ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƢ LÊ DUNG
C¸c téi x©m ph¹m chÕ ®é h«n nh©n vµ gia ®×nh
theo ph¸p luËt h×nh sù ViÖt Nam, V-¬ng quèc Thôy §iÓn
vµ Liªn bang Nga
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƢ LÊ DUNG
C¸c téi x©m ph¹m chÕ ®é h«n nh©n vµ gia ®×nh
theo ph¸p luËt h×nh sù ViÖt Nam, V-¬ng quèc Thôy §iÓn
vµ Liªn bang Nga
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. CHU THỊ TRANG VÂN
HÀ NỘI - 2016
1.2.
Cơ sở của việc quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân
và gia đình trong luật hình sự ......................................................... 11
1.3.
Khái lƣợc sự hình thành và phát triển những quy định về các
tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Luật hình
sự Việt Nam ....................................................................................... 14
1.3.1. Giai đoạn từ thời kỳ nhà Lý cho đến trước Cách mạng tháng Tám
năm 1945 ............................................................................................ 14
1.3.2. Giai đoạn từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công
cho đến trước khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời ................................... 16
1.3.3. Giai đoạn từ khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời cho đến trước khi
ban hành Bộ luật hình sự 1999 ........................................................... 22
1.3.4. Giai đoạn sau khi ban hành Bộ luật hình sự 1999 .............................. 24
1.3.5. Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo Bộ luật hình
sự (sửa đổi) năm 2015 ........................................................................ 29
Chƣơng 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM HIỆN HÀNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ
HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ ................... 32
2.1.
Quy định của Bộ luật hình sự 1999 về các tội xâm phạm chế
độ hôn nhân gia đình ........................................................................ 32
TỤC HOÀN THIỆN BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ........................51
3.1.
Quy định của Luật hình sự Vƣơng quốc Thụy Điển về các tội
xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình .............................................. 51
3.1.1. Sơ lược về Vương quốc Thụy Điển.................................................... 51
3.1.2. Luật hình sự Vương quốc Thụy Điển về các tội xâm phạm chế
độ hôn nhân gia đình .......................................................................... 53
3.2.
Quy định của Luật hình sự Liên bang Nga về các tội xâm
phạm chế độ hôn nhân gia đình ...................................................... 56
3.2.1. Sơ lược về Liên bang Nga .................................................................. 56
3.2.2. Luật hình sự Liên bang Nga về các tội xâm phạm chế độ hôn
nhân gia đình ...................................................................................... 58
3.3.
Hoàn thiện Bộ luật Hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm
chế độ hôn nhân gia đình ................................................................. 63
3.3.1. Những yêu cầu của việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự về
các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình.................................. 63
3.3.2. Nội dung hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm chế
độ hôn nhân gia đình .......................................................................... 66
3.4.
TAND:
Tòa án nhân dân
TANDTC:
Tòa án nhân dân tối cao
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
VKS:
Viện Kiểm sát
VKS:
Viện kiểm sát
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Tên bảng, biểu đồ
Trang
nhân gia đình phong kiến, lạc hậu. Quyết tâm xây dựng chế độ hôn nhân và
gia đình (HN&GĐ) mới của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện rất rõ trong
các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và Điều 64, Hiến pháp năm 1992 đã ghi
nhận: Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.
Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ một vợ một chồng, vợ chồng bình
đẳng. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái thành những công dân tốt. Con
cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ. Nhà nước và xã hội
không thừa nhận việc phân biệt đối xử với các con. Để đảm bảo thực hiện đúng
đắn, đầy đủ chế độ HN&GĐ mới tiến bộ và tuân thủ triệt để Hiến pháp, Bộ luật
hình sự (BLHS) năm 1985, cũng như BLHS năm 1999 đều đã quy định cụ thể
các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, góp phần ngăn chặn, hạn chế và từng bước
xóa bỏ những tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến, lạc hậu.
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm có chiều hướng gia tăng,
diễn biến phức tạp; tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, kể cả
trong lĩnh vực HN&GĐ. Đáng chú ý, các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ
không có xu hướng gia tăng, nhưng tính chất và mức độ ngày càng nghiêm
trọng, gây dư luận xấu trong xã hội.
1
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm chế độ và hôn
nhân gia đình cho thấy, mặc dù đây là các tội phạm mà tính chất nguy hiểm
cho xã hội không cao, nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống gia đình; trên
thực tế, các tội phạm này xảy ra rất nhiều, song việc xử lý bằng các chế tài
hình sự còn rất hạn chế. Thực tiễn áp dụng các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ
cũng đã đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc, đòi hỏi khoa học luật hình sự phải
nghiên cứu, giải quyết để làm sáng tỏ về mặt lý luận như: khái niệm các tội
xâm phạm chế độ HN&GĐ, ý nghĩa của việc quy định các tội phạm này trong
pháp luật hình sự... Trong khi đó, xung quanh những vấn đề này, vẫn còn rất
xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật.
Ngoài ra còn một số bài báo khoa học cũng nghiên cứu tổng hợp về tất cả các
tội phạm này như: Trịnh Tiến Việt (2003), "Một số vấn đề cần lưu ý khi áp
dụng các quy định tại Chương Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
trong Bộ luật hình sự năm 1999", Tạp chí Khoa học pháp lý Trường Đại học
Luật Thành phố Hồ Chí Minh, số 1/2003; Đỗ Đức Hồng Hà (2010), "Hoàn
thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về Các tội xâm phạm chế độ
hôn nhân và gia đình", Tạp chí Nghề luật số 3/2010.
Không nghiên cứu chung các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia
đình mà nghiên cứu một cách đơn lẻ từng tội phạm một gồm có một số bài
báo của các tác giả như: Trịnh Tiến Việt (2002), "Tội ngược đãi hoặc hành hạ
ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình trong
Bộ luật hình sự năm 1999", Tạp chí Kiểm sát số 9/2002; Trịnh Tiến Việt
(2002), "Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng trong Bộ luật hình sự
năm 1999", Tạp chí Kiểm sát số 4/2002; Nguyễn Thị Lan, “Hành vi vi phạm
chế độ một vợ một chồng dưới khía cạnh xã hội-pháp lý và những vấn đề đặt
ra”, Tạp chí Khoa học – Chuyên san Luật học, số 1/2015; Nguyễn Thị Lan,
“Bàn về tội phạm loạn luân trong pháp luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Khoa
học – Chuyên san Luật học, số 4/2015.
3
Các công trình nghiên cứu trên cũng đã cung cấp cho bạn đọc những
kiến thức căn bản về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Tuy
nhiên, mới chỉ nghiên cứu ở từng khía cạnh của vấn đề, mà chưa đi sâu
nghiên cứu tổng thể từ lịch sử, lý luận cho đến thực tiễn và hoàn thiện. Chính
vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và
gia đình trong Bộ luật Hình sự năm 1999.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
xét xử của Các tội này từ năm 2005 – 2014 trên toàn quốc.
3.4. Phạm vi và thời gian nghiên cứu của luận văn
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề về lịch sử lập
pháp, lý luận và thực tiễn về Các tội phạm xâm phạm chế độ hôn nhân và gia
đình trong Bộ luật hình sự năm 1999 và các văn bản hướng dẫn dưới góc độ
luật hình sự ngoài ra còn tham khảo dự thảo Bộ luật Hình sự Việt Nam năm
2015. Đồng thời đề cập đến những quy định của pháp luật có liên quan, hỗ trợ
cho quá trình giải quyết nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu trên.
Thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực tiễn xét xử, áp dụng
pháp luật hình sự về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ
luật Hình sự năm 1999 giai đoạn 2005-2014.
4. Cơ sở lý luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh cũng như những chính sách quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nói chung,
các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình nói chung.
Luận văn trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các chuyên ngành
khoa học pháp lý khác như: Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Lịch sử
Nhà nước và pháp luật, tội phạm học, xã hội học, triết học, những luận điểm
khoa học trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học luật hình sự
được đăng trên sách báo tạp chí chuyên ngành, sách chuyên khảo...
5
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phân tích, so
sánh, thống kê, tổng hợp...
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Đây là đề tài khoa học đầu tiên trong khoa học luật hình sự Việt Nam
nghiên cứu một cách có hệ thống và đồng bộ những vấn đề lý luận và thực
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn được chia làm ba chương với kết cấu như sau:
Chương 1. Một số vấn đề lí luận về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân
gia đình.
Chương 2. Quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam hiện hành về các
tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình và thực tiễn xét xử
Chương 3. Quy định của Luật Hình sự Vương quốc Thụy Điển và Liên
bang Nga về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình và kinh nghiệm để
tiếp tục hoàn thiện Bộ luật Hình sự Việt Nam.
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM
CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
1.1. Khái niệm chế độ hôn nhân gia đình và các tội xâm phạm chế
độ hôn nhân và gia đình theo luật hình sự Việt Nam
Gia đình không chỉ là “tế bào” tự nhiên mà còn là một đơn vị kinh tế
của xã hội. Không có gia đình tạo ra con người để xây dựng xã hội thì xã hội
cũng không thể tồn tại và phát triển được. Gia đình không chỉ giữ vai trò nền
tảng, tế bào của xã hội, mà còn là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục
nếp sống, hình thành nên nhân cách con người. Gia đình giữ vai trò đặc biệt
quan trọng đối với số lượng, chất lượng dân số và cơ cấu dân cư của quốc gia.
Vai trò của gia đình không chỉ dừng lại ở việc duy trì nòi giống, mà quan
trọng hơn, gia đình phải trở thành môi trường tốt, đầu tiên để giáo dục nếp
sống, hình thành nhân cách con người. Vì thế, việc xây dựng một hệ thống
pháp luật để bảo vệ mối quan hệ hôn nhân – gia đình trước khả năng bị xâm
phạm bởi các tội phạm là vô cùng quan trọng.
Trước hết, ta cần hiểu thế nào là Hôn nhân và gia đình - đó là những
nguyện, tiến bộ, đó không phải là hợp đồng, mà là sự liên kết bền vững giữa
người đàn ông và người phụ nữ, trên cơ sở yêu thương, quý trọng lẫn nhau,
bảo đảm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của đôi bên, cũng như thỏa
mãn nhu cầu sinh đẻ và giáo dục con cái.
Từ sự phân tích ở trên, có thể khái quát rằng: hôn nhân là sự liên kết
giữa một người đàn ông và một người phụ nữ trên cơ sở nguyên tắc bình
đẳng, tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt
đời và xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc.
Khái niệm gia đình rộng hơn khái niệm hôn nhân. Nếu như hôn nhân là
9
sự liên kết giữa một người đàn ông và một người phụ nữ, thì gia đình là sự
liên kết của nhiều người có quan hệ với nhau do hôn nhân, huyết thống hoặc
nuôi dưỡng. Gia đình là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng
với sự phát triển của xã hội. Các điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai
đoạn phát triển nhất định là nhân tố quyết định tính chất và kết cấu của gia
đình. Do vậy, gia đình là hình ảnh thu hẹp của xã hội, là tế bào của xã hội.
Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, gia đình mang tính chất và kết cấu phù
hợp với hình thái đó. Gia đình XHCN khác về chất so với các kiểu gia đình
của các chế độ xã hội trước đó. Dưới chế độ XHCN, quan hệ bình đẳng giữa
vợ và chồng trong gia đình, phản ánh mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ
trong xã hội.
Như vậy gia đình là sự liên kết của nhiều người dựa trên cơ sở hôn
nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, trong đó mọi người cùng quan tâm giúp đỡ
lẫn nhau về vật chất và tinh thần, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới
sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội.
Theo đó có thể hiểu Chế độ hôn nhân và gia đình là tập hợp các quy tắc
ứng xử bắt buộc hoặc được thừa nhận chung mà theo đó, sự tự do hay hạn chế
các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
1.2. Cơ sở của việc quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và
gia đình trong luật hình sự
Để định hướng phát triển và bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình bằng
pháp luật hình sự, Nhà nước cần thực hiện các hoạt động sáng tạo pháp luật
hình sự. Đó chính là hoạt động tội phạm hóa và phi tội phạm hóa của các nhà
làm luật trên cơ sở những căn cứ sau:
Căn cứ về mặt pháp lý
- Hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình phải là những hành
động hoặc không hành động có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội.
11
- Tội phạm hóa hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình chỉ thật
sự cần thiết và đúng đắn nếu bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó bộc
lộ rõ nhất và đầy đủ nhất khi được xem xét là đã xâm hại trực tiếp đến quan hệ
xã hội về HNGĐ. Tức là khi đánh giá hành vi đó với bản chất nguy hiểm cao
nhất thì phải thấy nó đang trực tiếp phá vỡ các quy tắc xử sự bắt buộc
- Việc tội phạm hóa hành vi xâm phạm chế độ HNGĐ không được trái
hoặc gây chồng chéo với các quy định pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác
nhau trong hệ thống pháp luật quốc gia.
Căn cứ về mặt tội phạm học
Những hành vi bị tội phạm hóa bắt buộc phải là những hành vi tương
đối phổ biến, điển hình hơn và hay lặp đi lặp lại nhiều hơn so với những hành
vi trái xã hội khác đang tồn tại trong giai đoạn hiện nay.
Động thái hay diễn biến của những hành vi xâm hại chế độ HNGĐ xảy
ra trong thực tiễn với số lượng tăng hay giảm đáng kể so với các tội phạm
khác, tần suất lặp lại nhiều hay ít sẽ là một trong những căn cứ để áp dụng
chính sách hình sự.
Sự đánh giá về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
vi phạm chế độ HNGĐ sẽ khác nhau giữa từng vùng lãnh thổ có nền văn hóa
khác biệt. Chính vì vậy, để tội phạm hóa hay phi tội phạm hóa thì văn hóatruyền thống là yếu tố quan trọng trong việc xác định biện pháp đấu tranh với
những hành vi vi phạm chế độ HNGĐ.
Ví dụ, với một quốc gia tiếp thu nền văn hóa phương Đông như Việt
Nam, việc một cá nhân đến tuổi trưởng thành phải có nghĩa vụ và trách nhiệm
với cha mẹ già, con cái là bắt buộc, vì thế tội trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
và Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có
công nuôi dưỡng mình được quy định chi tiết và cụ thể với mức phạt tối đa
13
lên tới 3 năm tù giam, tuy nhiên với các quốc gia tiếp thu nền văn hóa phương
Tây như Liên bang Nga hay Thụy Điển thì vấn đề này lại không được đề cập
tới, do các quốc gia này có nền văn hóa đề cao tính độc lập tự chủ của con
người, hệ thống an sinh xã hội được áp dung từ khi sinh ra đến khi chết đi.
1.3. Khái lƣợc sự hình thành và phát triển những quy định về các
tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Luật hình sự Việt Nam
1.3.1. Giai đoạn từ thời kỳ nhà Lý cho đến trước Cách mạng tháng
Tám năm 1945
Hôn nhân là một vấn đề hệ trọng đối với mỗi con người, gia đình lại là
nền tảng của xã hội. Vì vậy, ngay từ thời phong kiến, HN&GĐ luôn được
Nhà nước rất quan tâm điều chỉnh bằng pháp luật.
Trong Bộ luật thành văn đầu tiên của Nhà nước ta - Bộ Hình thư, được
ban hành năm 1042 dưới thời Lý Thái Tông, vấn đề HN&GĐ chiếm một vị trí
quan trọng và được quy định trong nhiều điều luật. Nét đặc trưng chủ yếu của
các quy định này là quyền uy tập trung trong tay người chồng, và mọi thành
viên có bổn phận phục tùng; người chồng được phép bỏ vợ trong trường hợp
người vợ phạm một trong các tội "thất xuất", còn người vợ sẽ bị trừng phạt
thân tư tưởng phong kiến coi thường phụ nữ làm nghề hát xướng như quy định
tại Điều 323: "Các quan và thuộc lại lấy đàn bà con gái hát xướng làm vợ cả,
vợ lẽ, đều xử phạt 70 trượng, biếm ba tư; con cháu các quan viên mà lấy những
phụ nữ nói trên, thì xử phạt 60 trượng; về đều phải ly dị" [43, tr.123].
Dưới thời thực dân Pháp xâm lược nước ta, Việt Nam vẫn là một nước
thuộc địa nửa phong kiến, chính quyền thực dân và giai cấp địa chủ phong
kiến vẫn duy trì chế độ hôn nhân phong kiến đã tồn tại từ nhiều thế kỷ, thừa
nhận sự cưỡng ép kết hôn của cha mẹ đối với con cái, bảo vệ chế độ nhiều vợ
(đa thê), duy trì quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình. Điều
thứ 128 Luật hình An Nam thi hành ở Bắc Kỳ quy định:
15
Người vợ hay vợ lẽ hiện đương có chồng mà phạm tội thông
gian, xét ra quả thực, phải phạt giam từ ba tháng đến hai năm và
phạt bạc từ bốn mươi đồng đến bốn trăm đồng, người gian phu bị
phạt cũng thế [38, tr.21].
Điều thứ 135 của Bộ luật cũng quy định:
Người vợ hay vợ lẽ hiện đương có chồng, chưa tuyên cáo sự
ly hôn, mà đi lấy chồng khác, phải phạt giam từ một năm đến năm
năm và phạt bạc từ năm đồng đến hai trăm đồng.
Người có vợ chưa tuyên cáo sự tiêu hôn mà đi lấy vợ khác,
phải phạt giam từ ba tháng đến một năm và phạt bạc từ hai đồng
đến một trăm đồng [38, tr.22].
Bộ luật hình canh cải áp dụng tại Nam Kỳ cũng có quy định về những
tội phạm và hình phạt thích ứng để bảo vệ chế độ một chồng nhiều vợ. Theo
Bộ luật này, bị coi là phạm tội thông gian khi một người đàn bà đã có chồng
rồi mà còn ân tình với một người đàn ông khác, còn đối với đàn ông có vợ thì
hành vi ngoại tình không coi là tội phạm [31, tr.202].
Tàn dư văn hóa lạc hậu của chế độ thực dân, phong kiến để lại hết sức
nặng nề, hơn 90% dân số không biết chữ.
Trong tình hình đó, nhân dân ta phải thực hiện ba nhiệm vụ lớn, đó là
diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm và "Đảng ta xác định giữ
vững chính quyền là nhiệm vụ hàng đầu" [9, tr.468]. Vì vậy, từ khi Cách
mạng tháng Tám thành công cho đến năm 1954 là thời điểm ký Hiệp định
Giơnevơ, Quốc hội ta là Quốc hội kháng chiến, Chính phủ ta là Chính phủ
kháng chiến, pháp luật ta cũng là pháp luật kháng chiến. Trong hoàn cảnh khó
khăn đó, Nhà nước ta vẫn rất quan tâm xây dựng chế độ HN&GĐ mới tiến
bộ, từng bước xóa bỏ những quy định khắt khe của chế độ thực dân, phong
kiến đối với phụ nữ (Sắc lệnh số 97/SL ngày 12-05-1950). Tuy nhiên, do phải
tập trung quy định các tội phạm liên quan đến sự an nguy của chính quyền
17