Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật hình sự năm 1999 - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THU HƢƠNG
CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục bảng, Biểu đồ

MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÁC TỘI
XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 7
1.1. Ý nghĩa của việc điều chỉnh hành vi xâm phạm đến chế độ hôn nhân
và gia đình bằng các quy phạm pháp luật hình sự 7
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của các quy pháp pháp luật hình sự
về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 11
1.2.1. Từ thời kỳ phong kiến đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 11
1.2.2. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay 17
1.2.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 cho đến nay 21
1.3. Kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên thế giới về các tội xâm
phạm chế độ hôn nhân và gia đình 25
Tiểu kết chƣơng 1 30

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ
CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 32
2.1. Thực trạng pháp luật của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và
gia đình 32
2.1.1. Khái niệm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 32
2.1.2. Dấu hiệu pháp lý chung của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 35
2.1.3. Các tội phạm cụ thể trong Bộ luật hình sự năm 1999 37
2.2. Thực tiễn xét xử Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 54
2.3. Những tồn tại, hạn chế, các nguyên nhân cơ bản làm giảm hiệu quả áp


2. Biểu đồ
Biểu đồ 2.1. Số vụ án/ Số bị cáo xét xử sơ thẩm qua các năm 2005-2012 55
Biểu đồ 2.3. Tỷ lệ xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm chế độ hôn và gia đình
các năm 2005-2012 58 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã khẳng định: “Gia đình là tế bào
của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới,
nền kinh tế mới, con người mới" và liên tục trong các Nghị quyết Đại hội VII,
VIII, IX đều đề cập đến vị trí, vai trò của gia đình trong sự nghiệp xây dựng
và phát triển đất nước, đến Đại hội X của Đảng thì vị trí, vai trò của gia đình
lại được xác định cụ thể và rõ ràng hơn: “Phát huy giá trị truyền thống của gia
đình Việt nam, thích ứng với những giá trị của quá trình công nghiệp hóa –
hiện đại hóa. Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự
là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan
trong hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và
phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Gia đình với ý nghĩa “hạt nhân” của xã hội có vai trò duy trì những giá
trị văn hóa, đạo đức của mỗi cộng đồng, góp phần xây nên văn hóa, đạo đức
cả xã hội. Cha ông ta cho rằng: “Nhất gia nhân, nhất quốc hưng nhân” (mỗi
gia đình làm điều nhân thì cả nước sẽ vươn tới điều nhân). Một nhà tư tưởng
phương Tây khẳng định: gia đình khó phá bỏ hơn quốc gia, có nghĩa là không
thể phá bỏ gia đình, nếu gia đình tan rã thì nhân loại sụp đổ. Gia đình là môi
trường lành mạnh nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách con người, tạo nguồn nhân

xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật Hình sự năm 1999,
Trịnh Tiến Việt, Tạp chí Khoa học pháp lý số 01 năm 2003.
- Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự (Phần các tội phạm) Tập III –
Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; Xâm phạm chế độ hôn
nhân và gia đình, Đinh Văn Quế (2004), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

3
- Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình – một số khía cạnh
pháp lý hình sự và tội phạm học, Quản Thị Ngọc Anh (2005), Luận văn thạc
sỹ luật học.v.v
Các công trình nghiên cứu trên cũng đã cung cấp cho bạn đọc những
kiến thức căn bản về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Tuy
nhiên, mới chỉ nghiên cứu ở từng khía cạnh của vấn đề, mà chưa đi sâu
nghiên cứu tổng thể từ lịch sử, lý luận cho đến thực tiễn và hoàn thiện. Chính
vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và
gia đình trong Bộ luật Hình sự năm 1999.

3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
của luận văn

3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ nhận thức – khoa học
về lịch sử hình thành và phát triển, những vấn đề lý luận và thực tiễn về Các tội
xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật Hình sự năm 1999, Trên
cơ sở đó có cái nhìn rõ nét hơn, để từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình,
góp phần vào chính sách đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Về mặt lý luận: Nghiên cứu làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của

Cơ sở phương pháp luận của luận văn là Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh cũng như những chính sách quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nói chung,
các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình nói chung.
Luận văn trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các chuyên ngành

5
khoa học pháp lý khác như: Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Lịch sử
Nhà nước và pháp luật, tội phạm học, xã hội học, triết học, những luận điểm
khoa học trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học luật hình sự
được đăng trên sách báo tạp chí chuyên ngành, sách chuyên khảo
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phân tích, so
sánh, thống kê, tổng hợp

5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Đây là đề tài khoa học đầu tiên trong khoa học luật hình sự Việt Nam
nghiên cứu một cách có hệ thống và đồng bộ những vấn đề lý luận và thực
tiễn về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật hình
sự năm 1999.
Điểm mới của luận văn bao gồm:
- Hệ thống, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển những quy định của
pháp luật hình sự Việt Nam về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình;
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm chế độ hôn
nhân và gia đình; Đối chiếu, so sánh với các quy định có tính tương đồng
trong Bộ luật hình sự của một số nước trên thế giới.
- Chỉ ra những tồn tại, hạn chế của quá trình sáng tạo pháp luật và áp
dụng pháp luật về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ
luật hình sự năm 1999; chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của hiện tượng này.
- Đề ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về Các tội
xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật hình sự năm 1999, nâng 7
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC CHUNG
VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

1.1. Ý nghĩa của việc điều chỉnh hành vi xâm phạm đến chế độ hôn
nhân và gia đình bằng các quy phạm pháp luật hình sự
Gia đình là nền tảng của mọi xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng và hình
thành nên nhân cách của mỗi con người, một gia đình hạnh phúc, êm ấm, hòa
thuận sẽ là cơ sở cho sự phát triển toàn diện của mỗi thành viên trong gia đình
đó. Gia đình gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn
nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng. Gia đình có lịch sử từ rất
sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Thực tế, gia đình có những
ảnh hưởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, con người vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển kinh tế; gia đình vừa là điểm xuất phát, vừa là
điểm trở về của mọi chính sách pháp luật. Do vậy, để chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống, phát huy những giá trị tích
cực, trước hết cần phải nâng cao tăng cường những giá trị đạo đức và
truyền thống của từng gia đình, thiết chế hiệu quả giám sát chặt chẽ giữa
các thành viên trong gia đình với nhau, nâng cao ý thức pháp luật của từng
thành viên cũng là ý thức của từng công dân trong xã hội, tránh, tiến tới
loại trừ mầm mống của tệ nạn xã hội.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiệm vụ phát triển
nguồn nhân lực có tri thức, có công nghệ cao là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

thành viên, ngoài việc xâm hại đến mối quan hệ tốt đẹp vốn có của gia đình,

9
biểu hiện của nhân cách xấu, nó còn xâm hại đến danh dự, nhân phẩm, sức
khỏe, thậm chí là tính mạng của người bị xâm hại.
Chế độ hôn nhân và gia đình được bảo vệ bằng các thiết chế xã hội,
bằng các biện pháp đạo đức và bằng cả các biện pháp pháp luật. Trước tiên là
bằng các thiết chế pháp luật hành chính, tiếp đó khi hành vi nguy hiểm đáng
kể cho xã hội thì phải có biện pháp nghiêm khắc nhất, đủ sức răn đe và phòng
ngừa tội phạm chung. Trên cơ sở đó, chế độ hôn nhân và gia đình được nhà
nước ta bảo vệ bằng pháp luật hình sự, cụ thể hóa bằng các điều luật trong Bộ
luật hình sự năm 1985, năm 1999.
Ví như vụ án cha đẻ Ngân Văn Túp (54 tuổi, trú tại xã Trung Thượng,
huyện Quan Sơn, Thanh Hoá), vừa bị tuyên phạt 1 năm tù về tội loạn luân.
Nạn nhân chính là con gái thứ hai của người đàn ông này với vợ. Hành vi mất
nhân tính của Túp chỉ bị đưa ra ánh sáng khi dân bản Khạn làm đơn tố cáo tới
cơ quan chức năng. Theo cáo trạng của viện kiểm sát nhân dân huyện Quan
Sơn, suốt từ cuối năm 2004 đến khoảng tháng 5/2011, Ngân Văn Túp (SN
1958, trú tại bản Khạn, xã Trung Thượng, huyện biên giới Quan Sơn, tỉnh
Thanh Hoá) đã thường xuyên ngủ với con gái ruột của mình là chị Ngân T.
M. (SN 1983, cùng trú tại bản Khạn, xã Trung Thượng, là con gái thứ 2 của
ông Túp với vợ) như vợ chồng.
Phát hiện hành vi bất chính của Túp, dân bản đã nhiều lần khuyên can
nhưng ông này không nghe, vẫn tiếp tục ngựa quen đường cũ. Nhiều năm trôi
qua, đến ngày 26/8/2011, Ban quản lý bản Khạn đã quyết định làm đơn tố
giác hành vi đồi bại của Ngân Văn Túp đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an
huyện Quan Sơn. Ngày 15/3/2012 Tòa án nhân dân huyện quan Sơn đã tuyên
phạt Ngân Văn Túp 1 năm tù giam về tội "Loạn luân". Cũng theo kết quả điều
tra, Ngân Văn Túp là người hoàn toàn bình thường, không có biểu hiện bệnh
lý, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Đối với Ngân T. M., tuy

11
giới trong các phần dưới đây là cần thiết để thấy được vị trí nền tảng của gia
đình của hôn nhân trong bất cứ một xã hội nào.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của các quy pháp pháp luật
hình sự về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
1.2.1. Từ thời kỳ phong kiến đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng được chính quyền
phong kiến thời kỳ này quan tâm. Do ảnh hưởng của Nho giáo mà pháp luật
của Nhà nước quân chủ Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống pháp
luật phong kiến Trung Quốc, ở một chừng mực nhất đình thì không phải là
mô phỏng hoàn toàn.
Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Thuận
Thiên, lập nên nhà Lý. Việc soạn thảo và ban bố pháp luật được chú trọng.
Cụ thể, năm 1042 vua Lý Thái Tông đã ban hành bộ Hình thư có 3 tập với
tư cách là bộ luật thành văn đầu tiên của Việt Nam. Nhưng đáng tiếc đến
nay bộ luật đó không còn, nên chúng ta không có điều kiện để tìm hiểu về
nội dung của các điều luật trong đó. Bởi theo Lịch triều hiến chương loại
chí của Phan Huy Chú, trong thời kỳ nhà Minh đô hộ nước ta (1407-1427),
họ đã thu nhiều sách quý của nước ta và trong đó có Bộ hình thư đã được
đem về Kinh Lăng, Trung Quốc.
Tuy, qua nghiên cứu một số chiếu do vua Lý ban bố mà đến nay sử
sách còn lưu giữ, có thể biết đến một số quy phạm về hôn nhân-gia đình
như [35, tr26]:
Chiếu năm 1042 quy định, kẻ nào ban đêm vào nhà gian dâm với vợ
người ta thì bị chủ nhà đánh chết mà không bị tội. Chiếu năm 1128, cấm gia
nô và lính của quan lấy con gái của dân. Chiếu năm 1130, buộc con gái của
các quan phải ưu tiên đưa vào tiến cung, chưng nào không trúng tuyển mới
được phép lấy chồng

12

hệ thống pháp luật cổ phương Đông. Đối với một số hành vi xâm phạm đến
mối quan hệ gia đình mà Bộ luật quy định là tội phạm, ngày nay chúng ta chỉ
coi là vi phạm đạo đức như: “Tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái lời cha
mẹ dạy bảo; nuôi nấng thiếu thốn, có tang cha mẹ mà lấy vợ, lấy chồng, vui
chơi ăn mặc như thường; nghe tang ông bà, cha mẹ mà giấu, không cử ai (tổ
chức tang lễ); nói dối là ông bà cha mẹ chết” bị khép vào tội Bất hiếu. “Gian
dâm với người trong họ từ hàng tiểu công trở lên, cùng nàng hầu của ông
cha” bị xem là phạm tội Nội loạn [25, tr37].
Riêng các quy định tương ứng với các tội xâm phạm chế độ hôn nhân
gia đình, trong Bộ luật Hồng Đức (hay còn gọi Quốc triều hình luật) ngoài
việc quy định trong nhóm các tội thập ác tại Điều 2, thì còn có hẳn một
chương. Chương Hộ hôn, với 58 điều, có quy định cụ thể về tội phạm trong
lĩnh vực này. Bên cạnh đó, còn được quy định rải rác trong chương Thông
gian với tội nội loạn – tội loạn luân trong Bộ luật hình sự hiện nay.
Tội ép gả người vợ thủ tiết (tương ứng với tội cưỡng ép kết hôn trong
Bộ luật hình sự hiện hành), Điều 320 Quốc triều hình luật quy định: “Tang
chồng đã chết mà người vợ muốn thủ tiết, nếu ai không phải là ông, bà, cha,
mẹ mà ép gả cho người khác thì bị xử biếm ba tư ”.
Tội ngăn cản người khác lấy vợ mà mình đã bỏ lửng 5 tháng (tương
ứng với tội cản trở hôn nhân tự nguyện trong Bộ luật hình sự hiện hành), Điều
308 Quốc triều hình luật quy định: “Phàm người chông đã bỏ lửng vợ 5 tháng
không đi lại thì mất vợ Nếu đã bỏ vợ mà lại ngăn cản người khác lấy người
vợ cũ thì phải tội biếm”
Năm 1802 Nguyễn Ánh lật đổ nhà Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu
là Gia Long, sáng lập ra triều Nguyễn, đặt kinh đô ở Phú Xuân (Huế ngày
nay) và đây chính là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

14
Sau khi lên ngôi, Vua Gia Long lệnh cho soạn thảo Bộ luật có tên Hoàng
Việt luật lệ hay còn gọi là Bộ luật Gia Long. Bộ luật được biên soạn trong một

nhân nam – nữ. Do đó mà quyền định đoạt trong hôn nhân thuộc về các bậc
tôn trưởng. Tuy trong chừng mực nhất định cũng đã có quy định tiền đề cho
các quy định về hôn nhân không lừa đối (Điều 94, Điều 95), không cưỡng ép
(Điều 116 – Cưỡng chiếm lương gia thê nữ) trong pháp luật hiện đại.
Trên cơ sở bảo vệ chế độ gia đình phụ hệ, hôn nhân theo nguyên tắc
một chồng nhiều vợ, vợ chồng không bình đẳng, bảo vệ trật tự trên dưới trong
gia đình. Nhưng Hoàng Việt luật lệ cũng nghiêm cấm song hôn, với ý nghĩa
“là sự kết lập giá thú khi còn một giá thú trước chưa đoạn tiêu”. Điều 96 quy
định nếu đã có vợ lớn (chính thất) còn sống mà còn cưới vợ khác cũng làm
chính thất nữa thì bị phạt 90 trượng, vợ cưới sau phải ly dị, trả về tông tộc;
nếu đem vợ cả thành vợ lẽ phạt 100 trượng. Hôn nhân giữa người chồng và
vợ cả (thê) mới được coi là giá thú, trong gia đình vị chí của vợ cả cao hơn
hẳn vợ lẽ và nàng hầu (thiếp, tỳ), vợ cả thì chỉ có một, nhưng vợ lẽ, nàng hầu
thì có thể có nhiều. Thực chất của quy định trên chỉ bảo vệ giá thú giữa người
chồng và người vợ cả, bảo vệ chế độ một chồng một vợ cả.
Qua các quy định như: Đồng tính vi hôn (Cưới người cùng dòng họ
- Điều 100), Tôn ti vi hôn (tôn ti cùng cưới nhau - Điều 101), Thú thân
thuộc thê thiếp (Cưới người trong thân tộc làm thê thiếp – Điều 102)
cho thấy Hoàng Việt luật lệ rất nghiêm khắc trong việc cấm loạn luân, và
bị coi là trọng tội.
Trong Hoàng Việt luật lệ không có quy định rõ về độ tuổi kết hôn của hai
bên nam - nữ, nhưng trong chừng mực nhất định các nhà lập pháp cũng đã chú ý
đến hậu quả tiêu cực của tục tập nhận gả con cho nhau khi hai đứa trẻ chưa lọt
lòng mẹ và quy định cấm việc làm giá thú bằng cách xén vạt áo đằng trước để
làm bằng, khi đứa trẻ còn chưa sinh ra đời (Điều 94, lệ số 2) [45, tr221]. Mặc dù
vậy, hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn chưa bị coi là tội phạm như hiện nay.

16
Quan hệ giữa ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu trong gia đình phong
kiến đặc biệt được coi trọng, nếu xâm phạm đến quan hệ đó sẽ bị xếp vào

Điều 308 (tương ứng Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng): Phàm vợ
cả hoặc vợ lẽ chưa ly dị chồng trước mà đã lấy chồng khác, sẽ bị phạt giam
từ 1 năm đến 3 năm.
Người chồng đã cưới vợ một lần đầu rồi, chưa ly dị vợ trước mà đã lấy
vợ khác sẽ bị phạt giam từ 6 tháng đến 2 năm.
1.2.2. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay
Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành được thắng lợi vĩ đại. Ngày
02/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản
tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đánh dấu
sự ra đời của Nhà nước Việt Nam kiểu mới. Chính quyền non trẻ được thành
lập, phải đối mặt với vô vàn khó khăn. Nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu là
tiêu diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.
Đồng thời cũng đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển
lịch sử lập pháp nói chung, lập pháp hình sự nói riêng ở nước ta. Để tạo cơ sở
pháp lý cho việc trấn áp tội phạm, một loạt các văn bản pháp luật hình sự
được ban hành. Tuy nhiên, trong tình hình cấp bách, tội phạm trong lĩnh vực
hôn nhân và gia đình vẫn chưa có văn bản nào trực tiếp, hoặc gián tiếp đề cập
tới. Ngày 10/10/1945, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 47-SL cho tạm thời giữ
các luật lệ cũ, trong đó Luật hình An Nam, Hoàng Việt hình luật và Hình luật
canh cải với điều kiện “không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam
và chính thể dân chủ cộng hòa”. Như vậy, về cơ bản các tội xâm phạm chế độ
hôn nhân và gia đình trong giai đoạn này vẫn được áp dụng các văn bản pháp
luật của thời kỳ trước.
Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến, chống thực dân Pháp. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta dù đầy

18
khó khăn, gian khổ, nhưng đã từng bước giành thắng lợi, với đỉnh cao là chiến
thắng Điện Biên Phủ.
Trong giai đoạn này, Quốc hội ta là Quốc hội kháng chiến, Chính phủ

phạm nghiêm trọng pháp luật hôn nhân và gia đình, đó là: tảo hôn, cưỡng ép
kết hôn, cản trở hôn nhân tự do và tiến bộ, yêu sách của cải trong việc cưới
hỏi, lấy nhiều vợ - lấy vợ lẽ, thông gian, đánh đập hoặc ngược đãi vợ, đánh
đập hoặc ngược đãi con, ngược đãi bố mẹ. Đây là văn bản pháp đầu tiên
hướng dẫn xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật
hôn nhân và gia đình kể từ sau khi Cách mạng tháng Tám thành công.
Ở miền Nam, các quan hệ hôn nhân và gia đình tiếp tục được điều
chỉnh qua các đạo luật: Luật Gia đình số 1/59 ngày 02/01/1959 (thời Ngô
Đình Diệm); Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 quy định giá thú, tử hệ và tài
sản cộng đồng (thời Nguyễn Khánh); Bộ Dân luật ban hành do Sắc luật số
028/TT/SLU ngày 20/12/1972 (thời Nguyễn Văn Thiệu). Trong đó Luật 1/59
chính thức bãi bỏ chế độ hôn nhân một chồng nhiều vợ đồng thời đề ra một số
quy định khá xa lạ đối với tập quán, phong tục Việt Nam như cấm vợ chồng
ly hôn và đặc biệt đã định ra biện pháp trừng phạt khắt khe đối với các hành
vi vi phạm nghĩa vụ vợ chồng mang tính pháp lý hình sự từ Điều 71 đến Điều
76 như sau [35, tr56,57]:
Tội phạm gian: Thường gọi là ngoại tình. Người chồng hay vợ đều có thể
bị xử tội. Hành vi bị truy tố khi có đơn thưa của chồng hay vợ mình. Có thể bị
phạt tiền, phạt tù giam, nếu tái phạm có thể đày biệt xứ từ 6 tháng đến 2 năm.
Tội giao du thân mật: Người vợ (người chồng) có quyền cấm người
chồng (hay vợ) mình không được giao du một cách quá thân mật với một
người khác phái mà họ xét thấy có sự phương hại đến sự chung thủy của vợ
chồng. Mặc dù đã có sự cấm đoán ấy rồi mà người chồng (hay vợ) cùng

20
người tòng phạm vẫn tiếp tục gặp gỡ nhau một mình một cách bất chính, tại
nơi công cộng hay không công cộng và nếu sự vi phạm ấy bị thừa phát lại,
theo lời yêu cầu của người vợ (hay chồng) lập vi bằng hai lần trong một năm,
thì người vi phạm và người tòng phạm có thể bị phạt tiền; nếu tái phạm có thể
bị phạt tù giam từ 1 tháng đến 6 tháng. Người vợ hay chồng là nguyên đơn có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status