Sự dung thông giữa phật giáo với tín ngưỡng cổ truyền Việt Nam thời kỳ đầu du nhập - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

SỰ DUNG THÔNG GIỮA PHẬT GIÁO VỚI TÍN NGƯỠNG CỔ
TRUYỀN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐẦU DU NHẬP LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tôn giáo học Hà Nội – 2013


1. Tính cấp thiết của đề tài ………………………………………………… … 3
2. Tình hình nghiên cứu luận văn ……………………………………………… 4
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn…………………………………… … 6
3.1. Mục đích……………………………………………………………… … 7
3.2. Nhiệm vụ…………………………………………………………………….7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn…………………………. … 7
4.1. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………… 7
4.2. Phạm vi nghiên cứu ………………………………………………… … 7
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn……………… … 7
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn………………………. … 8
7. Kết cấu của luận văn…………………………………………………… … 8
NỘI DUNG
Chương 1: Bối cảnh kinh tế - xã hội và diện mạo của Phật giáo Việt Nam từ
thế kỉ I – TCN đến thế kỷ VI……………………………………. …………….9
1.1. Tình hình kinh tế……………………………………………………………9
1.1.1. Nông nghiệp………………………………………………………… … 9
1.1.2. Thủ công nghiệp…………………………………………………… ….10
1.1.3. Giao thông vận tải và thương mại………………………………… ….12
1.2. Tình hình chính trị - xã hội…………………………………………. … 13
1.2.1. Về xã hội………………………………………………………….… … 13
1.2.2. Tinh thần chống giặc ngoại xâm………………………………… 15
1.3. Tình hình văn hóa - tư tưởng…………………………………………… 17
1.3.1. Tình hình tư tưởng tôn giáo bản địa……………………………… … 17 2
1.3.2. Tình hình du nhập của các hệ tư tưởng – tôn giáo nước ngoài….… … 29
1.4. Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam thế kỷ I – TCN
đến thế kỷ VI……………………………………………………… ……… 34
1.4.1. Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam……………………………… 34

trên cơ sở đó, đã tìm cách kết hợp, hòa trộn với các tín ngưỡng bản địa Việt
Nam, trở thành Phật giáo Việt Nam với bản sắc riêng.
Theo chân các thương nhân và tăng sĩ, Phật giáo truyền bá vào Giao Châu
bằng con đường hòa bình. Văn hóa - lối sống - giáo lí căn bản của đạo Phật khá
gần gũi với đạo lí - lối sống - phong cách tư duy của người Việt cổ cho nên ngay
từ đầu Phật giáo nhanh chóng tìm được chỗ đứng trong đời sống xã hội, trong
tình cảm của người nông dân Việt. Trước khi Phật giáo du nhập vào, Việt Nam
đã có hệ thống tín ngưỡng khá phong phú, đa dạng. Người Việt thờ thần núi,
thần sông, thần mặt trời, thần sấm sét, thần cây cỏ,… sau đó thờ thêm tổ tiên,
ông bà, cha mẹ, thổ công, các vị anh hùng dân tộc, Với tinh thần “Tùy duyên
nhi giáo” (tùy theo điều kiện mà có những biện pháp giáo hóa thích hợp), Phật
giáo nhanh chóng kết hợp với tín ngưỡng bản địa, Phật giáo hóa tín ngưỡng bản
địa và bản địa hóa Phật giáo. Người Việt dùng văn hóa - tư tưởng Phật giáo làm
vũ khí tinh thần chống lại sự thống trị - nô dịch tinh thần bằng Hán Nho của kẻ
thù phương Bắc.
Một trong những biểu hiện của sự hòa nhập và dung hội của Phật giáo với các
tín ngưỡng bản địa là tục thờ Mẹ hay tục thờ Nữ thần, một tục thờ cúng thần của
nền văn minh nông nghiệp nhiệt đới, gió mùa và lấy việc trồng lúa làm lẽ sống
chính. 4
Tìm hiểu sự dung thông của Phật giáo với tín ngưỡng dân gian Việt Nam thời
kỳ đầu du nhập không những góp phần làm sáng tỏ đặc điểm của đạo Phật du
nhập vào Việt Nam ở thời kỳ đầu, mà còn có một ý nghĩa hết sức thiết thực là
góp phần vào việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại ngày
nay. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của công nghiệp hóa và hiện đại hóa
đất nước, một mặt đã và đang đem lại cho con người một cuộc sống đầy đủ về
vật chất, nhưng cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự xói mòn
những giá trị đạo đức tốt đẹp của loài người nói chung và ở Việt Nam nói riêng.

Thứ hai, về những đóng góp của Phật giáo đối với văn hóa, xã hội Việt
Nam. Trong khoảng thời gian hơn 2000 năm du nhập và phát triển, Phật giáo đã
để lại nhiều dấu ấn cho dân tộc ta, từ tín ngưỡng cho đến văn hóa, phong tục tập
quán, từ tư tưởng cho đến tình cảm, lối sống, từ văn học nghệ thuật cho đến kiến
trúc, Có thể kể đến các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như: tác phẩm
“Phật giáo với văn hóa Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đăng Duy, xuất bản năm
1999; Tác phẩm “Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, tập 1” của tác giả Lê
Mạnh Thát, xuất bản năm 2001;
Đây là những công trình nghiên cứu công phu, tập hợp tất cả các vấn đề về
ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa, xã hội Việt Nam dưới nhiều góc độ
khác nhau.
Về sự dung thông của Phật giáo với tín ngưỡng cổ truyền Việt Nam có các
công trình: Luận văn TH.S “Sự dung hợp Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của người Việt”của tác giả Phan Nhật Trinh; Luận văn TH.S “Tìm hiểu mối 6
quan hệ giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ”
của tác giả Phan Thị Kim;
Ngoài ra, còn một số bài báo, tạp chí như:
- Phan Đại Doãn - Lê Văn Mỹ, Phật giáo dân gian vùng Dâu (Hà Bắc), Tạp chí
văn hóa dân gian, số 1- 1987.
- Nguyễn Quang Lê - Tìm hiểu mối quan hệ giữa lễ hội cổ truyền với Phật giáo
qua tín ngưỡng dân gian, Tạp chí nghiên cứu văn hóa dân gian, số 4 - 1992;
- Hoàng Thị Lan với bài viết “Phật giáo với lễ hội dân gian vùng đồng bằng
trung du Bắc Bộ”, Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 6 - 2000;
- Đức Thiện - Tín ngưỡng thờ tứ pháp - hiện tượng tiếp biến văn hóa Ấn Độ, số
6 - 2002.
- Nguyễn Thị Minh Ngọc - Phật giáo dân gian: con đường nhập thế của Phật giáo
Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, số 8 - 2008.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự du nhập và dung thông của Phật giáo với một số tín ngưỡng truyền
thống của Việt Nam: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu sự dung thông giữa Phật giáo với một số tín ngưỡng
truyền thống Việt Nam trong thời kỳ đầu du nhập (từ thế kỷ I - TCN đến năm
544): tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu trong phạm vi người Việt
ở vùng châu thổ Bắc Bộ.
8
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận của luận văn: dựa trên nền tảng lý luận là quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo.
Phương pháp nghiên cứu gồm:
- phương pháp lôgic - lịch sử
- phương pháp phân tích - tổng hợp
- phương pháp hệ thống hóa - so sánh
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm về sự du nhập của Phật giáo vào Việt
Nam và sự dung thông giữa Phật giáo với tín ngưỡng cổ truyền thời kỳ đầu du
nhập.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập.
7. Kết cấu cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung gồm có 2 chương và 6 tiết.
Người Việt bắt đầu biết áp dụng thâm canh tăng năng suất. Trải qua quá
trình tăng vụ, chuyển vụ, người Việt đã biết trồng lúa 2 mùa trong 1 năm từ rất
sớm. Các sách sử Trung Quốc thời kỳ này đều gọi lúa chín 2 mùa là lúa Giao
Chỉ.
Tất cả những điều này đã góp phần rất quan trọng vào việc tăng năng suất
lúa, “Đầu thời Bắc thuộc, triều Tây Hán phải trở thóc gạo vào Giao Chỉ để cung 10
cấp cho bọn quan lại đô hộ và quân lính chiếm đóng, thì đến thời Đông Hán, số
thóc thuế mà chính quyền đô hộ đã vơ vét được của nhân dân Giao Chỉ lên tới
13.600.000 hộc, tương đương 272.000 tấn thóc” [50; 70]
Bên cạnh cây lúa, nhân dân ta còn trồng nhiều loại hoa màu và các loại
cây có củ khác như khoai, đậu, sắn. Ở mỗi vùng đất, tùy theo khí hậu, thổ
nhưỡng, người Việt ta còn trồng nhiều loại cây ăn quả như nhãn, vải, chuối, khế,
cam, …
Bên cạnh đó, người Việt còn có nghề trồng dâu nuôi tằm, trồng bông, đay,
gai để có cái mặc. Việc trồng dâu nuôi tằm gắn liền với nghề nông truyền thống
lâu đời và nghề ươm tơ dệt lụa. Người Việt còn biết trồng trọt và khai thác một
số loại cây để làm thuốc, cây lấy gỗ. Bên cạnh nghề làm ruộng là nghề chăn nuôi
trâu, bò, chó, lợn, gà, … và nghề làm vườn.
Mặc dù nền kinh tế nông nghiệp có nhiều chuyển biến rõ rệt, nhưng do
chính sách bóc lột nặng nề của chính quyền đô hộ và bộ máy quan lại đã làm cho
đời sống của nhân dân ta thời kỳ này hết sức khốn đốn.
1.1.2. Thủ công nghiệp
Ngành thủ công nghiệp được manh nha và tách ra một cách riêng biệt
trước thời kì Bắc thuộc. Nghề rèn sắt, đúc đồ đồng, chế tạo thủy tinh, … cũng
như các ngành nghề thủ công khác đã phát triển trước khi bọn phong kiến
phương Bắc thiết lập quyền thống trị.
Sau khi bị ách thống trị của các thế lực phong kiến ngoại bang, các ngành
12
về phục vụ xây dựng tại kinh đô khiến lực lượng sản xuất nghề này bị ảnh hưởng
nhiều.
1.1.3. Giao thông vận tải và thương mại
Từ khi nhà Hán chinh phục Nam Việt, người Việt tham gia hoạt động
thương mại nhiều hơn so với trước, do tác động của các thương nhân người Hán.
Điểm xuất phát của các thương nhân người Hán từ phương Bắc, khi đi và về đều
qua Nhật Nam mua bán thổ sản sau khi vòng qua trao đổi hàng ở các quốc gia
ngoài biển. Việc buôn bán ở phương Đông thời Tây Hán đã phát triển. Do có vị
trí thuận lợi và phong phú sản phẩm nhiệt đới, Giao Chỉ trở thành một trạm quan
trọng về giao thông biển với các nước phía Nam ngoài biển.
Sự chuyển biến trong nền kinh tế (nông nghiệp và thủ công nghiệp) đã góp
phần quan trọng thúc đẩy thương nghiệp phát triển hơn trước. Mặt khác, sự
phong phú về tài nguyên và nhiều đặc sản của vùng nhiệt đới đã thu hút nhiều lái
buôn nước ngoài đến nước ta làm cho việc buôn bán ở Việt Nam thời Bắc thuộc
thêm phát triển.
Việc vận chuyển cống phẩm, thuế khóa thu được ở nước ta về Trung Quốc
đã thúc đẩy chính quyền đô hộ chăm lo đến việc sửa chữa, xây đắp đường sá,
dẫn đến sự thông thương giữa các quận trong nước và giữa nước ta với Trung
Quốc.
Cuối thế kỉ I, con đường dọc sông Thương sang Trung Quốc được xây
đắp. Từ trung tâm Luy Lâu, Long Biên có đường thủy ngược xuôi các ngả nối
liền các vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc với các đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Nhiều con đường bộ liên vùng theo các hướng Tây - Tây nam - Đông bắc và
Nam - Tây nam - Bắc - Đông bắc gặp nhau ở trung tâm Luy Lâu và nhiều đường 13

xóa bỏ.
Quan hệ xã hội bao trùm trong suốt thời kì Bắc thuộc ở nước ta thời bấy
giờ là quan hệ giữa kẻ thống trị ngoại tộc (chính quyền đô hộ) và toàn thể nhân
dân lao động nước ta. Về danh nghĩa, tất cả ruộng đất của nước Âu Lạc đều
thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước đô hộ. Người dân phải nộp tô thuế, đi
lao dịch cho chính quyền ngoại bang. Chính sách bóc lột nặng nề của chính
quyền và bọn quan lại đô hộ đã làm cho nhân dân ta nghèo đói, khốn khổ. Một
thực trạng xã hội dưới thời Bắc thuộc rất đáng chú ý là sự di dân từ phương Bắc
sang nước ta ngày càng nhiều.
Các triều đại phong kiến phương Bắc đã chia nước ta thành các châu, quận
để dễ cai trị.
Tầng lớp hào trưởng địa phương người Việt hình thành từ sự phân hóa xã
hội thời Văn Lang - Âu Lạc tiếp tục tồn tại và phát triển ngày càng mở rộng thế
lực kinh tế, dù bị chính quyền đô hộ chèn ép, khống chế.
Do hậu quả của chế độ công phú, tô thuế nặng nề, chiến tranh tàn phá,
ruộng đất công bị cường hào chiếm đoạt, nhiều thành viên công xã người Việt bị
phá sản, phải rơi xuống thân phận làm nô tì cho các nhà quyền quý hay trở thành
nông dân lệ thuộc, thuộc hạ của địa chủ quan lại địa phương.
Bên cạnh sự tồn tại phổ biến của làng xã, người Việt vẫn giữ được tính tự
trị. Thời kỳ này đã xuất hiện một số đồn điền của chính quyền đô hộ, một số trại
ấp của quan lại địa chủ gốc Hán, cũng như một số thị trấn và xóm làng của người
Hoa. Sự gia nhập của người Hoa không chỉ làm tăng thêm dân số mà còn đưa 15
thêm văn hóa Hán vào xã hội Việt. Trái lại, do sinh sống lâu đời giữa một cộng
đồng cư dân có sức sinh tồn mạnh mẽ mà số người Hoa di cư sang Việt Nam
cũng dần dần Việt hoá, hòa nhập vào cộng đồng cư dân Việt.
Tầng lớp hào trưởng địa phương người Việt có ảnh hưởng lớn về kinh tế,
chính trị, xã hội trong dân chúng, song lại bị chính quyền đô hộ chèn ép nên có

Tiêu biểu cho tinh thần chiến đấu quật khởi đó là các cuộc khởi nghĩa của
Chu Đạt ở Cư Phong thuộc quận Cửu Chân (157 - 160), của Lương Long ở Giao
Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (178 - 181), của Khu Liên ở Tượng Lâm (190 - 192),
của Bà Triệu ở Cửu Chân (248), của anh em Lý Trường Nhân ở Giao Châu (468
- 485), …
Trong khoảng thời gian bọn thống trị phương Bắc đặt ách thống trị lên
nhân dân ta, chúng đã gặp phải sự chống trả hết sức quyết liệt, lâu dài và bền bỉ
của nhân dân ta. Hầu như trong bất cứ giai đoạn nào của thời kỳ Bắc thuộc, hầu
như bất cứ năm nào cũng có những cuộc nổi dậy với các hình thức đa dạng,
phong phú, với nhiều thành phần tham gia. Mặc dù các cuộc khởi nghĩa đều lần
lượt bị đàn áp, dìm trong bể máu, nhưng qua đó đã nhen lên lòng tự hào dân tộc,
ý thức độc lập, tự chủ, kiên cường của nhân dân ta. Đồng thời, làm tiền đề cho
cuộc khởi nghĩa lớn sắp sửa nổ ra là cuộc khởi nghĩa của Lý Bí.
Từ năm 505, nhà Lương trực tiếp cai trị nước ta. Dưới ách thống trị của
nhà Lương, nhân dân ta phải chịu hàng trăm thứ thuế, đời sống nhân dân vô cùng
cực khổ. Trước cảnh nước mất nhà tan, Lý Bí, một viên quan nhỏ của nhà Lương
đã đứng lên chiêu mộ nhân dân khởi nghĩa. Ông cùng Tinh Thiều và cha con tù 17
trưởng Chu Diên là Triệu Túc, và các tướng lĩnh Phạm Tu, Triệu Quang Phục
dựng cờ khởi nghĩa năm 542, nhân dân và hào kiệt nhiều nơi nổi dậy hưởng ứng.
Sau ba tháng, cuộc khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Nghĩa quân đã làm
chủ được đất nước.
Mùa xuân năm 543, vua Lương sai thứ sử Giao Châu là Tôn Quýnh, thứ
sử Tân Châu là Lưu Tử Hùng đem quân sang đánh một lần nữa. Cuộc chiến đấu
diễn ra rất ác liệt, quân Lương bị tiêu diệt, nghĩa quân đã bảo vệ được thành quả
của cuộc khởi nghĩa. Lý Bí bắt tay vào xây dựng chính quyền tự chủ. Năm 544,
Lý Bí lên ngôi vua, tự xưng là Lý Nam Đế, lấy hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước
là Vạn Xuân, đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch.

hiện thì tín ngưỡng dân gian đã bắt đầu phôi thai.
Hơn nữa, sự bất công, bất bình đẳng trong đời sống xã hội đã khiến nhiều
người phải chịu cảnh khốn cùng, khổ đau, lo âu và sợ sệt. Trước tình cảnh ấy, họ
không còn cách nào khác là cầu xin sự ban ơn, cứu vớt và sự che chở của các lực
lượng siêu nhiên, của thần linh. Chính vì thế mà tín ngưỡng cổ đã thành hình.
Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Người dân Việt Nam
có truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng từ lâu đời. Tín ngưỡng Việt
Nam, còn được gọi là tín ngưỡng truyền thống, là sản phẩm của văn hóa người
Việt Nam trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội. Đối tượng sùng bái trong tín
ngưỡng ở nước ta rất phong phú, đa dạng.
Tác giả Trần Ngọc Thêm trong giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam đã hệ
thống tín ngưỡng Việt Nam bao gồm: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái 19
tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người. Những tín ngưỡng trên là sản phẩm
của nhân dân, hình thành trong chiều dài lịch sử trên cơ sở kinh nghiệm, sự sùng
bái và trí tưởng tượng của con người.
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là tín ngưỡng tôn thờ các yếu tố, lực lượng
tự nhiên, vũ trụ. Với nền kinh tế nông nghiệp, phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự
nhiên, thiên nhiên chính là cái nôi nuôi sống con người nhưng cũng chính là lực
lượng đe dọa cuộc sống của con người. Với tư duy thô sơ, khoa học kỹ thuật
chưa phát triển, người nông dân cho rằng “vạn vật xung quanh cũng biết suy
nghĩ, cũng có linh hồn, có cuộc sống như con người trần tục” [51; 19].
Việc đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên dẫn
đến hệ quả trong lĩnh vực tư duy là lối tư duy tổng hợp và trong lĩnh vực tín
ngưỡng là tín ngưỡng đa thần; tính chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn
đến hệ quả trong lĩnh vực quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ
nữ và trong lĩnh vực tín ngưỡng là tình trạng lan tràn các nữ thần. Và vì cái đích
mà người Việt Nam hướng tới là sự phồn thực cho nên nữ thần của ta không phải

vào việc “thờ cơ quan sinh dục cả nam lẫn nữ (sinh thực khí - Lin ga và Yoni,
hoặc thờ một cặp trai gái có tên hẳn hoi như: Ông Đùng bà Đà, ông Khiu bà
Khiu) và thờ bản thân hành vi giao phối” [51; 94 - 95]. Bởi người Việt Nam có
lối tư duy cặp đôi, chú trọng tới mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng.
Bên cạnh việc thờ sinh thực khí (=yếu tố) giống như nhiều dân tộc nông
nghiệp khác, cư dân nông nghiệp lúa nước với lối tư duy chú trọng tới quan hệ
còn có tục thờ hành vi giao phối, tạo nên một dạng tín ngưỡng phồn thực độc
đáo, đặc biệt phổ biến ở khu vực Đông Nam Á. 21
Tôn thờ hành vi giao phối và thực hiện hành vi đó trong các lễ hội cúng
thần linh, người Việt cho rằng hành vi đó được xem như một hành động “có tính
ma thuật”, có tác dụng nhắc nhở trời đất ban cho phúc lành, mùa màng tốt tươi.
Vai trò của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống của người Việt cổ lớn tới
mức chiếc trống đồng - biểu tượng sức mạnh, biểu tượng quyền lực của người
xưa - đồng thời cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực: Trước
hết, cách đánh trống đồng theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống được
khắc trên chính các trống đồng và còn được bảo lưu ở người Mường hiện nay là
mô phỏng động tác giã gạo - động tác giao phối. Trên tâm mặt trống là hình mặt
trời với những tia sáng biểu trưng cho sinh thực khí nam, và giữa các tia sáng là
một hình lá với khe ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ. Xung quanh mặt
trống thường gắn các tượng cóc - con cóc trong ý thức của người Việt là “cậu
ông trời”, mang theo mưa, khiến cho mùa màng tốt tươi, cũng là một dạng biểu
trưng của tín ngưỡng phồn thực. Cuối cùng, tiếng trống đồng rền vang mô phỏng
âm thanh của tiếng sấm - cùng mang ý nghĩa trên.
Thứ ba là tín ngưỡng sùng bái con người. Theo GS. Trần Ngọc Thêm, thì
tín ngưỡng này bao gồm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Thổ công (các vị thần
tại gia), thờ Thành Hoàng và thờ Vua Hùng (thần linh của thôn xã và toàn dân
tộc).

không có, bèn ra đốt đống rơm. Thấy chồng cũ chết trong đống rơm, thương xót
quá, người vợ bèn nhảy vào lửa cùng chết. Chồng mới thấy vậy, tuy không hiểu
đầu đuôi, nhưng vì thương vợ nên cũng nhảy vào lửa cùng chết nốt. Trời thấy ba
người sống đầy tình nghĩa bèn phong cho cả ba cùng làm Vua Bếp (= Táo Quân, 23
ông Táo, do vậy mà bếp có ba ông đầu rau), trong đó chồng mới là Thổ Công
trông nom việc trong bếp, chồng cũ là Thổ Địa trông coi việc trong nhà, và vợ là
Thổ Kì trông coi việc chợ búa.
Tục thờ thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Hoa cổ, sau khi du nhập vào
làng xã Việt Nam đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân
Việt, trở nên hết sức đa dạng.
Do đặc điểm về địa văn hóa, kinh tế - xã hội riêng có của làng Việt đồng
bằng Bắc Bộ, nên với mỗi người dân, Thành hoàng vừa là biểu hiện của lịch sử,
phong tục, đạo đức, pháp luật và hi vọng chung của cả làng, vừa là một thứ
quyền uy siêu việt, một mối liên lạc vô hình đóng vai trò bảo trợ tâm linh cho cả
làng, giúp cho làng xóm trở thành một tổ chức có kết cấu chặt chẽ. Chính vì vậy,
nguồn gốc của các vị Thành hoàng làng rất phong phú, đa dạng. Thành hoàng có
thể là một vị thiên thần như Phù đổng Thiên vương, một thần núi như Tản Viên
Sơn thần, một vị nhân thần có công với dân với nước như Lý Thường Kiệt, Trần
Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng lại có khi là các yêu thần, tà thần với nhiều
sự tích hết sức lạ lùng, nhiều khi có vẻ vô lý.
Theo tục lệ xưa, các đời vua thường phong các vị thành hoàng thành ba
bậc: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần, tùy theo sự tích và
công trạng của các vị thần đối với nước với dân, với làng xã. Các vị thần cũng
được xét đưa từ thứ vị nọ lên thứ vị kia, nếu trong thời gian cai quản các vị này
đã phù hộ, giúp đỡ được nhiều cho đời sống vật chất và tâm linh của dân chúng.
Việc thăng phong các vị Thành hoàng căn cứ vào sớ tâu của làng xã về công
trạng của các vị thần. Sớ này phải nộp về triều đình trong một thời gian quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status