ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
LÊ TÔ NAM
SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƢỠNG
BẢN ĐỊA Ở THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Hà Nội - 2020
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
LÊ TÔ NAM
SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƢỠNG
BẢN ĐỊA Ở THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
HIỆN NAY
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 60 22 03 09
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG:
1.1. Khái lƣợc chung về đặc điểm Phật giáo ở thị xã Hà Tiên ................. 7
1.1.1. Khái lược về vùng Hà Tiên trong lịch sử ........................................ 9
1.1.2. Sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở Hà Tiên ........................ 13
1.2. Khái lƣợc về tín ngƣỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên tỉnh Kiên Giang . 21
1.2.1. Đặc điểm tín ngưỡng ở thị xã Hà Tiên, Kiên Giang ..................... 22
1.2.2. Một số loại hình tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang . 22
Tiểu kết chƣơng 1....................................................................................... 30
Chương 2. BIỂU HIỆN CỦA SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN
NGƯỠNG BẢN ĐỊA Ở THỊ XÃ HÀ TIÊN HIỆN NAY .............................. 31
2.1. Biểu hiện qua truyền thuyết, bài trí tƣợng thờ và nghi lễ trong chùa . 31
2.1.1. Về những câu chuyện truyền thuyết, truyện truyền miệng ở
Hà Tiên ................................................................................................... 31
2.1.2. Sự dung thông giữa Phật giáo với tín ngưỡng qua thờ cúng ........ 38
2.2. Qua thực hành một số nghi lễ Phật giáo và tín ngƣỡng .................. 45
2.2.1. Những biểu hiện tín ngưỡng ở một số nghi lễ của Phật giáo ........ 45
2.2.2. Những biểu hiện của Phật giáo ở các nghi lễ tín ngưỡng ............. 47
2.3. Một số giá trị và vấn đề đặt ra của sự dụng hợp giữa Phật giáo và
tín ngƣỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên ................................................... 48
2.3.1. Một số giá trị của sự dụng hợp đem lại cho tâm linh bản địa ....... 48
4
2.3.2. Một số vấn đề đặt ra trong sự dung hợp........................................ 58
2.3.3. Một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị sự dung hợp của
Phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang
hiện nay. .................................................................................................. 65
Tiểu kết chƣơng 2....................................................................................... 71
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 73
người đầu tiên truyền bá chữ Quốc Ngữ vào Hà Tiên,…
1
Kể từ khi có mặt trên vùng đất này, các loại hình tín ngưỡng và Phật
giáo không ngừng phát triển và có chỗ đứng khá vững chắc, tác động sâu rộng
đến đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, đạo đức, lối sống. Các mưu đồ
chính trị muốn lợi dụng vấn đề dân tộc và Phật giáo để chống phá ta ít khi
thực hiện được.
Vấn đề tín ngưỡng và Phật giáo có đặc điểm như thế nào, quá trình này
diễn ra qua các giai đoạn lịch sử có những đặc điểm gì nổi bật; sự tác động
của tín ngưỡng và Phật giáo đối với đời sống cư dân nơi đây ra sao; sự dung
hợp giữa tín ngưỡng với Phật giáo như thế nào? Đây là những vấn đề cần làm
rõ. Tuy nhiên, cho đến nay, những nội dung nêu trên chưa được nghiên cứu
một cách có hệ thống và đầy đủ. Sự hiểu biết về các lĩnh vực trên của một số
cư dân ở tỉnh Kiên Giang nói chung và cư dân ở thị xã Hà Tiên nói riêng còn
hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu về các lĩnh vực này có ý nghĩa không chỉ về
khoa học mà còn về thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.
Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề Sự dung hợp giữa
Phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang hiện nay
làm đề tài luận văn thạc sĩ Tôn giáo học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu và chỉ ra sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa
ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang hiện nay. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận
văn có hai nội dung: Khái lược chung về Phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị
xã Hà Tiên tỉnh Kiên Giang và chỉ ra những biểu hiện của sự dung hợp giữa
Phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang hiện nay.
2.1. Những công trình nghiên cứu về tộc người, văn hóa, tín ngưỡng
ở Kiên Giang, Hà Tiên
đại biểu Phật giáo tỉnh Kiên Giang lần thứ IV (nhiệm kỳ 2017-2022) của Ban
Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Kiên Giang (2017); Báo cáo công tác
tôn giáo trên địa bàn thị xã Hà Tiên của UBND thị xã Hà Tiên (2017); Sách
Nghiên cứu Hà Tiên của Trương Minh Đạt (2016); Sách Lược sử những ngôi
chùa ở Kiên Giang của Thượng tọa Thích Giác Phước (2002); Luận văn Thạc
3
sĩ về Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn thị xã Hà Tiên
tỉnh Kiên Giang của Trần Ngọc Quyên (2017); Tập hợp tài liệu do các cơ sở
thờ tự cung cấp; Các báo cáo của UBND một số phường, xã trong thị xã.
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát
thực địa ở nhiều chùa, đình, miếu trên địa bàn thị xã Hà Tiên hiện nay như
sau: (1) Các chùa: Phù Dung, Phật Đà, Thiên Trúc, Tam Bảo, Giải Thoát và
tịnh xá Ngọc Hồ (phường Bình San); chùa Tiên Sơn, Mũi Nai, Xà Xía (xã
Mỹ Đức); chùa Thanh Hòa (xã Thuận Yên); Tịnh xá Ngọc Đăng, Ngọc Tiên
(phường Tô Châu). (2) Đình: Thần Thành hoàng Hà Tiên (phường Đông
Hồ), đình Năm Ông (phường Bình San), đình Ông Bổn (xã Thuận Yên). (3)
Miếu: Bà Thủy Long (phường Tô Châu), miếu Quang Thánh đế (phường
Bình San), miếu Nam Hải - Tứ vị thần nữ (xã Thuận Yên).
Nguồn tư liệu điền dã thực tế 09 trường hợp, trong đó có 04 nữ giới,
tín đồ Công giáo 02 người, Phật giáo 03 người (01 ni cô), 04 người không
theo tôn giáo (01 chức việc ở đình). Gia đình thờ cúng: Ông Trần Văn Nhiên
- Số 266/7, đường Nam Hồ, Tô Châu; Bà Trần Thị Diễm Thanh - Số 197/6,
đường Phương Thành, Bình San. Chủ phương tiện tàu cá: Ông Trần Vãn Ðệ
- Chủ tàu KG-12324-TS, bà Lê Thị Nhớ - Chủ tàu KG-45463-TS; Chủ xe
khách: ông Lê Thanh Thành - Chủ xe khách số 68H-025.03, bà Nguyễn Thị
Gáo - Chủ xe khách số 68H-154.64, cùng nhiều bài phỏng vấn trực tiếp khác
liên quan đến vấn đề này.
Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo và công tác
tôn giáo. Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chuyên ngành là
tôn giáo học, xã hội học. Đồng thời cũng áp dụng phương pháp nghiên cứu
liên ngành gồm: sử học, dân tộc học, triết học, văn hóa học. Quá trình thực
hiện đã thực hiện các phương pháp chuyên môn như: Nghiên cứu, phân tích,
tổng hợp, đánh giá, so sánh, điền dã, phỏng vấn sâu.
6. Đóng góp của luận văn
5
Luận văn bổ sung đầy đủ hơn bức tranh chung về Phật giáo và tín
ngưỡng bản địa ở Hà Tiên. Từ đó làm rõ một số biểu hiện sự dung hợp của
Phật giáo với tín ngưỡng bản địa nơi đây.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo hỗ trợ cho việc áp dụng
trong thực tế và công tác giảng dạy chuyên ngành Tôn giáo học và các bộ
môn khoa học xã hội khác có liên quan. Luận văn còn là cứ liệu khoa học
giúp cho chính quyền địa phương hiểu rõ hơn về Phật giáo và tín ngưỡng bản
địa Hà Tiên, từ đó đề ra những giải pháp quản lý nhà nước về tôn giáo phù
hợp với sự tồn tại của nó ở Kiên Giang.
Trên cơ sở nâng cao nhận thức về “Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín
ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang hiện nay”, giúp cho công
tác quản lý xã hội, quản lý tín ngưỡng, tôn giáo, nhất là Phật giáo ở tỉnh Kiên
Giang được chặt chẽ hơn, các chính sách pháp luật được thực thi đầy đủ, sự
quan tâm tích cực của chính quyền đối với Phật giáo và tín ngưỡng bản địa,
để Phật giáo và tín ngưỡng tiếp tục phát triển đồng hành cùng dân tộc, xây
dựng một xã hội hòa bình, tốt đẹp, cùng tiến bộ.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
7
đảo. Nhiều thi sĩ đã xướng họa diễn tả cảm xúc, nổi tiếng có Tao đàn Châu
Anh Các với 10 bài vịnh Thập cảnh Hà Tiên.
Lượng nắng trung bình từ 6,5 đến 7,5 giờ/ngày. Năng lượng bức xạ
trung bình 150 - 160 kcal/cm² năm. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng
27 °C (thấp nhất là 23,9 °C vào khoảng tháng 12 - tháng 1; cao nhất là 30,20C
vào tháng 4 - 5. Độ ẩm trung bình 81,9%. Mùa mưa thường từ tháng 5 đến
tháng 10. Lượng mưa lớn, trung bình 2.118 mm/năm.
Diện tích tự nhiên năm 2015 là 10.048,83 ha (đất nông - lâm nghiệp và
nuôi trồng thủy sản là 7.472,7 ha (chiếm 74,36 %) với nhiều diện tích có độ
phèn mặn cao, đất phi nông nghiệp là 2.373 ha, đất chưa sử dụng chủ yếu là
bãi bồi, núi đá không có cây cối chiếm 2,02%).
Kể từ năm 2000- 2001, Hà Tiên có 13 trường, gồm 1 trường mầm non
và 12 trường thuộc ngành giáo dục phổ thông (7 trường tiểu học, 3 trường
Trung học cơ sở, 1 trường Phổ thông Trung học, 1 trung tâm giáo dục kỹ
thuật hướng nghiệp dạy nghề), tỷ lệ con em đến trường hàng năm trên 99%
trẻ em. Một bệnh viện tại trung tâm thành phố quy mô 60 giường bệnh, 100%
xã phường có trung tâm y tế và khu dân cư có y tế thôn bản. Thế mạnh kinh
tế của Hà Tiên là biên giới giáp Campuchia trên bộ lẫn trên biển, Hà Tiên
cách tỉnh lị Kampot 60km và cảng Kep 20km; Đường biển và hàng không đi
các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á; đấu nối với các khu du lịch, nghĩ
dưỡng trong vùng. Trong đó có hoạt động tâm linh rất phát triển. [37]
Theo Báo cáo Tổng hợp thực trạng Tôn giáo trên địa bàn Kiên Giang
(2017) cho biết: Trên địa bàn thị xã Hà Tiên có 14 chùa, 01 đền thờ, 01 giáo
xứ, 02 giáo họ, 04 đình, 03 miếu, 01 am. Có đa dạng tín ngưỡng và nhiều tôn
giáo được duy trì gồm Phật giáo, Công giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài,
Phật đường Nam tông Minh sư đạo và Tịnh độ cư sĩ [2]. Với 20.266 tín đồ, 19
hái, săn bắn, đánh cá, trồng trọt, do đó mà không ngừng tiến triển. Đây là một
9
trong những quốc gia đóng góp tích cực vào nền văn hóa lâu đời, vào vận
mệnh lịch sử ở Đông Nam Á” [18, tr.219] nói chung, mảnh đất Hà Tiên xưa
nói riêng.
Vào thế kỷ I sau công nguyên, Hà Tiên là vùng hạ của tiểu quốc Ba
Nam xưa, đây là một trong những tiểu quốc lớn mạnh và quan trọng của
vương quốc Phù Nam vào thế kỷ I. Ba Nam là tên một quả núi (thực ra là một
gò núi nhỏ ở bờ trái hạ lưu sông Mê Kông), còn gọi là Ba Phnom (Nam hay
Phnom là núi; Ba hay là dmâk, dalmâk (đặc mục) là người đi săn), về sau gọi
theo chữ Phạn trong các bi ký, Vyâdhapura, cũng chỉ là sự dịch nghĩa: Xứ sở
của những người đi săn [18, tr.221]. Tên Phù Nam (hay Bạt Nam) là chuyển
âm - Đây chắc là nơi sinh sống thuận tiện, nên dân cư sớm tập trung đông
đúc. Tiểu quốc Ba Nam sớm hình thành, phát triển nhanh, mạnh nên khiến
cho các tiểu quốc khác (vốn có quan hệ thân tộc) càng phải kết thân và thần
phục. Ba Nam trở nên có địa vị lãnh đạo, tiêu biểu cho các tiểu quốc khác, mà
tên của nó là đại diện cho sự thống nhất của các quốc gia sơ kỳ của người
Khmer: Quốc gia Phù Nam. [18]
Những nhà nước hình thành trên lãnh thổ, trong đó có vùng đất này đã
được các tài liệu cổ gọi bằng những tên gọi khác nhau, từ Phù Nam, Thủy
Chân Lạp, cho đến Việt Nam ngày nay, đã phản ảnh những bước phát triển
trong quan hệ xã hội, chính trị của các tộc người anh em. Tên gọi Phù Nam
xứng đáng là tên chính thức của vương quốc bởi vì thường được nhắc tới
trong văn bia của các đời vua và từ một câu chuyện thần thoại truyền thống,
phản ánh tính chất phát triển liên tục của lịch sử vùng này. “… Ở phía nam
quận Nhật Nam, trên bờ phía tây đại dương, rộng 3.000 lý, có một con sông
từ phía tây chạy ra bể. Vua nước ấy là một nữ hoàng, tên là Liễu Diệp. Sau có
tăng thêm quan hệ hòa hiếu và kết hôn với một công chúa người Việt.“ [18,
11
tr.247]. Tuy nhiên, chỉ yên ổn hơn 30 năm thì nội bộ quý tộc lại tranh giành
gây mâu thuẫn trong hoàng gia, một bên theo Xiêm, một bên theo Việt.
Trong quyển Chế độ Công đền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập
ấp ở Nam kỳ lục tỉnh, Nguyễn Đình Đầu đã dẫn lại bài Mạc Cửu và Chúa
Nguyễn ở Hà Tiên của Trần Kinh Hòa, trong tạp chí Văn hóa Á Châu, Và
Phan Khoang, sđd, tr.423: “Nguyên Mạc Cửu là người châu Lôi tỉnh Quảng
Đông, trước làm chủ thuyền buôn, kinh doanh lớn, thường lui tới Lữ Tống
(đảo Lu-Zon của Phi-lip-pin), Chà Và (đảo Java của In-đô-nê-xi-a), Chân Lạp
(Cam-pu-chia và Nam bộ ngày nay). Khi thấy nhà Minh hết hy vọng phục
hưng đất nước từ tay thống trị người Mãn Thanh, Mạc Cửu sang ở hẵn Chân
Lạp, khoảng năm 1680, và được nhận làm quan tại triều. Song chính quyền
Chân Lạp lúc đó thường chia rẽ cạnh tranh nhau và bị nước Xiêm can thiệp
dòm ngó, nên Mạc Cửu xin tới lập nghiệp trên cửa biển Pe1am (tức Phương
Thành) thuộc tỉnh Kham (ta gọi là Màng Khảm). Nơi đây thường có người
buôn bán ngoại quốc tụ họp và chung quanh đã có lưu dân lác đác tới khẩn
hoang. Mạc Cửu mở một sòng bạc để lấy sâu, mở phố xá, xây thành trên bờ
biển và chiêu tập thêm lưu dân tới ở các nơi Phú Quốc, Lũng Kỳ (còn gọi
Trũng Kè, Lũng Cả, Réam), Cần Bột (Campốt), Rạch Giá, Luống Cày,
Hương Úc (tức Vũng Thơm hay Kompong-som) và Cà mau để lập thành 7 xã
thôn. Tương truyền rằng ở Phương Thành có tiên thường hiện ra trên sông,
nên mới đặt tên là Hà Tiên" [8], sau này có ý kiến cho rằng Mạc Cửu đặt tên
Hà Tiên là do nổi nhớ mong quê hương mà thành.
Nguyễn Đình Đầu cũng dẫn ở đoạn tiếp theo từ Hoàng Việt Giáp Tý
niên biểu, Nguyễn Bá Trác phụng biên tập, Khải Định năm thứ 10 (1925) ấn
hành, Bửu Cầm... Trương Bửu Lâm phiên địch, Sài Gòn 1963, tr.303: “Tuy
chân lập trấn và mang theo tín ngưỡng Trung Quốc và Phật giáo Bắc tông vào
nơi này. Cũng cùng thời kỳ này, có tài liệu minh chứng sự có mặt của một
linh mục Công giáo đã có mặt tại đây nhưng không rõ đã làm gì và không có
13
dấu tích để lại, Công giáo chỉ khởi sắc từ những năm 1960 về sau. Đến đầu
thế kỷ XX dần xuất hiện các tôn giáo nội sinh là Phật giáo Hòa Hảo, Cao đài,
Phật đường Nam tông Minh sư đạo, Tịnh độ cư sĩ.
Riêng Phật giáo, các di tích để lại từ thời cận đại đến nay cho thấy Phật
giáo ở Hà Tiên trong thế kỷ XVII có thể hình thành hai chùa, đó là chùa
Thiên Trúc và chùa Phù Dung. Sang thế kỷ XVIII xuất hiện hai chùa, là chùa
Tam Bảo và Tiên Sơn. Từ thế kỷ XX xuất hiện đông đảo các chùa khác và
các tôn giáo khác.
Ở ngôi Thiên Trúc Tự, vào những năm 1960-1963, dưới thời trụ trì
Pháp Kiên, trong lúc trùng tu lại ngôi chùa đã tìm thấy một số viên gạch ghi
ký tự Khmer số 1616 dưới Bồ Đoàn, nơi pho tượng Phật lớn ngồi. Tượng
Phật Lớn bên trong ngôi Chính điện là Phật Thích Ca ngồi trên Bồ Đoàn có
gương mặt, dáng ngồi giống như các tượng Phật của Thái Lan được bảo tồn
trong viện Bảo tàng tại Bangkok. Những người hiểu biết cho hay: Thời Mạc
Thiên Tích có hai vị hoàng tử Xiêm lưu vong tại Việt Nam, lưu ở xứ Hà
Tiên một thời gian rồi trở về nước phục vị. Sau đó các vị hoàng tử cùng các
nghệ nhân người Xiêm đã trở lại Hà Tiên tạo tác pho tượng Phật ở Chùa
Hang (Hải Sơn Tự - thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên
Giang), sau đó là pho tượng Phật Lớn tại Thiên Trúc Tự. Bức tượng cao
2,6m, thân tượng ngồi kiết già từ gối trái sang gối phải 1,9m. Một bia đá SiMa với đường nét hoa văn theo Thái Lan, các chùa Nam tông trong vùng
không có bia đá này. [11, tr.4]
Từ các di chỉ trên, có thể suy đoán chùa này đã được thành lập từ trước
năm 1616, vì người Khmer và Mã Lai ở đây đầu tiên và luôn hành đạo với
trong chùa, nay vẫn còn” [17, tr.107]. Cũng như lịch sử thăng trầm của Hà
Tiên, có nhiều giai đoạn gặp chiến tranh gián đoạn, “Đến đời Gia Long
15
(1802-1819) vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở (1811). Lúc nầy nhân
dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên
Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ. Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá
Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại,…” [12, m.B, k.2]. Đến nay đã qua 19 đời trụ
trì và đã được xây dựng khang trang, giữ được vẻ thanh tịnh vốn có của nó.
Đây cũng là nơi lưu dấu bức tường cổ, đại hồng chung cổ và tượng phật bằng
đồng Mạc Cửu đúc tặng mẹ hơn 300 năm tuổi. Chùa đã được triều đình sắc
phong nên còn gọi là Sắc tứ Tam Bảo tự, ngày nay được chính quyền công
nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh.
Không thể không nhắc đến ngôi chùa Tiên Sơn trong núi Thạch Động.
Theo sách Lược sử những ngôi chùa ở Kiên Giang, thượng tọa Thích Giác
Phước, chủ biên, NXB. TP. Hồ Chí Minh, 2002 cho biết: Vào thế kỷ XVIII,
Hòa thượng Huỳnh Phong đã đến tu hành tại đây. Năm 1790, Hòa thượng
Minh Đường (Trung Quốc) đã tìm đến hang động này tu hành và đặt tên là
Bạch Vân Am. Sau đó, ngài đã giao am lại cho Bạch Vân Cư sĩ và về tu ở
chùa Địa Tạng, cách Bạch Vân Am 800m về hướng Đông Nam. Đến năm
1888, một nhóm người Minh Hương đã đến tổ chức trùng tu am xưa và cung
thỉnh Hòa thượng Thích Chánh Quả, thuộc dòng Lâm Tế Chánh tông đời thứ
39, về trụ trì. Hòa thượng đã cho đúc một số tượng Phật và Bồ tát, đổi tên
Bạch Vân Am thành Linh Sơn Tự. Ngài viên tịch năm 1913. Kế thế trụ trì là
Hòa thượng Thích Thiện Sĩ đã tổ chức trùng tu, mở rộng ngôi chùa, đặt tên
chùa Tiên Sơn. Đại đức Thích Minh Luận trụ trì chùa từ nãm 1989 đến nay
[38]. Ðây là một trong những ngôi chùa ở trong động đá nổi tiếng với sự tích
Thạch Sanh - Lý Thông. Hiện chùa được trùng tu khá khang trang, hài hòa
triết học sâu sắc, chủ yếu giáo thuyết về pháp, bản thể, tâm, vô thường, nhân
duyên, sắc không, vô ngã, nhân quả, luân hồi, nghiệp và nghiệp báo, thập
nhị nhân duyên, tứ diệu đế, giải thoát và niết bàn. Ngoài ra, giáo lý Phật giáo
còn có những lý thuyết khác như là thuyết về Thức, mối quan hệ giữa Tâm
17
và Thức, giữa Tâm và Vật. Các hệ phái có cách thức tu tập, hành thiền và
sinh hoạt khá khác nhau, mang tính đặc trưng của từng hệ phái trong ngôi
nhà chung Phật pháp.
Giới luật:
Giới luật hướng dẫn nhiều điều chế định hướng dẫn tu tập. Nội dung
chủ yếu của giới luật là những điều kiêng cấm nhằm chế ngự dục vọng, từ bỏ
việc ác, khuyến khích thực hiện việc thiện để đạt đến sự giải thoát. Giới luật
quy định cho từng đối tượng riêng: Đối với tín đồ tại gia phải thực hiện “Ngũ
giới” và thập thiện. Đối với bậc Sa-di, phải giữ 105 giới, người đi tu theo Phật
trên tinh thần tự nguyện, đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản gồm: Phải
được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng (nếu còn nhỏ); phải là
công dân tốt, không trong tình trạng vi phạm pháp luật; phải có thầy dẫn dắt
và có những vật dụng cần thiết của một nhà sư, có thể giữ bậc Sa-di suốt đời.
Đối với bậc Tỳ kheo, phải thực hiện đầy đủ các giới, gọi là “Cụ túc giới” gồm
250 giới, giới luật ở bậc này quy định rất chi tiết, chặt chẽ từ việc ăn, mặc, ở,
đi, đứng, nằm, ngồi (hành, trụ, tọa, ngọa), nói năng đến mối quan hệ giao tiếp
với gia đình, xã hội, đồng đạo, cách thức hành đạo, tu trì, lễ bái.
Đối với những người xuất gia, Phật giáo còn nêu lên sáu điều để hướng
dẫn tu hành, gọi là “Lục hòa tăng” hay “Lục hòa kinh pháp”. Đồng thời đối
với cả những người xuất gia lẫn những người tu tại gia có những điều răn dạy
cụ thể: Tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả), Vô ngã vị tha (không vì mình mà vì
mọi người), hạnh lục độ (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí
thuận tiện tại địa phương. Việc hành lễ do các vị cao tăng chủ trì cuộc lễ. Có
các ngày lễ chính trong năm theo âm lịch, gồm: Rằm tháng tư mừng Phật đản
sanh, thành đạo và nhập Niết bàn; An cư Kiết hạ là dịp các bậc tăng ni ở
trong chùa tu tập liên tục ba tháng để trao dồi thân, khẩu, ý; Lễ Dâng y
(Kathina - lễ Dâng bông) thực hiện tâm thí của người cúng dường và người
nhận được một cách bền vững, viên mãn. Ngoài ra còn có các lễ gắn với tín
19
ngưỡng, văn hóa, truyền thống và dân tộc: Rằm tháng giêng; Lễ Xá tội Vong
nhân; Ở đồng bào Khmer còn có những lễ hội cúng mừng năm mới (Chol
Chnam Thmay), lễ cúng trăng (Okcombok), cúng ông Tà (Nek ta), cúng cơm
(Sen prên), cúng đáp lễ (cúng thần linh, người khuất mặt), lên tổ (tế lễ, tạ lễ
cho thần giữ nhà, thần giữ sóc)…
Kiến trúc:
Các chùa được bố trí trên một khoảng không gian đất đai rộng lớn, có
nhiều cây cao bóng cả, yên tịnh và thoáng mát. Mặt tiền chùa có thể hướng về
hướng khác nhưng chính điện luôn hướng về phương đông theo quan niệm
phật ở phương tây hướng về phương đông ban phước. Chính điện được xem
như là quần thể kiến trúc chính của ngôi chùa nên thường cao hơn kết cấu các
tháp, tăng xá hoặc giảng đường khoảng hơn 01m. Trong chính điện thường có
tam cấp: cấp cao nhất thường tôn trí xá lợi, cấp giữa tôn trí Phật tổ to lớn, cấp
cuối tôn trí các pho tượng Phật khác với các tư thế ngồi hoặc nằm với những
ý nghĩa khác nhau. Ngoài ra còn có các công trình phụ trợ gồm: phật cảnh,
nhà thiền tăng ni, nhà ăn, nhà bếp, nhà vệ sinh,…
Tổ chức:
Đến nay, ở các chùa có 01 hòa thượng, 01 thượng tọa, 04 đại đức, 02 ni
sư, 02 sư cô, hàng tăng ni chúng. Nơi này có 01 vị hòa thượng chứng minh,
Ban Trị sự GHPGVN thị xã có 21 vị. Các Ban Trị sự từng chùa lo giúp việc