yếu lịch sử. C.Mác có viết: “Những
giai đoạn phát triển khác nhau của sự phân công lao động cũng đồng thời là
những hình thức khác nhau của sở hữu, nghĩa là mỗi giai đoạn phân công
lao động cũng quy định những quan hệ giữa cá nhân với nhau, căn cứ vào
quan hệ của họ với tư liệu lao động, công cụ lao động và sản phẩm lao
động”[52;31].
Những bất công trong xã hội, sự hống hách, huênh hoang, đàn áp của
phong trào tôn giáo mới do Muhammad dẫn dắt nhằm mục đích thống nhất
các thị tộc bộ lạc trên bản đảo Ả rập.
Về phương diện tín ngưỡng tôn giáo: Có rất ít tư liệu nói về tình
hình tín ngưỡng tôn giáo ở bản đảo Ả rập thời điểm Muhammad ra đời
nhưng các đế chế chung quanh đó như Abyssinia và Bygiăngtin đều là
những vương quốc Ki Tô giáo. Ngay cả Sasania Persia ở phía Đông Bắc
bán đảo Ả rập (Iran ngày nay) dù đã tôn thờ Bái Hỏa giáo nhưng cũng có
một số lượng ít tín đồ Ki Tô. Ở phía Tây Bắc Ả rập là vùng Ai Cập, người
dân theo tín ngưỡng đa thần, thờ các thần tự nhiên, các thần động vật, linh
hồn người chết, thần đá, thần lửa, thần cây Có thể có một số tín đồ Ki Tô
giáo người Ả rập nhưng số lượng rất ít và những người này mới chỉ là
những người theo đạo riêng rẽ chứ không phải toàn thể thị tộc hay bộ lạc.
17
Bên cạnh đó, số lượng người Do Thái sinh sống ở Ả rập dường như
đông hơn các khu vực khác. Có những bộ lạc hoàn toàn là người Do Thái.
Một vài bộ lạc trong số này có thể từ Palestin di chuyển tới sau sự kiện đế
quốc La Mã phá hủy ngôi đền thờ ở Jerusalem cuối thế kỷ I Công lịch.
Đến thế kỷ thứ VI, đạo Do Thái đã có thế lực rất lớn ở Yemen, thậm chí
cả tầng lớp thống trị ở đó đều là môn đồ đạo Do Thái. Giáo lý độc thần,
truyền thuyết và phong tục tập quán của đạo Do Thái và Ki Tô đã từng
được lưu truyền ở một số khu vực trên bán đảo Ả rập, cho dù người ở nơi
đó đối với sự hiểu biết về hai đạo này rất nông cạn, chưa hoàn chỉnh,
nhưng sự hình thành tư tưởng, giáo lý của đạo Islam về sau đã có những
ảnh hưởng nhất định.
Trước khi Islam ra đời, đa số người Ả rập sùng bái đa thần giáo. Các
vị thần mà người Ả rập sùng bái hoặc là các linh hồn trú ngụ ở các vật thể
tự nhiên như cây cối, đá sỏi, hoặc các vị thần tự nhiên như mặt trăng, mặt
nhà “tiên tri” xuất hiện ở Ả rập vào khoảng đầu thế kỷ thứ VII. Nhiều
người Ả rập đã bị ảnh hưởng người Do Thái mà chờ đợi một vị chúa Cứu
thế. Và Muhamad chính là nhà tiên tri thực hiện sứ mệnh của Thiên Chúa
Allah để cứu thế tình trạng rối ren, loạn lạc và bất công trong xã hội Ả rập
lúc đó.
Khi khẳng định về vai trò của cá nhân trong lịch sử C.Mác có viết:
“Sự hợp nhất những vùng tương đối rộng thành những vương quốc phong
kiến là một nhu cầu của giai cấp quý tộc ruộng đất cũng như của thành thị.
Do đó, bất cứ ở đâu, tổ chức của giai cấp thống trị - giai cấp quý tộc – cũng
có một ông vua đứng đầu”[52;36].
Muhmamad chính “ông vua đứng đầu”, chính là “cá nhân kiệt xuất”
trong lịch sử, một “lãnh tụ vĩ đại” đã tạo nên những chuyển biến trong xã
hội Ả rập từ một xã hội thị tộc bộ lạc bỏ qua giai đoạn chiếm hữu nô lệ để
trở thành một quốc gia phong kiến thống nhất. Sở dĩ có bước nhảy vọt, bỏ
qua giai đoạn chiếm hữu nô lệ, là do sự phát triển vượt bậc của kinh tế xã
hội, của thương nghiệp đã tạo ra những tiền đề vật chất xã hội, bước nhảy
vọt trong quan hệ sản xuất của xã hội Ả rập đã rất chin muồi và vượt trước
so với quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, đáp ứng yêu cẩu của quan hệ sản
xuất phong kiến.
19
1.1.2. Vai trò của Muhammad
Quá trình hình thành và hoàn thiện kinh Qur’an gắn với hoạt động
truyền đạo của Muhammad và các hậu duệ của ông, sau này họ chính là
những người đã dày công sưu tầm, biên soạn cuốn kinh Qur’an.
Muhammad (hình 2) được sinh ra ở Mecca vào khoảng 580 Tây lịch
trong một gia đình họ Hachim thuộc bộ lạc Quraich. Bộ lạc này đã định cư
ở Mecca từ lâu. Chính bộ lạc này đã xây đền Kaaba ở đây từ năm 2171
những người nghèo khó theo ông, còn những người giàu có thế lực và quý
phái trong dòng Quraich thì chống lại.
Trước Muhammad còn truyền đạo trong vòng bí mật. Sau thấy nhiều
người chống lại, ông đã công khai giúp đỡ những người nghèo, chỉ trích sự
thờ phụng đa thần tốn tiền và mê tín ở đền Kaaba. Lời công kích của ông
đã làm đảo lộn tôn ti trật tự trong đám dân thành Mecca thời đó và làm cho
những người quý tộc tức giận. Họ quyết liệt đàn áp bằng cách tàn sát các
tín đồ tôn giáo mới này. Lúc bấy giờ, những người theo Muhammad còn ít
nên trước cảnh tàn sát đó, ông đã khuyên họ tản cư sang Abyssinie trốn tạm
ít lâu. Muhammad cũng rời thành Mecca đi giảng đạo ở TaiF phía Nam
Mecca. Nhưng không thu được kết quả, ông quyết định đi ngược về phía
Bắc và truyền giáo tại thành Yathib nơi cách Mécca 450 km. Ở đây, ông đã
thu được kết quả, số tín đồ ngày càng tăng. Họ hứa rằng sẵn sàng bảo vệ
tôn giáo cũng như giáo chủ của họ nên ông có ý định chọn thành Médinatel
Nabi có nghĩa là thành phố của nhà tiên tri. Sau này người ta gọi tắt là
Médina và quyết định cho các tín đồ Islam còn sót lại ở Mecca di dân sang
đây. Ngày ông chọn để di dân là ngày 16 tháng 7 năm 622, người Muslim
gọi là ngày hidjra, có nghĩa là ngày Thánh di. Sau này họ chọn ngày di cư
này làm ngày mở đầu cho kỷ nguyên Islam giáo vì chính sau ngày này
Islam giáo phát triển rất mạnh và trở thành một trong những tôn giáo lớn
thế giới.
Muhammad đã xây cất ở đây một Thánh Đường và tập trung phát
triển đạo ở Médina, nhưng những người quý tộc dòng Quraich ở Mecca
luôn tìm cách triệt hạ thành Medina. Trước tình hình đó, Muhammad đã
21
hợp các tín đồ, tập luyện dùng vũ lực để chống lại. Suốt trong đời ông,
giáo quân phải dự chiến đến 64 trận, trong đó có 24 trận do ông thân
22
Đến năm 629 trong lúc bộ lạc Quraich phải lo đánh nhau với các bộ
lạc khác ở chung quanh thì Muhammad đem quân đánh chiếm thành
Mecca. Lúc ấy thế lực bộ lạc Quraich đã giảm nhiều nên ông đã lấy được
thành Mecca. Sau đó ông vào thăm thánh địa nhưng chỉ ở đây có mười lăm
ngày rồi lại trở về Medina. Khi lấy được thành Mecca ông lại tiếp tục đánh
một trận Honain để dẹp đội quân hawazin thì ông mới làm bá chủ bán đảo
Ảrập về phương diện chính trị, quân sự cũng như tôn giáo.
Năm 631 ông dẫn quân đánh Bygiăngtin nhưng không thành công.
Năm 632, mười năm sau ngày Thánh di, ông trở về Mecca hành hương và
ba tháng sau ông mất tại đó. Muhammad mất, ông không có con trai nên
trong đạo Islam đã có sự tranh giành ảnh hưởng, một bên con rể của
Muhammad là Ali và một bên là Abou Bakr, do Ali không có thế lực nên
Abou Bakr đã dành được ngôi vị giáo trưởng và là giáo trưởng thứ nhất
của Islam.
Như vậy, có thể thấy rằng vai trò của Muhammad đối với sự ra đời
Islam và Kinh Qur’an là rất lớn. Muhammad do sự từng trải xã hội cùng
với việc nhận thức được tình hình xã hội và tôn giáo trên bán đảo Ả rập, đã
có sự quan sát thể nghiệm đối với “chứng bệnh” của xã hội Ả rập và yêu
cầu của quần chúng lúc đó. Hơn thế, bị trào lưu lịch sử của xã hội thúc đẩy
ông bước lên vũ đài lịch sử to lớn. Trải qua những thai ghén và chuẩn bị,
ông bắt tay vào việc sáng lập một tôn giáo mới. Dưới ngọn cờ cách mạng
tôn giáo, ông đã lãnh đạo và tổ chức quần chúng tiến hành một phong trào
cách mạng biến đổi xã hội Ả rập với ý nghĩa vạch thời đại.
Bằng cách sử dụng một hình thức tôn giáo mới để tập hợp quần
chúng, thống nhất các bộ lạc, thị tộc trên bán đảo Ả rập để hình thành nhà
nước Ả rập. Cộng đồng Islam giáo không chỉ là một cộng đồng tôn giáo mà
còn mang tính chất cộng đồng chính trị, cộng đồng xã hội. Việc không có
sự phân biệt rạch ròi giữa tôn giáo với chính trị và luật pháp trong xã hội
Islam nằm ngay trong lịch sử ra đời của nó. Điều này là tất yếu đối với tình