ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
PHAN THỊ KIM
(Thích Đàm Kiên)
SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ
TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU Ở THÀNH PHỐ
HẢI PHÕNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 62.22.90.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
Hà Nội - 2016
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
PHAN THỊ KIM
(Thích Đàm Kiên)
SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ
TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU Ở THÀNH PHỐ
HẢI PHÕNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: Tôn giáo học
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ....................................................... 7
1.1. Tổng quan tƣ liệu nghiên cứu .............................................................. 7
1.1.1. Tư liệu nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo ở Việt Nam .............. 7
1.1.2. Tư liệu nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu .................................... 15
1.2. Những vấn đề liên quan đến luận án................................................. 19
1.2.1. Khung phân tích lý thuyết và những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu..... 19
1.2.2. Một số khái niệm và thuật ngữ sử dụng trong luận án ................... 22
Chƣơng 2: CƠ SỞ CỦA SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN
NGƢỠNG THỜ MẪU Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG HIỆN NAY ....... 31
2.1. Cơ sở địa văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội của Thành phố
Hải Phòng ................................................................................................... 31
2.1.1. Cơ sở tự nhiên và kinh tế xã hội ..................................................... 31
2.1.2. Cơ sở văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo ............................................... 34
2.2. Cơ sở triết lý của Phật giáo và tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng ..... 42
2.2.1. Cơ sở triết lý của Phật giáo ............................................................. 42
2.2.2. Cơ sở triết lý của tín ngưỡng thờ Mẫu ............................................ 52
Tiểu kết chƣơng 2:...................................................................................... 62
Chƣơng 3: BIỂU HIỆN CƠ BẢN CỦA SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT
GIÁO VÀ TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG
HIỆN NAY ..................................................................................................... 64
3.1. Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Thành phố
Hải Phòng qua niềm tin và thực hành tín ngƣỡng tôn giáo ................... 64
3.1.1. Biểu hiện qua niềm tin trong thực hành nghi lễ ............................. 64
3.1.2. Biểu hiện qua không gian và thời gian thờ cúng ............................ 77
3.2. Sự dung hợp giữa tín ngƣỡng thờ Mẫu và Phật giáo ở Thành phố
Hải Phòng qua nghi lễ và lễ hội tín ngƣỡng, tôn giáo ............................. 95
KẾT LUẬN .................................................................................................. 163
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN ........................................................................................... 165
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 166
PHỤ LỤC
5
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Niềm tin theo Phật – Mẫu của người dân thành phố Hải Phòng. . 64
Bảng 3.2. Niềm tin của người dân thành phố Hải Phòng qua thực hành
tôn giáo .......................................................................................... 65
Bảng 3.3. Nhu cầu đi lễ Phật và Mẫu của người dân thành phố Hải Phòng... 66
Bảng 3.4. Mức độ hiểu biết về giáo lý và lễ nghi Phật giáo của người dân
thành phố Hải Phòng. .................................................................... 68
Bảng 3.5. Mức độ hiểu biết về giáo lý và lễ nghi tín ngưỡng thờ Mẫu của
người dân thành phố Hải Phòng. ................................................... 69
Bảng 3.6. Niềm tin của người dân Hải Phòng về Phật và Mẫu ...................... 72
Bảng 3.7. Những nghi lễ người dân Hải Phòng coi trọng và thực hiện trong
đời sống tín ngưỡng thờ Mẫu và Phật giáo ................................. 103
Bảng 3.8. Thống kê số lượng chùa và Tăng Ni ở các Quận, huyện, thành phố
Hải Phòng năm 2014 ................................................................... 130
Bảng 4.1. Nghề nghiệp người đi lễ Phật và Mẫu ở thành phố Hải Phòng .. 142
Bảng 4.2. Độ tuổi người đi lễ Phật và Mẫu ở thành phố Hải Phòng ........... 143
Bảng 4.3. Trình độ học vấn người đi lễ Phật và Mẫu ở thành phố Hải Phòng144
Bảng 4.4. Sự biến đổi nghi lễ của Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành
phố Hải Phòng ............................................................................. 147
Bảng 4.5. Sự lợi dụng Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu để tuyên truyền mê
tín dị đoan ở thành phố Hải Phòng.............................................. 149
Bảng 4.6: Tình hình kinh tế của người dân thành phố Hải Phòng................ 150
dân tộc, trái với thuần phong mỹ tục của nhân dân, không phản lại lợi ích của
cộng đồng, của đất nước.
Tính bao dung trong tín ngưỡng, tư tưởng, tự do tín ngưỡng thuộc nếp
sống bình thường của người Việt Nam, là cơ sở của sự đoàn kết tôn giáo ngoại
lai và tín ngưỡng bản địa trong sự nghiệp xây dựng và giữ nước của dân tộc.
Đúng như vậy, lịch sử đã chứng minh xu hướng chủ yếu của các tôn
giáo ở nước ta là hướng về dân tộc. Trong các tôn giáo hiện có mặt ở Việt
Nam, Phật giáo mặc dù là một tôn giáo ngoại nhập nhưng rất gần gũi và hầu
như đã trở thành một lĩnh vực tinh thần không thể thiếu của người Việt Nam.
Phật giáo đã nhanh chóng hòa mình cùng văn hóa dân tộc, hòa mình cùng
những phong tục tập quán, tín ngưỡng dân tộc, đặc biệt là tín ngưỡng Mẫu để
trở thành Phật giáo riêng, mang đậm tinh thần đặc sắc của Việt Nam.
1
Hải Phòng là thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp lớn
nhất phía Bắc Việt Nam, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế,
giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của vùng duyên hải Bắc Bộ.
Tín ngưỡng thờ Mẫu vốn mang đậm sắc thái của cư dân nông nghiệp và có
nguồn gốc từ chế độ Mẫu hệ. Trước khi Phật giáo du nhập vào Hải Phòng,
bên cạnh tín ngưỡng thờ Thần, Thánh, người dân đất Cảng đã rất coi trọng tín
ngưỡng thờ Mẫu trong đời sống tâm linh của mình. Khi Phật giáo du nhập
vào Hải Phòng, từ rất sớm gắn liền với biểu tượng Tháp Tường Long và thành
Nê Nê, vùng biển Đồ Sơn. Con người đất cảng vốn cởi mở trong văn hóa nên
dễ dàng tiếp nhận Phật giáo và đồng thời cũng giống như người dân Việt Nam
ở nhiều vùng miền khác bản địa hóa Phật giáo, dung hợp Phật giáo với tín
ngưỡng tâm linh truyền thống của địa phương mình. Đặc biệt là dung hợp với
tín ngưỡng thờ Mẫu.
Sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng Mẫu ở Thành phố Hải
Phòng được thể hiện rất đa dạng và phong phú trong suốt tiến trình lịch sử tồn
hợp Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thành phố Hải Phòng hiện nay.
Thứ ba, xu hướng vận động và bảo tồn giá trị của sự dung hợp Phật
giáo đối với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thành phố Hải Phòng hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng
thờ Mẫu ở Hải Phòng hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Biểu hiện sự dung hợp giữa Phật giáo với tín
ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng trên các lĩnh vực tín ngưỡng, nghi lễ, lễ hội, cơ
sở thờ tự… qua khảo sát một số quận, huyện của thành phố Hải Phòng.
Cụ thể phạm vi điều tra xã hội học bao gồm các quận, huyện: : Lê
Chân, Đồ Sơn và Thủy Nguyên. Số lượng mẫu lựa chọn: Số phiếu phát ra 210
phiếu, thu về 200 phiếu dành cho các đối tượng: (70 phiếu, chiếm 35%) Phật
tử, (50 phiếu, chiếm 25%) người theo tín ngưỡng thờ Mẫu và chức sắc tu sỹ
3
Phật giáo (20 phiếu, chiếm 10%), người dân địa phương (30 phiếu, chiếm
15%) cán bộ quản lý Nhà nước quận, huyện, xã (30 phiếu, chiếm 15%).
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận và phương pháp luận:
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử; nhất là phần học
thuyết về mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội, về sự tương tác
giữa các hình thái ý thức xã hội. Nghiên cứu Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu
ở Hải Phòng là hai tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng thuộc ý thức xã hội tồn
tại độc lập nhưng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, có sự dung hợp
với nhau trong quá trình phát triển để từ đó đánh giá những biểu hiện của sự
dung hợp giữa hai hình thái ý thức xã hội đó và phân tích giá trị và bảo tồn
những giá trị đó trong bối cảnh hiện nay.
và tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải Phòng đầy đủ hơn.
- Phương pháp giả thuyết: Là đưa ra các dự đoán về quy luật của sự
dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu sau đó đi chứng minh dự
đoán đúng.
- Phương pháp lịch sử: Là phương pháp nghiên cứu bằng cách đi tìm
nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển của sự dung hợp giữa Phật giáo và
tín ngưỡng thờ Mẫu từ đó rút ra bản chất và quy luật của đối tượng
5. Đóng góp mới của luận án
- Một là, phân tích khái quát về cơ sở dung hợp giữa Phật giáo và tín
ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Thành phố Hải Phòng hiện nay: Những cơ
sở địa chính trị, kinh tế, văn hóa, triết lý của Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu
thành phố Hải Phòng hiện nay.
- Hai là, qua khảo cứu, điền dã, phỏng vấn và điều tra xã hội học, luận án
phân tích biểu hiện của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành
5
phố Hải Phòng hiện nay qua: niềm tin Phật giáo và tín ngưỡng Mẫu trong thực hành
tôn giáo, không gian, thời gian thờ cúng, nghi lễ và lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo của
Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng.
- Ba là, luận án phân tích giá trị của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín
ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng hiện nay, từ đó đề xuất một số khuyến nghị
nhằm phát huy và bảo tồn các giá trị này trong bối cảnh hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần hoàn thiện hơn những hiểu biết về
sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Hải phòng
hiện nay trên một số phương diện biểu hiện. Cung cấp những minh chứng lý
luận trong nghiên cứu mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
hoạch định chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta đối với Phật giáo,
cho người đọc thấy mối liên hệ, vai trò của Phật giáo trong văn hóa, đáng lưu
ý là nhận định trích dẫn của nhà nghiên cứu Chu. Mur:
Trong Phật giáo chúng ta tìm thấy chủ nghĩa tự nhiên như một
học thuyết chủ yếu về hiện thực; chủ nghĩa duy lí như một phương
pháp chủ yếu để phát hiện và kiểm tra chân lý; chủ nghĩa thực chứng
7
như mặt đối lập với phép siêu hình và như sự mong muốn chuyển dịch
trọng tâm từ niêm tin vào Thượng Đế sang phục vụ con người; chủ
nghĩa nhân đạo như một quan niệm cơ bản của cuộc sống và các giá
trị của nó [134; tr 92].
Thiền luận là công trình của Daisetz Teitaro Suzuki (1992) cho người
đọc thấy được những kiến giải mới về giáo lý của Phật giáo từ tri thức luận
thiền học uyên thâm.
Ngoài ra, nhiều học giả Việt Nam trong các công trình của mình đều ít
nhiều đưa ra những phân tích riêng về giáo thuyết của Phật giáo:
Phật học phổ thông (1992) của Thích Thiện Hoa phân tích và làm sáng
tỏ về: Lược sử đức Phật, về quy y Tam Bảo, ngũ giới, thập thiện, tứ nhiếp
pháp, lục hòa, tịnh độ; Phật học cơ bản, tập 1 (2003) của tác giả Thích Viên
Giác, Nxb Tôn giáo, phân tích đã hệ thống những kiến thức cơ bản về Phật
giáo; Ấn Độ Phật giáo sử luận (2006), tác giả Viên Trí; Lịch sử triết học Ấn
Độ (2007), Thích Mãn Giác; Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo (1994) của
Thích Tâm Thiện, Nxb. Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh xuất bản… và
nhiều bài báo đăng trên các tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Nghiên cứu Triết
học... cũng đề cập đến vấn đề nêu trên.
Qua đây cho thấy, khi nghiên cứu về Phật giáo các tác giả chủ yếu trình
bày những vấn đề khái quát về sự ra đời, lịch sử và tư tưởng Phật giáo,
thường xem vừa là một tôn giáo, cũng vừa là một bộ phận của triết học Ấn
Độ. Các công trình này đều khái quát được ít nhiều về những tư tưởng, quan
Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến 1981), Bồ đề Tân Thanh
Nguyễn Đại Đồng, Nxb Văn học (2012). Nội dung phân tích về về Phật giáo
từ khi ra đời ở Ấn Độ, lan truyền sang Trung Hoa và đặc biệt đi sâu phân tích
các sự kiện tư tưởng, lịch sử phát triển của Phật giáo ở Việt Nam.
9
Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ
nước, do nhóm tác giả Nguyễn Hồng Dương và Thượng tọa Thích Thọ Lạc
(đồng chủ biên). Công trình tập hợp những bài viết của hội thảo đánh giá về
vai trò của Phật giáo Đại Việt dưới các triều đại Đinh và Tiền Lê.
Lịch sử đạo Phật Việt Nam, Nguyễn Duy Hinh, Nxb Tôn giáo, Hà
Nội, là công trình đề cập đến những nội dung tư tưởng, lịch sử của đạo Phật
được truyền bá và phát triển ở Việt Nam.
Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, Nguyễn Hùng Hậu, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội (2002), phân tích những tư tưởng triết học Phật giáo
Ấn Độ và sự biểu hiện, những biến đổi, tiếp thu và phát triển trong các Thiền
sư Việt Nam. Các dòng phái triết học Phật giáo Việt Nam từ Tỳ Ni Đa Lưu
Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường thời Lý đến Trúc Lâm Yên Tử thời Trần,
có sự điểm qua về Lâm Tế Tông, Tào Động tông ở Việt Nam…
Nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo ở Việt Nam:
Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam (1986) là chủ
đề hội thảo do Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Triết học tổ chức và
được xuất bản, trình bày về các đặc điểm của Phật giáo Việt Nam, nội dung tư
tưởng thiền phái Phật giáo ở Việt Nam.
Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt
Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (1997) của Viện Triết học do
Nguyễn Tài Thư chủ biên, phân tích ảnh hưởng của các hệ tư tưởng tôn giáo
trong đó có đề cập đến ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với lối sống, tư
hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh (1995); Phật giáo Việt Nam với cộng đồng
dân tộc, Lê Cung, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành
(1996) đều tập trung làm sáng tỏ những vấn đề khẳng định vị thế của Phật
giáo đối với lịch sử đất nước và con người Việt Nam.
11
Bên cạnh đó có nhiều hội thảo về chủ đề này: “Phật giáo nhập thế và
phát triển”, Học viện Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, (Nxb Tôn giáo
2008); “Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại” (TP Hồ Chí Minh 1999);
“Thực trạng, nguyên nhân, xu hướng vận động của Phật giáo ở Việt Nam
và những vấn đề đặt ra cho công tác lãnh đạo quản lý” Học Viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2001); “Chính sách của Nhà nước Việt Nam
đối với Phật giáo Nam tông và đạo Tin lành vùng đồng bào dân tộc thiểu số
nhằm phục vụ cho công tác chỉ đạo điều hành của Đảng và Chính phủ”
(Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 2005); “Ảnh hưởng của Phật giáo
trong đời sống tinh thần của nhân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ” (Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2007)….
Gần đây cũng có nhiều luận án Tiến sĩ Triết học, Tôn giáo học, Văn
hóa học bảo vệ thành công về chủ đề đánh giá những ảnh hưởng của Phật giáo
đến các lĩnh vực của đời sống xã hội như: “Ảnh hưởng của những tư tưởng
triết học Phật giáo trong đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Việt Nam”
của Lê Hữu Tuấn (Hà Nội, 1999);“Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong
đời sống đạo đức của xã họi Việt Nam hiện nay”, của Tạ Chí Hồng (Hà Nội,
2004). “Ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức của con người
Việt Nam hiện nay”, Hoàng Thị Lan (Hà Nội, 2004). “Ảnh hưởng của văn
hoá tôn giáo trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam hiện nay”, Lê
Văn Lợi (Hà Nội, (2008); “Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến
đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay”, Nguyễn Thị
Giới thiệu về toàn bộ lịch sử và hệ thống thờ tự của ngôi chùa này. Tác giả có
viết: “Theo truyền ngôn, năm Mậu Tuất (1288) Hưng Đạo Vương khi đến
vùng An Dương để nghiên cứu trận thuỷ chiến tiêu diệt đoàn thuyền Ô Mã
Nhi rút chạy qua cửa Bạch Đằng, có đội hoả đầu quân ở chùa Linh Độ Tự lo
việc phục dịch ăn uống cho bộ chỉ huy chiến dịch. Chùa vốn là nơi am thanh
13
cảnh vắng, khi đội hoả đầu quân đến đóng, bếp luôn đỏ lửa. Do đó có tên dân
dã để nhớ đến kỷ niệm ngày Đức Thánh Trần trú quân ở đây”[105;tr.15].
Cuốn Hải Phòng di tích lịch sử văn hóa (1993) của Trịnh Minh Hiền,
Nxb Hải Phòng; giới thiệu về một số di tích chùa cổ Hải Phòng và đình đền,
danh thắng của Hải Phòng.
Ngoài ra còn một số tư liệu có đề cập đến các cơ sở thờ tự của Phật
giáo và tín ngưỡng và văn hóa, lịch sử ở Hải Phòng như: Du lịch văn hóa Hải
Phòng (2006) của Trần Phương, Nxb Hải Phòng; Di tích lịch sử Tràng Kênh
Thủy Nguyên Hải Phòng (2015) của Nguyễn Văn Mỹ, Nxb Hải Phòng; Quá
trình hình thành phát triển thành phố và đặc tính người Hải Phòng (1987),
Ban Nghiên cứu lịch sử Hải Phòng, Nxb. Hải Phòng; Đảng bộ Hải Phòng
qua các kỳ đại hội (2000) của Đoàn Trường Sơn, Nxb Hải Phòng. Luận án
Tiến sĩ văn học Nghiên cứu văn bia Hải Phòng (2011) của Nguyễn Thị Kim
Hoa; Luận án Tiến sĩ văn hóa học Tín ngưỡng thờ thủy thần ở Hải Phòng
(2011) của Trần Quốc Tuấn…
Khái quát về tình hình nghiên cứu về Phật giáo và những vấn đề liên
quan đến Phật giáo, Phật giáo ở Việt Nam cho thấy:
Nghiên cứu về lịch sử Phật giáo, lịch sử Phật giáo Việt Nam và vai trò
của Phật giáo trong đời sống xã hội là lĩnh vực thu hút được sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu tiếp cận lịch sử Phật giáo và
vai trò của Phật giáo dưới nhiều quan điểm và góc độ khác nhau.
Bên cạnh những nghiên cứu về lịch sử, giáo lý, giáo luật, lễ nghi, triết
Văn hóa dân tộc, Phân tích những yếu tố và màu sắc dân gian về Thánh Mẫu
Liếu Hạnh và quá trình hình thành, đặc điểm của Tam Tòa Thánh Mẫu trong
đời sống tâm linh người Việt Nam; Văn hóa Thánh Mẫu (2004), đề cập
nhiều tư liệu về các “Mẫu” được viết dưới góc độ văn hóa, văn học và lịch sử
chứ chưa xét dưới góc độ tín ngưỡng và tôn giáo.
15
Ngô Đức Thịnh với Đạo Mẫu ở Việt Nam (2 tập, 1996); Đạo Mẫu và
các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á (2004)
phân tích và nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam về lịch sử, hệ thống
thờ tự và các bài Chầu văn của các giá đồng do tác giả sưu tầm và biên soạn.
Nguyễn Đăng Duy với Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam
(2001), đề cập đến tín ngưỡng thờ Mẫu, những vấn đề cơ bản của tín ngưỡng
thờ Mẫu, hiện tượng Mẫu Liễu Hạnh, nghi lễ hầu đồng, không gian thờ Mẫu,
ở ba miền Bắc, Trung và Nam. Tác giả nhận định:
Như vậy, có thể nói được rằng, tín ngưỡng thờ Mẫu ở người Việt
(Kinh) hay ở Việt Nam, khởi đầu gắn với con người còn cư trú trên các
miền rừng núi. Có nghĩa là tín ngưỡng thờ Mẫu khởi nguyên từ miền
rừng núi, thờ Mẹ Cây (sau này gọi Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Sơn lâm),
rồi theo dòng lịch sử, dần đi xuống trung du, đồng bằng, bổ sung thêm
những Mẫu khác [32, tr.159-160].
Khi xem xét dấu ấn Phật giáo trong hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh,
tác giả phân tích và khẳng định:
"Từ Phật giáo mà họ cho Mẫu Liễu luân hồi hóa kiếp mấy lần, hay
như Mẫu Liễu được Phật bà quan âm cứu thoát khi bị mắc mưu sa lưới,
trong lúc chiến đấu ác liệt với Nội đạo Trần Toàn, hay Mẫu Liễu hóa là
một bà già, chữa thuốc cứu độ chúng sinh" [32, tr.176].
Như vậy, ta thấy ít nhiều tác giả đã đề cập đến sự dung hợp các tôn
Năm 2005, cuốn sách Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt
Nam do Nguyễn Đức Lữ (chủ biên) cũng viết về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt
Nam, nhưng chỉ đề cập đến khái niệm thờ Mẫu và một số đặc điểm của tín
ngưỡng thờ Mẫu, chưa đi sâu vào nguồn gốc, vai trò…của tín ngưỡng thờ
Mẫu ở Việt Nam.
17
Năm 2005, Mai Thanh Hải là tác giả cuốn sách Tìm hiểu tín ngưỡng
truyền thống Việt Nam. Tác giả đưa ra quan điểm thờ Mẫu ở Việt Nam có
cội nguồn bản địa và thờ Mẫu bắt nguồn từ triết lý nhân sinh.
Cuốn Nghi lễ lên đồng lịch sử và giá trị của Nguyễn Ngọc Mai (2013),
Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. Đây là công trình nghiên cứu về nghi lễ lên
đồng với tư cách là một hiện tượng văn hóa phức tạp ở vùng đồng bằng Bắc
Bộ. Trong công trình này, tác giả đã giới thiệu về: Phần I. Nghi lễ lên đồng và
lịch sử phát triển: Nghi lễ lên đồng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, lịch
sử và sự phát triển; Nghi lễ lên đồng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và mối quan
hệ với các tôn giáo khác trong khu vực; Nghi lễ lên đồng hầu bóng với tín
ngưỡng thờ Thánh Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ; Hiện tượng lên đồng ở châu thổ
Bắc Bộ từ đổi mới đến nay và những tác động của nền kinh tế thị trường;
Trang phục trong nghi lễ lên đồng. Phần II gồm: Đời sống tâm, sinh lý các
căn đồng hiện nay; Nghi lễ lên đồng hầu bóng và sự chuyển đổi nhận thức về
tâm linh tôn giáo của các căn đồng hiện nay; Nghi lễ lên đồng hầu bóng,
những giá trị về y học; Ý nghĩa xã hội, vai trò của nghi lễ lên đồng hầu bóng
ở đồng bằng Bắc Bộ.
Bên cạnh đó còn có nhiều cuộc hội thảo khoa học về tín ngưỡng thờ
Mẫu: Hội thảo Quốc tế "Tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội Phủ Giầy”, Hà Nội,
năm 2001; “Lễ hội Đền Cờn – Tục thờ Tứ vị Thánh Nương với văn hóa
biển ở Việt Nam” (2009); “Văn hóa thờ nữ thần (Mẫu) ở Việt Nam và văn