Những vấn đề văn học dân gian được đặt ra trên báo Giáo dục và Thời đại trong mười năm gần đây - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


KHỔNG THỊ HUYỀN

NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIAN
ĐƯỢC ĐẶT RA TRÊN BÁO GIÁO DỤC VÀ THỜI ĐẠI
TRONG MƯỜI NĂM GẦN ĐÂY
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC HÀ NỘI, 2009 HÀ NỘI, 2009

MỤC LỤC
Trang

Mở đầu 2
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề 6
3. Phạm vi đối tượng nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 8
5 Bố cục của luận văn: 8
Chương 1: Tiếp cận phần văn học dân gian trên Báo Giáo dục và thời đại
từ nhiều góc độ khác nhau 9
1.1 Giới thiệu Báo Giáo dục và thời đại 9
1.2 Tiếp cận phần văn học dân gian trên Báo Giáo dục và thời đại từ góc độ
thể loại 14
1.2.1. Những bài viết về ca dao dân ca 17
1.2.2. Những bài viết về tục ngữ 32
1.2.3 Bài viết về truyền thuyết 33
1.2.4. Bài viết về truyện cổ tích 33
1.2.5. Bài viết về truyện thơ 34
1.2.6. Nhận xét chung về phần văn học dân gian được đề cập trên Báo
Giáo dục và thời đại 36
1.3.Tiếp cận phần văn học dân gian trên Báo Giáo dục và thời đại từ góc độ liên
quan trực tiếp đến việc giảng dạy văn học dân gian ở trường phổ thông 36
Chương 2: So sánh phần văn học dân gian trên Báo Giáo dục và thời đại và

Nam có nội dung phong phú, phản ánh đời sống, thể hiện lý tưởng xã hội và
đạo đức của nhân dân lao động các dân tộc, được đánh giá như “sách giáo
khoa về đời sống”. Nó cung cấp những tri thức hữu ích về tự nhiên xã hội góp
phần quan trọng vào sự hình thành nhân cách con người Việt Nam, bảo tồn và
phát huy truyền thống tốt đẹp như truyền thống yêu nước tinh thần hướng
thiện, trọng nhân nghĩa, giàu tình thương.
Những giá trị nhiều mặt trên đây khiến cho VHDG không những giàu
sức sống luôn tồn tại và phát triển song song với bộ phận văn học viết mà còn
có tác động mạnh mẽ tới sự hình thành và phát triển của văn học viết. Trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn học nghệ thuật hiện đại đậm đà bản
sắc dân tộc hiện nay, VHDG xứng đáng được coi như một nội lực đáng kể
cho sự sáng tạo nghệ thuật.
Cùng với văn học viết, VHDG được đưa vào chương trình giáo dục phổ
thông từ bậc tiểu học đến phổ thông trung học. Ở bậc tiểu học, học sinh được
làm quen với các tác phẩm văn học dân gian chủ yếu thông qua các phân
môn: Tập đọc, Chính tả, Làm văn… Lên đến bậc trung học cơ sở, trung học
phổ thông, các em được tiếp cận các tác phẩm tục ngữ, ca dao, thần thoại,
truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, sử thi…. một cách
trọn vẹn trong các giờ giảng văn thông qua tìm hiểu, phân tích, bình giá tác
phẩm. Một số vấn đề về nội dung và nghệ thuật của các thể loại văn học dân
gian cũng được đưa vào sách giáo khoa ngữ văn, giúp cho học sinh trung học

5
phổ thông bước đầu có những hiểu biết về các thể loại này. Như vậy VHDG
chiếm một vị trí nhất định trong chương trình giáo dục phổ thông.
Trong nhiều thập kỷ qua, việc nghiên cứu VHDG không ngừng được
tiến hành và phát triển. VHDG đã là đối tượng quan tâm của nhiều thế hệ
khoa học và những thành tựu đạt được về lĩnh vực nghiên cứu này rất đáng
ghi nhận. Nghiên cứu, bình luận, phân tích, VHDG có nhiều cuốn sách, các tờ
tạp chí, tuần báo, nhật báo. Người đọc tìm thấy những bài viết về VHDG trên

2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu VHDG ở nước ta từ trước tới nay có rất nhiều bài viết,
nhiều cuốn sách. Có thể nêu lên những cuốn sách tiêu biểu sau với tư cách là
những giáo trình đại học:
- Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1, Văn học dân gian, Giáo trình
Đại học sư phạm, xuất bản lần đầu 1961( Bùi Văn Nguyên và nhiều tác
giả biên soạn).
- Văn học dân gian Việt Nam, 1962, Giáo trình Đại học Tổng hợp
(Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên biên soạn).
- Văn học dân gian Việt Nam, 1990, Giáo trình Đại học Tổng hợp (Lê
Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ biên soạn).
- Văn học dân gian Việt Nam, 2 tập, 1990 – 1991 (Tập 1: Đỗ Bình Trị
biên soạn, Tập 2: Hoàng Tiến tựu biên soạn).
- Văn học dân gian Việt Nam, in lần đầu 1997 (Đinh Gia Khánh – Chu
Xuân Diên – Võ Quang Nhơn biên soạn). Tái bản lần thứ sáu, 2002.
Ngoài ra còn có các chuyên luận của các nhà nghiên cứu như: Tìm hiểu
tiến trình văn học dân gian Việt Nam, 1974 (Cao Huy Đỉnh); Sơ bộ tìm hiểu
những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám (1968) của Đinh Gia
Khánh; Truyện cổ tích dưới con mắt các nhà khoa học (1987) của Chu Xuân
Diên; Thi pháp ca dao (1993, tái bản 2007) của Nguyễn Xuân Kính; Truyện

7
Nôm, bản chất và thể loại (1993) của Kiều thu Hoạch; Cổ tích thần kỳ người
Việt - đặc điểm cấu tạo cốt truyện (1994) của Tăng Kim Ngân; truyện ngụ
ngôn Việt Nam và thế giới thể loại và triển vọng, (1993) của Phạm Minh
Hạnh; Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian Việt
Nam (1999) của Đỗ Bình trị, v.v….
Việc nghiên cứu VHDG các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng đã được
tiến hành với những thành tựu rất đáng trân trọng: Văn học các dân tộc thiểu
số Việt Nam ( trước cách mạng tháng tám 1945) của Phan Đăng Nhật

Chương 1: Tiếp cận phần văn học dân gian trên Báo Giáo dục và thời đại
từ nhiều góc độ thể loại
Chương 2: So sánh giữa phần văn học dân gian trên Báo Giáo dục và
thời đại và phần văn học dân gian trên Báo Văn nghệ và Tạp chí Văn học và
tuổi trẻ
Chương 3: Nhận xét, đánh giá và nêu kiến nghị với phần văn học dân
gian trên Báo Giáo dục và thời đại

9
Chương 1
Tiếp cận phần văn học dân gian trên Báo Giáo dục
và thời đại từ nhiều góc độ khác nhau

1.1 Giới thiệu Báo Giáo dục và thời đại
Cuối tháng 12 năm 2009 tới, Báo Giáo dục và thời đại sẽ long trọng kỷ
niệm 50 năm ngày thành lập báo (1959 – 2009). Có thể nói đây là một sự kiện
có ý nghĩa to lớn đối với cơ quan báo nói riêng và toàn ngành giáo dục Việt
Nam nói chung. Dưới sự lãnh đạo của Bộ Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và
Đào tạo) và các thế hệ Tổng biên tập, tờ báo này– cơ quan ngôn luận chính
thống của Bộ Giáo dục và Đào tạo, diễn đàn của xã hội vì sự nghiệp giáo dục
đã ngày càng vươn lên xứng đáng với niềm tin yêu của các thầy giáo cô giáo,
các bậc cha mẹ, các em học sinh và bạn đọc đông đảo cả nước.
Vào năm 1953, tại chiến khu Việt Bắc đã mở ra một bước ngoặt lịch sử
báo chí của ngành báo chí Vịêt Nam. Đó là sự ra đời của tờ tạp chí Giáo dục
nhân dân (cơ quan Bộ Giáo dục). Tờ tạp chí đã trở thành nguồn thông tin quý
báu cho các nhà giáo cũng như sự nghiệp giáo dục của cả nước. Nó còn là nơi
để bồi dưỡng nhiều mặt cho lực lượng giáo viên, kể cả những nghiệp vụ
chung nhất.
Sau một thời gian hoạt động, đến năm 1954 sau chiến thắng Điện Biên
Phủ tờ Tạp chí Giáo dục nhân dân từ chiến khu Việt Bắc chuyển về Hà Nội

(4/1991 đến nay). Bên cạnh việc thường xuyên đổi mới hình thức cho phù
hợp với thời cuộc, nhu cầu và thị hiếu bạn đọc, báo cũng không ngừng tăng
trang, tăng kỳ để nâng cao hơn nữa về chất lượng . Sự nỗ lực phấn đấu ấy
cuối cùng đã đạt được những thành quả đáng mừng. Báo đã có thêm các phụ
san như : Thế giới mới (là tờ phụ san tri thức tổng hợp ban đầu của Báo Giáo

11
dục và thời đại ra đời từ năm 1989, từ chỗ 1 tháng 1 kỳ tăng dần lên một
tháng 2 kỳ, 3 kỳ rồi định hình thành tạp chí hàng tuần, đến tháng 7/1994 thì
được tách ra thành một tạp chí độc lập); Tài hoa trẻ, Giáo dục và thời đại chủ
nhật. Số kỳ xuất bản báo cũng tăng dần lên theo thời gian. Đây là một cố gắng
vượt bậc của báo. Bởi trong thời kỳ chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng
không quân của Mỹ, vào giai đoạn ác liệt, đất nước thiếu giấy nghiêm trọng,
tất cả các báo đều phải giảm số lượng in ấn. Báo Người giáo viên nhân dân
chọn biện pháp rút số lượng in mỗi kỳ mà vẫn ra báo hàng tuần đều đặn. Sự
ổn định và phát triển liên tục của tờ báo là cơ sở bền vừng cho báo thực hiện
có hiệu quả nhiệm vụ chính trị và xã hội của mình.
Tiến trình phát triển của Báo Giáo dục và thời đại trong suốt 50 năm
qua gắn liền với hai đặc điểm nổi bật( tương ứng với hai giai đoạn cụ thể ).
Đó là phong trào thi đua Hai tốt, Giáo dục Bổ túc văn hoá (giai đoạn 1959 –
1985) và thời kỳ đổi mới báo (giai đoạn 1986 – nay).
Giai đoạn từ 1959 – 1985 là thời kỳ đầu của Báo Người giáo viên nhân
dân và cũng là quá trình định hướng, tìm đường của báo để từng bước trưởng
thành phát triển. Giai đoạn này kéo dài hơn 25 năm và vẫn gắn liền với tên
Báo Người giáo viên nhân dân (chứ chưa đổi thành tên Báo Giáo dục và thời
đại). Về tình hình đất nước năm 1959, miền Bắc dần dần đi vào ổn định. Toàn
dân quyết tâm hàn gắn vết thương chiến tranh thời chống Pháp, ra sức xây
dựng xã hội chủ nghĩa. Còn đồng bào miền Nam đang trong cảnh dầu sôi lửa
bỏng quyết liệt chống “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ( 1961 – 1965).
Nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn này của Báo Giáo dục và thời đại hết sức

thường có 12 trang với các chương mục: Tình hình kinh nghiệm, trao đổi ý
kiến, chuyện nhà giáo, tìm hiểu giáo dục, trả lời bạn đọc, dọn trường dọn lớp,
nhân dân anh hùng - thầy giáo anh hùng… Các chuyên mục này được trình
bầy cân đối, đều đặn trên từng số báo và góp phần làm nên nội dung cơ bản
của tờ báo. Suốt chặng đường 25 năm, tờ báo không ngừng hoàn thiện dần

13
hình thức thể hiện cũng như phát huy hơn nữa phần nội dung, đáp ứng nhu
cầu thị hiếu của bạn đọc.
Giai đoạn từ 1986 – nay (2009) là thời kỳ khởi sắc và đổi mới của tờ
báo. Hoàn cảnh lịch sử giai đoạn này gắn với sự nghiệp đổi mới của đất nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12- 1986) của Đảng Cộng sản Việt
Nam là mốc đánh quan trọng đánh dấu bước chuyển đất nước sang thời kỳ đổi
mới. Báo Giáo viên nhân dân có thể tự hào vì đã đứng vào hàng ngũ những tờ
báo có nhiệm vụ đổi mới và góp một tiếng nói chung trong quá trình đổi mới
này. Báo Giáo viên nhân dân mang một tên mới: Giáo dục và thời đại (1991)
để phấn đấu tự hoàn thiện mình về mọi mặt.
Giai đoạn này Báo Giáo dục và thời đại có nhiều đổi mới cả về hình
thức lẫn nội dung. Lúc này bên cạnh việc tuyên truyền về giáo dục như tên
chính của báo phần còn lại của báo nghiêng về “thời đại”. Nội dung ít nhìều
được “xã hội hoá” hơn so với thời kỳ trước, những tiến triển này được thể
hiện qua ba nội dung chính đó là : Mở rộng nội dung tờ báo, đẩy mạnh hiệu
quả giáo dục và nâng cao tính chiến đấu.
Thời kỳ này báo có dung lượng 12 trang với các chuyên mục (gần như
cố định) gắn với từng trang báo.
Mở rộng và đổi mới nội dung tờ báo là yếu tố làm nên sức sống mới
của tờ báo giáo dục. Nhằm nâng cao chất lượng bài vở phát triển những cây
bút có năng lực tạo sự gần gũi giữa báo với bạn đọc cả nước, báo thường
xuyên phát động cuộc thi thơ và truyện ngắn. Có thể khẳng định rằng trong
thời kỳ này hoạt động in ấn phát hành có nhiều thuận lợi và đổi mới thấy rõ.

còn thể hiện việc chưa tách rời các loại hình nghệ thuật trong tổng thể
Folklore. Điều này có nghĩa là nghệ thuật ngôn từ gắn bó chặt chẽ với các loại
hình nghệ thuật khác.VHDG vừa không phải là nghệ thuật vừa là nghệ thuật.
Bên cạnh đặc trưng về tính nguyên hợp đa chức năng, VHDG được
biểu hiện rõ nhất ở đặc trưng tập thể và truyền miệng. VHDG là kết quả của

15
một quá trình sáng tác tập thể, có thể của một vùng hoặc của một nhóm cư
dân, hoặc của một dân tộc nào đó. Nhưng điều cơ bản là nó hợp với tâm lý tập
thể. Chính tính tập thể là đặc trưng phân biệt giữa văn học dân gian và văn
học thành văn. Điều này có nghĩa là tác phẩm văn học dân gian được lưu giữ
bằng cách truyền từ người này qua người khác, nơi này sang nơi khác. Hoạt
động diễn xướng VHDG là hoạt động lưu truyền, nuôi dưỡng VHDG một
cách hiệu quả nhất . Song cũng do đặc trưng này mà phát sinh những biến thể
hay dị bản khác nhau. Cùng một tác phẩm nhưng ở những vùng khác nhau lại
có những bản ghi chép khác nhau Đôi khi ta lúng túng không bết nên theo
lối nào.Theo thiển ý của chúng tôi, cho dù trước một văn bản nào thì cái cơ
bản nhất là phải bám chắc vào ngôn từ đã sử dụng sau đó sẽ có so sánh đối
chiếu với các văn bản khác.Ta không nên kết luận vội vàng rằng văn bản này
đúng văn bản kia sai, mà chỉ có hay chưa mà thôi.
Trên đây là một số đặc trưng loại biệt của văn học dân gian. Tìm hiểu
sâu những đặc trưng đó sẽ giúp ta phát hiện ra quy luật vận động của văn học
dân gian và xác định được hệ thống thể loại của văn học dân gian.
Văn học dân gian có các thể loại chủ yếu như thần thoại, sử thi, truyền
thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, truyện thơ, tục ngữ, ca
dao, câu đố , vè….Trong đó có những thể loại ra đời sớm và đã một đi không
trở lại (thần thoại, sử thi,…), có thể loại ra đời muộn hơn và tiếp tục tồn tại,
sinh thành, phát triển ( truyện cười, ngụ ngôn, câu đố).
Năm 1974 trong cuốn sách Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt
Nam, Cao Huy Đỉnh “cố gắng theo hướng lịch sử” mà tìm hiểu “một số vấn

Mỵ Châu Trọng Thuỷ,…), cổ tích (Thạch Sanh, Tấm Cám,…), sử thi (Đăm
Săn, Đẻ đất đẻ nước,…) thường sử dụng yếu tố kỳ ảo, phép tưởng tượng nhân
hoá vũ trụ (coi thế giới tự nhiên, vũ trụ, cũng hoạt động, suy nghĩ như con
người) và vũ trụ hoá con người (coi con người cũng có tầm vóc, sức mạnh
như thế giới tự nhiên, vũ trụ), sau này có thêm truyện ngụ ngôn, truyện

17
cười,…Thơ ca dân gian có ca dao, dân ca, hò vè, truyện thơ,… Sân khấu dân
gian có các hình thức ca kịch như trò diễn, chèo, tuồng,…”. [ 6 tr.6].
Trên cơ sở tìm hiểu khái quát về những đặc trưng và các thể loại của
VHDG, chúng ta sẽ có cơ sở để tiếp cận phần văn học dân gian trên Báo Giáo
dục và thời đại.Trên Báo Giáo dục và thời đại trong mười năm gần đây đã
đăng một dung lượng đáng kể bài viết về VHDG như ca dao, truyền thuyết,
truyện cổ tích, truyện thơ, tục ngữ……Các thể loại khá phong phú da dạng.
Mỗi thể loại có rất nhiều bài viết với những góc độ tiếp cận khác nhau.
Trong tiểu mục này, chúng tôi phân tích những thể loại được đề cập
1.2.1. Những bài viết về ca dao dân ca
1.2.1.1. Giới thuyết về ca dao
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ ca dao. Song hiện nay
các nhà nghiên cứu đều đưa ra quan niệm về ca dao dân ca như sau: Dân ca
bao gồm phần lời (câu hoặc bài), phần nhạc điệu (giọng hoặc làn điệu),
phương thức diễn xướng và cả môi trường khung cảnh ca hát. Khi nói đến ca
dao là chỉ nói đến lời ca (tức là đã tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi)
của bài hát dân gian.
Trong cuốn Những đặc điểm thi pháp các thể loại văn học dân gian
Đỗ Bình Trị cho rằng : thật ra, ca dao và dân ca có cùng một nghĩa – đó là
những câu hát bài hát dân gian. Chúng là những thuật ngữ hoàn toàn tương
đương. Ca dao hiểu theo nghĩa rộng là một khái niệm bao hàm ba yếu tố gắn
bó chặt chẽ với nhau: Lối hát (tức là hình thức sinh hoạt ca hát hay hay
phương thức diễn xướng): có hát trong lễ hội và hát trong ngày thường, có

Đỗ Thị Thanh Thuỷ “Góp thêm tiếng nói về một bài ca dao” 27/3/2001,
số 37, tr.7
Nguyễn Xuân Sanh, “Cò Quăm trong ca dao là cò gì?”, 22/5/2003, số 8.
Nguyễn Xuân Sanh, “Thực tế ở Việt Nam có cò Quăm”, ngày
19/6/2003, tr.9

19
Thanh Ứng, “Chỉ nên có một cách hiểu”, 29/4/2004, số 52, tr.9
Hồ Quý Nghĩa, “Về hai cách hiểu trong bốn câu ca dao”, 6/5/2004, số
55, trang 9.
Nguyễn Đức Ngọc, “Về cách hiểu bốn câu ca dao”, 6/4/2004, số 55
Phạm Hoài Kế, “Tâm lý vợ chồng qua một câu ca dao cổ”, 11/1/2005, số 5,
Tạ Duy Anh, “Một truyện ngắn trữ tình hiện đại trong bài dân ca cổ”,
11/1/2005, số 5, tr.9
Phạm Quang Ái, “Bàn thêm về cách cắt nghĩa một bài ca dao”,
24/2/2005, số 24, tr.8.
Hoàng Công Trường, “Lời ước hay sự than thân”, 12/4/2005, số 44, tr.9
Nguyệt Cầm, “Cảm nhận qua một bài ca dao: Nếu biết “cho”sẽ là được
“nhận”, 10/05/2005, số 56, tr.8
Hồng Long, “Nỗi nhớ mẹ day dứt trong một câu ca dao”, 11/06/2005,
số 70, tr.8
Nguyễn Ngự Bình, “Số 9 có ý nghĩa như thế nào?”, 28/6/2005, số 77
trang 8
Vũ Hồng Thuỷ “Bắc cầu bằng ngọn mồng tơi”, 14/7/2005, số 84
Phạm Mạc Vĩnh Thiên, “Đôi điều mạo muội về ca dao”, 15/01/2006, số
3, tr36.
Lê Lanh, “Tình con trong một câu ca dao”, 10/1/2006, số 4
Lê Đình Mai, “Có cách hiểu khác về bài ca dao ấy”, 24/10/2006, số
127, tr.9
Trương Khắc Ái, “Nên hiểu bài ca dao theo hướng mở”, 7/12/2006,

Là một sáng tác phôncơlo, ca dao lại có những đặc điểm riêng về mặt
thi pháp. Ca dao vừa mang bản sắc chung của một sáng tác phôncơlo giống
như cổ tích, thần thoại, truyện ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ lại có những
đặc điểm khác với các thể loại VHDG nói trên. Những đặc điểm này làm nên

21
thi pháp ca dao. Vậy thi pháp ca dao có những đặc điểm gì? Trong cuốn Thi
pháp ca dao của tác giả Nguyễn Xuân Kính đã nêu ra những đặc điểm khá cụ
thể của thi pháp ca dao như : tính dị bản, ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu, thời gian
không gian nghệ thuật, biểu tượng, hình ảnh.
Khảo sát 31 bài viết về ca dao trên Báo Giáo dục và thời đại, chúng tôi
thấy các tác giả không đề cập tất cả những đặc điểm thi pháp ca dao mà chỉ đề
cập đến một hai đặc điểm như: tính dị bản, ngôn ngữ.
Trước tiên là vấn đề dị bản trong ca dao. Dị bản theo nghĩa khái quát
nhất trong từ điển tiếng Việt đó là: bản được truyền lại của một tác phẩm văn
học có những chỗ khác với bản được phổ biến rộng rãi. Như lời một nhà
nghiên cứu VHDG “dị bản trong văn học dân gian là một quy luật sáng tạo”.
Vậy nguyên nhân nào dẫn đến dị bản? đó là quá trình tiếp nhận VHDG thể
hiện ở những ứng tác khi diễn xướng. Trong quá trình đó có thêm bớt một số
nội dung thông tin cụ thể để phù hợp với một thời điểm cụ thể, một hoàn cảnh
cụ thể, một mục đích cụ thể. VHDG sáng tạo bằng con đường liên tục hình
thành dị bản đề đáp ứng được yêu cầu tinh thần nhu cầu thực tiễn của nhân
dân. Chính nhu cầu đó mới là nguyên nhân thứ nhất xuất hiện các dị bản.
Nguyên cớ thứ hai mới là phương thức thông tin tác phẩm bằng con đường
truyền miệng. Có dị bản qua thời gian, có dị bản qua không gian có dị bản qua
môi trường diễn xướng. Nhiều người thẩm định và ghi chép theo cách thức
riêng của mình khiến cho tác phẩm có nhiều dị bản khác nhau (Nguyễn Hùng
Vĩ - Tạp chí Văn hóa dân gian số 1 /2003 ;tr 62).
Như chúng ta đã biết VHDG có đặc trưng mang tính tập thể và truyền
miêng. Chính vì yếu tố đó dẫn đến hiện tượng, vẫn cùng một nội dung lời ca

Theo tác giả bài ca dao còn hai câu cuối là:
Một quả thì để trên giàn
Chờ khi thanh vắng thiếp với chàng ăn chung

23
Dị bản bài ca dao gồm bốn câu là hợp lý. Bài viết Minh Anh là lời đối
thoại với tác giả Nguyễn Đức Quyền khi đọc bài ca dao "Còn một quả dưa
nữa đâu ?" đăng trên báo "Áo trắng" số 34. Minh Anh lý giải quả dưa thứ tư
(bên cạnh ba quả: quả ăn, quả để, quả đưa) thì quả thứ tư là quả hẹn hò.Bài
viết nhằm giới thiệu hai câu ca dao mới phát hiện để bạn đọc cùng tham khảo
suy ngẫm.
Bài viết "Về một câu ca dao có liên quan đến phong trào Tây Sơn”-
Trần Xuân Toàn, đã được đăng trên mạng nhưng khi đăng trên Báo Giáo dục
và thời đại tác giả đã lược bớt phần đầu do quy định số tiếng và dung lượng
bài viết đòi hỏi phải ngắn gọn. Trong phần đầu bài viết có đoạn: “Khi nói đến
tình cảm của con người với quê hương đất nước hay nhắc đến hình ảnh quê
hương xưa cũ cùng với những tình cảm của con người xa xứ, ca dao thường
nói đến “cây đa”,“bến nước, con đò”, là tín hiệu nghệ thuật là biểu tượng gắn
liền với quê hương đất nước và con người Việt Nam cả xưa lẫn nay. Cây đa
cổ thụ là biểu tượng về sự trường thọ của cộng đồng xóm làng. Cây đa vừa có
ý nghĩa thực tiễn vừa có ý nghĩa xã hội và tâm linh cho nên nó mang ý nghĩa
biểu tượng của tính cộng đồng là niềm hãnh diện của xóm làng “sợ ông thần
phải sợ cây đa”. Còn bến nước là cửa ngõ giao lưu của cộng đồng làng xóm
với xã hội bên ngoài. Bến nước là biểu tượng quê hương, có tính cộng đồng
có tính mở trong quan hệ với tính đóng của lũy tre làng quê. Bên cạnh sự đề
cập riêng lẻ từng biểu tượng cây đa hay bến đò như trên kho tàng ca dao cũng
nhiều khi đề cập hai hình ảnh biểu tượng này song đôi nhau”.
Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác xưa
Trong bài viết này tác giả sử dụng phương pháp hệ thống, chú ý đến

một bài ca dao” - Nguyễn Minh Khôi, (6/4/2000 số 42).
Trong bài viết: Tiếp cận tác phẩm “Trèo lên cây bưởi hái hoa”- Đỗ
Trọng đã mở đầu bài viết bằng việc giới thiệu khái quát bài ca dao: “Trèo lên

Trích đoạn Bài viết về truyện cổ tích Nhận xét chung về phần văn học dân gian được đề cập trên Báo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status