Đại học quốc gia Hà Nội
Trờng Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Khoa báo chí
---------------
niên luận
Vấn đề đổi mới sách giáo khoa trên giáo dục hiện đại
Giáo viên hớng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
Lớp
:
PHầN I. Lời mở đầu
Sau gần 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần 2 Ban chấp
hành Trung ơng Đảng (khoá VIII), ngành giáo dục Việt Nam có những
chuyển biến quan trọng và đang bớc vào thời kỳ phát triển mới. Mạng lới
trờng lớp tiếp tục đợc duy trì, phát triển với hình thức đa dạng hơn, ngày
càng nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu học tập của con em trong nhân
dân.
Quy mô giáo dục không ngừng đợc điều chỉnh cho phù hợp với các
điều kiện thực tiễn, đồng thời đảm bảo cho việc nâng cao chất lợng đào tạo
trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ. Từ những cố gắng, nỗ lực của ngành giáo
dục đào tạo, đến nay ở Việt Nam đã dần khắc phục tình trạng mất cân đối
về cơ cấu cấp học, bậc học, hoàn thành kế hoạch xoá mù chữ trong cả nớc,
gắn liền với phổ cập giáo dục tiểu học và đẩy mạnh phổ cập trung học cơ
sở.
Nhằm xây dựng một nền giáo dục phát triển toàn diện, phù hợp với
thực tiễn cũng nh phù hợp với trình độ dân trí, ngành giáo dục đào tạo Việt
Nam dới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nớc luôn đa ra những chính sách
công chúng và ngợc lại. Tờ báo hớng đến sự hình thành d luận xã hội,
đồng thời là kênh thể hiện d luận xã hội, từ đó thúc đẩy sự phát triển của
vấn đề đặt ra. Đặc biệt, báo Giáo dục và Thời đại đã tạo nên mối quan tâm
của công chúng khi vấn đề đổi mới sách giáo khoa là vấn đề cấp bách và có
ý nghĩa chiến lợc lâu dài của nền giáo dục Việt Nam hiện đại.
Để làm rõ những đóng góp của tờ báo trong việc đổi mới sách giáo
khoa phổ thông, chúng tôi tiến hành xây dựng tiểu luận: Vấn đề đổi mới
sách giáo khoa trên báo Giáo dục& Thời đại. Tiểu luận này đợc thực
hiện dới sự hớng dẫn của Giáo viên hớng dẫn với bố cục nh sau:
Phần I:
Lời mở đầu.
Phần II:
Hoàn cảnh thực tiễn đổi mới sách giáo khoa.
Phần III: Vai trò, ý nghĩa của báo Giáo dục và Thời đại trong việc
đổi mới sách giáo khoa.
Phần IV: Kết luận.
Vấn đề đổi mới sách giáo khoa trên báo Giáo dục & Thời đại
2
Mục lục.
Phụ lục.
Tài liệu tham khảo.
Mặc dù đợc sự hớng dẫn tận tình của Giáo viên hớng dẫn, nhng
ơng lần thứ II (khoá VIII) của Đảng cộng sản Việt Nam. Nghị quyết
khẳng định những giá trị mới của nền kinh tế thị trờng cùng với các giá trị
truyền thống đã đợc kết tinh trong mục tiêu giáo dục phổ thông nêu trong
Luật giáo dục, cần thể hiện trớc hết trong chơng trình và sách giáo khoa
phổ thông. Vì vậy xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chơng trình, kế hoạch,
nội dung, phơng pháp giáo dục và đào tạo cụ thể của từng bậc học, cấp
học, ngành học là một trong những chủ trơng, chính sách biện pháp lớn để
tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Vấn đề đổi mới sách giáo khoa trên báo Giáo dục & Thời đại
4
Không những thế xu hớng phát triển chơng trình và đổi mới quan
niệm về sách giáo khoa của giáo dục phổ thông trong khu vực và trên thế
giới đã trở thành đòi hỏi bức xúc buộc ngành giáo dục Việt Nam phải khẩn
trơng điều chỉnh cách soạn thảo chơng trình và cách biên soạn sách giáo
khoa cho phù hợp với điều kiện Việt Nam. Có thể nói, trong điều kiện phát
triển kinh tế xã hội ngày càng đổi mới đã làm thay đổi quan niệm và cách
biên soạn, cách sử dụng sách giáo khoa. Sách giáo khoa trở thành tài liệu
định hớng và hỗ trợ cho sự tự học, tự phát hiện, tự chiếm lĩnh tri thức mới
và thực hành theo năng lực của ngời học. Các thông tin trong sách giáo
khoa thờng đa dạng và phong phú, đợc đa ra qua các dạng gợi mở, đòi
hỏi ngời học phải có t duy linh hoạt, có óc phê phán mới có thể phát hiện
và giải quyết đợc những vấn đề đặt ra. Mặt khác, trớc những thách thức
của xu thế toàn cầu hoá, chơng trình phổ thông của các nớc trong khu
vực đều rất coi trọng các môn ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng giao tiếp...
Do vậy, tất cả những yếu tố trên đây đã tác động mạnh mẽ đến quá trình đổi
mới, biên soạn mới sách giáo khoa cho các cấp học phổ thông ở nớc ta.
trong Luật giáo dục; khắc phục những mặt còn hạn chế của chơng trình,
sách giáo khoa hiện hành; tăng cờng tính thực tiễn, kỹ năng thực hành,
năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung
những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp
thu của học sinh. Không những thế phải đảm bảo sự thống nhất về chuẩn
kiến thức và kỹ năng, có phơng án vận dụng chơng trình sách giáo khoa
phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của các địa bàn khác nhau.
Trên cơ sở mục tiêu đề ra, các cơ quan chức năng mà trớc hết là Bộ
Giáo dục và Đào tạo cùng với Nhà xuất bản Giáo dục đã xây dựng những
chơng trình hành động cụ thể. Tại cuộc họp báo Giới thiệu về sách giáo
khoa và sách tham khảo phục vụ năm học mới ngày 26/5/2000 tại Thành
phố Hồ Chí Minh, Ông Lê Vũ Hùng - Thứ trởng Bộ giáo dục và Đào tạo
cho biết: Qua 3 lần cải cách giáo dục năm 1951, 1959, và 1980, chơng
trình và sách giáo khoa đều đợc biên soạn mới; hàng năm lúc tái bản đều
có những điều chỉnh, thay đổi nhỏ nhng cơ bản là ổn định. Sách giáo khoa
đang sử dụng thể hiện rõ quan điểm giáo dục toàn diện, định hớng t
Vấn đề đổi mới sách giáo khoa trên báo Giáo dục & Thời đại
6
tởng chính trị tốt, cung cấp hệ thống tri thức chặt chẽ, đầy đủ, đảm bảo đủ
sách tuy cũng có những trục trặc khi chuyển hớng từ cấp phát sang kinh
doanh. Nhng thiếu sót là sách ba cấp học thiếu đồng bộ, thiếu nối kết
thông dẫn đến những chồng chéo, trùng lắp, cha quan tâm đến điều kiện
thực hiện, cha phục vụ tốt cho cải cách phơng pháp giảng dạy, chơng
trình cha thực hiện đầy đủ định tính, định lợng. Đội ngũ tác giả không
chuyên nghiệp, biên soạn sách chỉ là tay trái, tập trung vào các nhà khoa
học, giáo s đại học mà sự am hiểu phổ thông có những hạn chế. Mặt khác,
2002 2003; bắt đầu ở lớp 10 từ năm học 2004 2005; đến năm học
2006 2007 tất cả các lớp cuối cấp đều đợc thực hiện chơng trình và
sách giáo khoa mới.
Theo nh ý kiến của Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời kiến nghị của cử
tri về ổn định sách giáo khoa tại kỳ họp thứ 9 quốc hội khoá X thì đến thời
điểm này (tức là thời điểm diễn ra kỳ họp Quốc hội), Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã có kế hoạch chỉ đạo việc soạn thảo bộ sách giáo khoa mới của giáo
dục phổ thông. Bộ sách này dự kiến sẽ giữ ổn định ít nhất trong 8 năm (từ
2002 đến 2010). Bộ cũng đang phối hợp với các Bộ, Ban, Ngành của Chính
phủ để trình Chính phủ cho phép thực hiện mở rộng việc cho mợn, cho
thuê sách giáo khoa, nâng thời hạn sử dụng mỗi cuốn sách tới 5 năm để giữ
vững ổn định về sách giáo khoa vừa tiết kiệm cho nhà nớc và nhân dân.
Nh vậy, khi đa ra sách giáo khoa mới vào áp dụng đại trà, chủ thể
đổi mới phải tính đến sự vận dụng phù hợp với đặc điểm của từng vùng,
từng dân tộc, từng loại đối tợng học sinh để làm sao phát huy tối đa hiệu
quả của nó sau khi đổi mới, cải tiến.
2. Chủ thể thực hiện chơng trình đổi mới.
Trên cơ sở Tờ trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì Quốc hội giao
Chính phủ chỉ đạo việc thực hiện đổi mới chơng trình giáo dục phổ thông
(trong đó có đổi mới sách giáo khoa); hàng năm báo cáo với Uỷ ban
Thờng vụ Quốc hội về kết quả và tiến độ thực hiện. Riêng Bộ Giáo dục và
Đào tạo có trách nhiệm huy động, tập hợp các nhà khoa học, các nhà s
phạm, các cán bộ quản lý giáo dục am hiểu, có kinh nghiệm về giáo dục
phổ thông và các giáo viên giỏi tham gia biên soạn, thí điểm, thẩm định
Vấn đề đổi mới sách giáo khoa trên báo Giáo dục & Thời đại
8
9
Với mỗi cấp học, bậc học, Bộ đa ra từng nội dung đổi mới cụ thể
cho phù hợp với tính chất, mức độ của từng cấp học cũng nh phù hợp với
từng loại đối tợng phục vụ. Cụ thể nh sau:
+ Đối với Tiểu học: Thực hiện tích hợp nội dung để giảm số môn học
(các lớp 1, 2, 3 có 6 môn học; lớp 4, 5 có 9 môn học ). Đối với bậc tiểu học
tập trung chú ý vào 2 môn công cụ chính là Tiếng Việt và Toán, tuy nhiên
vẫn phải đảm bảo nội dung giáo dục toàn diện, đảm bảo cân đối giữa dạy
chữ và dạy ngời, chú trọng hình thành và phát triển các kỹ năng cơ bản.
+ Đối với trung học cơ sở : Tiếp tục quán triệt các quan điểm tích hợp
qua việc xây dựng các môn học với nhiều phân môn tách biệt nh môn Ngữ
văn đợc xây dựng thành môn học thống nhất từ 3 phân môn : Tiếng Việt,
Văn học, Tập làm văn hoặc hình thành các nhóm, môn học có liên quan
chặt chẽ ( nhóm khoa học tự nhiên), nhằm trớc hết bảo đảm yêu cầu chống
chồng chéo, trùng lặp, tạo sự phối hợp và hỗ trợ có hiệu quả trong quá trình
học tập từng môn học thuộc nhóm. Môn tự chọn ( Tin học) và các chủ đề tự
chọn thuộc các môn học, đợc bắt đầu thực hiện từ lớp 8 nhằm giúp các học
sinh có khả năng, nguyện vọng khác nhau trong việc bồi dỡng để nâng cao
hoặc mở rộng kiến thức. Tăng tính hớng nghiệp trong chơng trình để góp
phần định hớng phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp Trung học cơ sở.
+ Đối với trung học phổ thông : Sách giáo khoa sẽ đợc đổi mới phù
hợp với chơng trình phân ban mới với các yêu cầu: phổ thông, cơ bản,
toàn diện và phân hoá. Vì vậy, khi tiến hành đổi mới, chủ thể biên soạn phải
chú ý đến đặc trng của từng ban để bám sát yêu cầu phân ban đã đề ra.
4 . Kết quả của quá trình đổi mới.
Theo báo Giáo dục & Thời đại số 86 ngày 19/7/2001, Bộ trởng bộ
Giáo dục & Đào tạo cho biết Dự án phát triển giáo dục Trung học cơ sở
giáo dục. Nói nh vậy có nghĩa là Giáo dục & Thời đại là tờ báo của ngành
giáo dục mà trên đó tất cả những vấn đề liên quan đến nền giáo dục Việt
Nam và thế giới đều đợc làm sáng tỏ. Không chỉ là cơ quan ngôn luận của
ngành giáo dục mà lâu nay tờ báo Giáo dục & Thời đại đã chiếm lĩnh đợc
niềm tin của độc giả bởi tờ báo thực sự là nơi trao đổi, giải quyết những
thắc mắc mà bạn đọc quan tâm. Chẳng hạn những vấn đề có tính chính sách
nh : Thông tin cần biết về mùa tuyển sinh đại học, cao đẳng ; Vấn đề
quyền lợi của giáo viên, vấn đề lơng giáo viên v.v... cho đến thực
trạng của nền giáo dục Việt Nam thông qua các ghi chép, phóng sự,
...Không những thế, tờ Giáo dục & Thời đại còn dành hẳn 1 trang (thờng
là trang cuối) để giới thiệu cho độc giả biết về tình hình giáo dục thế giới,
về những nét độc đáo, khác biệt của giáo dục nớc bạn cũng nh những vấn
đề liên quan đến giáo dục quốc tế nổi bật trong tuần. Có thể nói, đối tợng
của tờ báo là rất lớn. Không chỉ giới hạn trong khu vực nhà trờng, tức là
những ngời làm công tác giáo dục, mà đối tợng còn mở rộng ra đông đảo
công chúng trong xã hội, bao gồm tất cả những ai quan tâm đến nền giáo
dục Việt Nam.
Trong mấy năm gần đây, tờ báo có nhiều đổi mới. Nó thực sự trở
thành diễn đàn trao đổi của độc giả. Thông qua các trang, mục nh Toà
soạn với bạn đọc; mục Trao đổi, Bình thơ hàng tháng; Nhịp cầu
bạn đọc...ngời đọc đợc thoả mãn tất cả những thắc mắc của mình. Ngay
nh vấn đề đổi mới chơng trình và đổi mới sách giáo khoa phổ thông ( nh
đề tài đang nghiên cứu) thì tờ báo đóng một vai trò vô cùng quan trọng. ở
đây, không chỉ là nơi cung cấp những thông tin cần thiết của các cơ quan có
thẩm quyền về vấn đề đổi mới mà còn là nơi đăng tải tất cả những ý kiến
đóng góp, xây dựng cho chơng trình. Tờ báo hình thành một số chuyên
mục : Góp ý kiến cho chơng trình Tiểu học (Thí điểm), Góp ý kiến
chơng trình Trung học cơ sở (Thí điểm); hoặc Diễn đàn đổi mới
Vấn đề đổi mới sách giáo khoa trên báo Giáo dục & Thời đại
Vấn đề đổi mới sách giáo khoa trên báo Giáo dục & Thời đại
13
Để có cơ sở cho việc nghiên cứu, trao đổi, thảo luận và đóng góp ý
kiến, báo Giáo dục & Thời đại sẽ đăng lại toàn văn:
- Tờ trình Quốc hội của Chính phủ về chủ trơng đổi mới chơng
trình và sách giáo khoa phổ thông.
- Nghị quyết số 40/2000/QH- 10 của Quốc hội về đổi mới chơng
trình giáo dục phổ thông.
2. Tổ chức nhận và tiếp thu ý kiến đóng góp, xây dựng đối với các dự
thảo chơng trìnhnêu trên để điều chỉnh chơng trình trớc khi
thẩm định và ban hành chính thức.
3. Mở chuyên mục Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới
chơng trình giáo dục phổ thông trên báo Giáo dục và Thời đại
để thờng xuyên công bố các ý kiến xây dựng, trao đổi về chơng
trình mới.
4. Tổ chức một số cuộc hội thảo để trao đổi ý kiến về những vấn đề
quan trọng đối với việc đổi mới chơng trình.
5. Chỉ đạo các Sở giáo dục - Đào tạo, các trờng s phạm đào tạo
giáo viên tiểu học và trung học cơ sở tổ chức trao đổi, thảo luận để
góp ý kiến về chơng trình từng môn học, từng cấp hoặc bậc học.
Các ý kiến đóng góp xin gửi về một trong hai địa chỉ:
- Văn phòng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Báo Giáo dục và Thời đại.
Bộ giáo dục và Đào tạo xin chân thành cảm ơn các nhà giáo, đặc biệt
các nhà giáo lão thành, các nhà khoa học,các nhà hoạt động xã hội, các
bậc cha mẹ học sinh, các cơ quan báo chí,...đã quan tâm đóng góp ý kiến
Để chơng trình đổi mới sách giáo khoa trở thành vấn đề quan tâm
của mọi tầng lớp công chúng trong xã hội, đồng thời để công chúng hiểu rõ
hơn bản chất vấn đề, Báo Giáo dục và Thời đại thực hiện việc đăng thông
Vấn đề đổi mới sách giáo khoa trên báo Giáo dục & Thời đại
15
tin, bài viết, bài phát biểu của những ngời có thẩm quyền, những cơ quan
chức năng coi đây nh là định hớng của vấn đề.
Báo Giáo dục và Thời đại số 63 ngày 25/5/2000 có đăng bài trả lời
của Bộ Giáo dục và Đào tạo về những kiến nghị của cử tri với Quốc hội
xung quanh vấn đề thay đổi chơng trình giảng dạy và thay đổi sách giáo
khoa. Sau khi lý giải sự cần thiết phải đổi mới sách giáo khoa cho phù hợp,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đi đến khẳng định: Trớc mắt ,Bộ Giáo dục và
Đào tạo sẽ rà soát lại chơng trình giảng dạy học tập và sách giáo khoa
để xử lý theo hớng giảm tải ở tiểu học và trung học cơ sở. Tiếp đó để đáp
ứng yêu cầu cơ bản và lâu dài, Bộ sẽ xây dựng và ban hành chính thức bộ
chơng trình và sách giáo khoa phổ thông, áp dụng thống nhất trong cả
nớc.... Để tiếp tục làm sáng tỏ vấn đề, Bộ nhấn mạnh: Để chấn chỉnh
và quản lý việc in ấn, phát hành sách giáo khoa, sách tham khảo, ngày
15/10/1999 Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số
38/1999/QĐ- BGD&ĐT ban hành danh mục sách giáo khoa dùng trong
trờng phổ thôngvà các cơ sở giáo dục khác. Danh mục này bao gồm:....
Nh vậy, bằng cách đăng tải bài trả lời của Bộ Giáo dục và Đào tạo
xoay quanh vấn đề đổi mới sách giáo khoa, tờ báo cùng một lúc làm đợc
ba việc. Thứ nhất: Thông tin cho bạn đọc biết có bài trả lời của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về vấn đề đổi mới chơng trình và đổi mới sách giáo khoa phổ
thông tại kỳ họp Quốc hội (hay nói cách khác là báo đang làm nhiệm vụ
phân phối thời gian dạy học ở vùng hay bị thiên tai hoặc có thời tiết khắc
nghiệt...để góp phần chỉ đạo việc thực hiện chơng trình cho phù hợp với
từng vùng, từng địa phơng.
Với bài trả lời này, Tòa soạn cho ngời đọc biết kế hoạch của Bộ
Giáo dục và Đào tạo khi thực hiện chơng trình đổi mới sách giáo khoa.
Bên cạnh đó còn giúp cho các trờng học thực hiện các chơng trình đổi
mới phải có cơ chế điều chỉnh cho phù hợp ( nh điều chỉnh về thời gian
giảng dạy, nội dung giảng dạy, giáo cụ giảng dạy.v.v...)
3. Đăng tải một số bài viết mang tính chất xây dựng, trao đổi,
đóng góp ý kiến.
Vấn đề đổi mới sách giáo khoa trên báo Giáo dục & Thời đại
17
Kể từ khi thực hiện nghị quyết số 40/2001/QH-10 của Quốc hội khoá
X kỳ họp thứ 8 về đổi mới chơng trình giáo dục phổ thông, báo Giáo dục
và Thời đại trở thành diễn đàn trao đổi, đóng góp ý kiến, xây dựng của đông
đảo công chúng quan tâm. Báo Giáo dục và Thời đại ngoài việc đăng tải
những văn bản mang tính chỉ đạo, định hớng nh Nghị quyết của Quốc
hội, bài trả lời phỏng vấn của Bộ giáo dục và Đào tạo v.v...tờ báo còn có
nhiệm vụ đăng tải tất cả những ý kiến đóng góp xây dựng của mọi đối
tợng tham gia. Ngoài ý kiến của ngời làm công tác giáo dục (Giáo viên,
giáo s, tiến sĩ, những ngời giữ các chức vụ quản lý khác nhau), tờ báo còn
đăng những ý kiến của các bậc phụ huynh học sinh. Qua cách làm này
ngời đọc có thể thấy quy mô và bản chất của vấn đề đổi mới, bởi ngời
đọc đợc tham khảo rất nhiều ý kiến khác nhau, những đánh giá nhận xét
khác nhau.
Có nhiều ý kiến đóng góp khá cụ thể về từng loại sách, sách của từng
Sinh vật Trờng Đại học s phạm Thành phố Hồ Chí Minh ) sau khi đa
ra những ý kiến chung còn đa ra ý kiến về cách sắp xếp lại nội dung trình
bày trong sách Sinh học ( từ lớp 6 đến lớp 9 ) khi đổi mới.
Có thể nói bằng việc truyền tải những thông tin quý báu này không
chỉ làm phong phú thêm thông tin trên mặt báo mà quan trọng hơn cả là các
cơ quan chức năng, ngời có thẩm quyền có những dự kiến xây dựng để
chơng trình hoàn thiện và đạt đợc hiệu quả cao khi thực hiện chơng
trình đổi mới.
Để tờ báo thực sự trở thành diễn đàn của sự nghiệp giáo dục Việt
Nam, đồng thời xứng đáng là cơ quan ngôn luận của ngành Giáo dục và
Đào tạo một ngành đợc toàn xã hội quan tâm, báo Giáo dục và Thời đại
còn dành nhiều trang, mục đăng tải những ý kiến đóng góp của những
ngời trực tiếp giảng dạy sách giáo khoa mới. Báo Giáo dục và Thời đại số
60 ngày 19/5/2001, trên chuyên mục góp ý kiến vào dự thảo chơng trình
tiểu học có bài Chơng trình u việt nhng còn tốn kém đây là bài tập
hợp rất nhiều ý kiến khác nhau (chủ yếu là các giáo viên trực tiếp giảng dạy
trong khối tiểu học).
Vấn đề đổi mới sách giáo khoa trên báo Giáo dục & Thời đại
19
Theo cô Trần Phong Thuý ( Hiệu phó phụ trách chuyên môn
trờng dân lập Nguyễn Văn Huyên nêu ý kiến : ...Chơng trình tiểu học
mới u việt nhng mới chỉ phù hợp với những trờng có điều kiện nh cơ sở
vật chất, đội ngũ giáo viên trên chuẩn, năng động và số học sinh ít. Do đó
nếu chơng trình mới áp dụng với các vùng sâu, vùng xa, nơi thiếu điều
kiện sẽ rất khó khăn.
Với ý kiến này thì ngời làm chơng trình đổi mới dễ dàng kiểm
nhu cầu thông tin quan trọng này.
Vấn đề đổi mới sách giáo khoa trên báo Giáo dục & Thời đại
21
Tài liệu tham khảo.
1. Báo Giáo dục &Thời đại trong hai năm 2000 2001.
2. Các tập bài giảng của các giảng viên khoa Báo chí - ĐH
KHXH&NV.
MụC Lục
PHầN I. Lời mở đầu .............................................................................................................................. 1
Phần II. Hoàn cảnh thực tiễn đổi mới sách giáo khoa. ................................................... 4
I . Sự cần thiết phải đổi mới sách giáo khoa. ............................................................................................ 4
Vấn đề đổi mới sách giáo khoa trên báo Giáo dục & Thời đại
22
1. Cơ sở văn hoá của sự đổi mới. ......................................................................................................... 4
2. Mục tiêu của việc đổi mới sách giáo khoa. ...................................................................................... 5
II. Quá trình đổi mới sách giáo khoa. ....................................................................................................... 7
1.
Tiến độ thực hiện việc đổi mới. ................................................................................................. 7
2. Chủ thể thực hiện chơng trình đổi mới. .......................................................................................... 8