1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THANH THỦY
DIỄN XƯỚNG VĂN HỌC DÂN GIAN
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HÁT DÔ, QUỐC OAI, HÀ NỘI) Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60.22.36
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HỌC
Hà Nội – 2012
Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
y
(Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội)
2.3.1 Về sự kiện 43
2.3.2 Về thể loại 46
Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
y
(Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội)
4
2.3.3 Về hành ñộng diễn xướng 56
2.3.4 Về người diễn 58
Chương 3. TỪ VĂN BẢN LỜI HÁT DÔ ðẾN DIỄN XƯỚNG 61
3.1 Từ văn bản hát Dô 61
3.1.1 Vấn ñề dị bản 61
3.1.2 Luật lệ ñặc biệt 63
3.1.3 Ngôn ngữ bóng bẩy 65
3.1.4 Lối hành văn song song 67
3.1.5 Công thức ñặc biệt 69
3.2 ðến diễn xướng hát Dô 70
3.2.1 Diễn xướng làn ñiệu “Hái hoa” 71
3.2.2 Diễn xướng làn ñiệu “Chèo thuyền” 73
3.2.3 Diễn xướng làn ñiệu “Trúc mai” 74
3.2.4 Diễn xướng làn ñiệu “Răng ñen hạt ñỗ” 75
3.2.5 Diễn xướng làn ñiệu “Muỗi ñốt tí tung” 76
3.2.6 Diễn xướng làn ñiệu “Hái chè” 77
C. KẾT LUẬN 79
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
E. PHỤ LỤC 85 Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
gắn với quá trình sáng tác và lưu truyền văn học dân gian.
Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
y
(Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội)
6
Gần ñây, trên thế giới, nghiên cứu về diễn xướng ñang mở ra những cái
nhìn cận cảnh cho folklore nói chung và văn học dân gian nói riêng. Các sách
giáo trình về văn học dân gian, ñặc biệt là những nghiên cứu gần ñây ở Việt
Nam ñều trực tiếp, hay gián tiếp nhắc ñến diễn xướng. Thuật ngữ “diễn
xướng” xuất hiện bên cạnh tên các làn ñiệu dân gian quen thuộc như: hát
Chèo Tầu ở ðan Phượng, Hà Nội; hò Cửa ñình ở Phú Xuyên; hát Ví, hát
Trống quân ở lưu vực sông ðáy, sông Nhuệ; hát Ca trù ở Thanh Oai, Chương
Mỹ, Hoài ðức… Tuy nhiên cho ñến nay chưa có một công trình khoa học
bằng tiếng Việt nào nghiên cứu và ñề cập sâu về bản chât của diễn xướng.
Người nghiên cứu có tham vọng ñi sâu vào vùng lý thuyết này ñể bước
ñầu ñịnh hình những nội hàm và ngoại diên của thuật ngữ “diễn xướng”. Bên
cạnh ñó, ñể lý thuyết ấy có tính ứng dụng, luận văn sẽ nghiên cứu cụ thể với
trường hợp hát Dô ở xã Liệp Tuyết, Quốc Oai, Hà Nội.
Do tính chất lời nguyền của hát Dô cùng những khó khăn về các yếu tố
khách quan, lần tổ chức hội Hát Dô gần ñây nhất ñã cách ñây 86 năm, từ năm
1926. Khoảng thời gian trên là ñủ dài ñể thấy rõ một lễ hội, một làn ñiệu dân
gian ñang ñứng trước bờ vực bị mai một và tầm quan trọng trong việc khôi
phục, bảo tồn sống, phát triển lễ hội Hát Dô.
Hà Tây cũ là một ñịa danh cổ, nơi bảo lưu nhiều giá trị vật thể và phi vật
thể với hơn 3000 di tích trong ñó có 1112 di tích ñã ñược xếp hạng [theo 24,
tr.6]. Cho dù ngày nay không còn ñịa danh Hà Tây nhưng vùng văn hóa ấy
vẫn hiện hữu bởi sự tồn tại và phát triển của những giai ñiệu dân gian, trong
ñó có hát Dô. Bởi thế, nghiên cứu và tìm hiểu về diễn xướng hát Dô không
riêng và trong hành trình folklore của thế giới nói chung. Tất cà những ñiều
ñó ñể chứng minh thuyết phục rằng tính diễn xướng hoàn toàn xứng ñáng
ñươc xem là một thuộc tính của văn học dân gian và hoàn toàn có thể có một
vị trí xứng ñáng trong các sách nghiên cứu bàn về ñặc trưng của văn học dân
gian.
Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
y
(Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội)
8
3. ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
ðối tượng nghiên cứu
Luận văn không chỉ ñề cập ñến một trường hợp cụ thể là lễ hội Hát Dô
mà còn liên quan ñến khái niệm mang tính chất học thuyết “diễn xướng” ñang
cần ñược cụ thể hóa. Xét về khía cạnh nào ñó, luận văn vừa có nhiệm vụ lập
thuyết
1
, vừa có nhiệm vụ ñưa lý thuyết mới vào ứng dụng trường hợp cụ thể
qua hội hát Dô. Do ñó, tác giả luận văn xác ñịnh ñối tượng nghiên cứu như
sau
- Tính diễn xướng trong nghiên cứu về văn học dân gian nói riêng và
trong folklore nói chung.
- Tính diễn xướng thể hiện trong hát Dô ở Quốc Oai, Hà Nội thông qua
việc tìm hiểu diễn xướng biểu hiện trong ngôn ngữ văn bản hát Dô.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn xác ñịnh phạm vi nghiên cứu dựa trên không gian và thời gian
- Về không gian: người nghiên cứu khảo sát ñịa bàn xã Liệp Tuyết huyện
Quốc Oai, Hà Nội, gồm các thôn: ðại Phu, Vĩnh Phúc, Bái Nội, Bái Ngoại và
pháp thống kê mô tả. ðây là phương pháp ñược ñặc biệt chú trọng và cũng
thật sự phát huy thế mạnh ñối với kiểu ñề tài nghiên cứu một hệ thống văn
bản các làn ñiệu hát Dô và các công trình khoa học nghiên cứu về văn học
dân gian cũng như về lý thuyết diễn xướng. Cùng nhóm phương pháp hỗ trợ,
ngoài phương pháp thống kê mô tả, việc sử dụng các phương pháp so sánh,
tổng hợp…là ñiều cần thiết ñể làm nổi bật những ñặc trưng riêng của nghệ
thuật diễn xướng nói chung và diễn xướng dân gian hát Dô nói riêng.
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở ñầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương
− Chương I: Diễn xướng qua nghiên cứu của các nhà folklkore học thế
giới và các nhà nghiên cứu Việt Nam.
− Chương II: Hát Dô, xã Liệp Tuyết, Quốc Oai, Hà Nội – tiếp cận từ lý
thuyết diễn xướng
− Chương III: Từ văn bản hát Dô ñến diễn xướng hát Dô
Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
y
(Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội)
10
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. DIỄN XƯỚNG QUA NGHIÊN CỨU CỦA CÁC NHÀ FOLKLORE
HỌC THẾ GIỚI VÀ CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU VIỆT NAM
1.1 Diễn xướng – một phương pháp mới trong nhiều phương pháp nghiên
cứu folklore ở phương Tây
Câu chuyện về sự ra ñời của thuật ngữ folklore bắt ñầu từ ngày 12 tháng
8 năm 1846, William J. Thoms ñã ñưa ra thuật ngữ này ñể thay thế “thuật ngữ
mà nước Anh gọi là Cổ dân tục (Popular literature)”. Khởi ñầu, ông cho rằng
ñây là một từ ghép giữa hai từ Dân gian – Tri thức, ñó là tri thức của dân tộc
pháp.
Nhà nghiên cứu folklore Richard Bauman thừa nhận diễn xướng cung
cấp thông tin nhưng chú trọng hơn vào phương thức sử dụng ngôn ngữ ñể
truyền tải thông tin ấy. Và cho dù, hệ quả là không cần những văn bản trau
chuốt ñộc lập thì khi ñó, khán giả sẽ thể hiện sự vui thích ñối với diễn xướng
tùy theo kỹ năng của người kể. Với khán giả, nhiều khi việc một câu chuyện
kể ra sao quan trọng hơn việc nó ñề cập ñến cái gì. Như vậy, kể chuyện bao
hàm cả việc thể hiện trình ñộ ở cách kể câu chuyện, và diễn giả phải chịu
trách nhiệm về năng lực truyền ñạt. Cho nên, dù diễn xướng không ñược trau
chuốt, hay ngổn ngang những yếu tố không hợp về ngữ pháp, thì tất cả cũng
là nét riêng của diễn xướng, và biết ñâu lại là chủ ñích của diễn giả, mang ñến
những hiệu quả thẩm mỹ không ngờ mà một văn bản trau chuốt khó mang lại
ñược.
Cũng nghiên cứu về ngôn ngữ, nhưng các nhà nghiên cứu thuộc các
trường phái khác lại rất chú ý ñến diễn xướng, tiêu biểu là nhà nghiên cứu
Dell Hymes – một nhà nhân chủng học Hoa Kỳ. Ông lập luận rằng ngôn ngữ
học cấu thành có tính chất xã hội ñòi hỏi phải có một quan niệm khác về năng
lực và sự diễn xướng. Theo ñó, chức năng xã hội sẽ ñịnh hình cho dạng thức
ngôn ngữ học, ngôn ngữ sẽ có cả ý nghĩa xã hội lẫn ý nghĩa dẫn chiếu, và
Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
y
(Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội)
12
chức năng thông tin của ngôn ngữ trong việc cấu thành cuộc sống xã hội về
thực chất là cơ bản. Diễn xướng bình ñẳng với ngữ pháp, ñóng vai trò thực
hiện hành ñộng thông tin, cung cấp những tri thức và khả năng giúp người ta
nói theo những cách có thể lý giải ñược và phù hợp về mặt xã hội.
Như vậy, cùng thuộc lĩnh vực ngôn ngữ nhưng ñã có hai hướng thái ñộ
ñộng thông tin ñều bao hàm hàng loạt thông ñiệp tạo kết cấu, ẩn cũng như
tường, chuyển tải những chỉ dẫn về việc hiểu ra sao với các thông ñiệp ñược
gửi gắm, chuyển tải. Như vậy, mỗi cộng ñồng với vốn văn hóa và truyền
thống sẽ có những tập hợp cấu trúc phương tiện thông tin riêng ñể khóa kết
cấu diễn xướng sao cho sự truyền thông tin trong khuôn khổ kết cấu ñó sẽ
ñược cộng ñồng ñó hiểu là sự diễn xướng.
Cũng xem diễn xướng như sự kết cấu, nhưng cách nhìn của nhà triết học
ngôn ngữ phổ thông Anh, J.L.Austin không ñi theo hướng trên. Với ông,
trong diễn xướng có tính nghệ thuật có một cái gì ñó diễn ra trong sự trao ñổi
có tính thông tin, mách bảo với diễn giả hãy diễn giải cái mà diễn xướng nói
theo một nghĩa ñặc biệt nào ñó, và ñừng làm nó có nghĩa chỉ như ñúng nghĩa
các từ truyền tải. Như vậy, sự diễn xướng tạo nên một kết cấu diễn giải mà
trong ñó các thông ñiệp trao ñổi cần ñược hiểu rằng kết cấu này tương phản
với ít nhất một kết cấu khác vốn là kết cấu theo nghĩa ñen của từ. Austin liệt
kê ra một số kết cấu mà diễn xướng có thể biểu ñạt:
Kết cấu nói bóng gió: trong ñó những từ nói ra cần ñược diễn giải như
thể có một cái vỏ bọc và quan hệ gián tiếp với ý nghĩa của lời nói;
Kết cấu bông ñùa: trong ñó các từ nói ra cần ñược diễn giải như thể
chúng không nghiêm túc có nghĩa như cái mà chúng ñáng ra phải có;
Kết cấu bắt chước: trong lối nói cần ñược hiểu là sự nhại lại một hoặc
nhiều người khác;
Kết cấu trích dẫn: trong ñó các từ nói ra cần ñược diễn giải như thể các
từ của ai ñó khác với diễn giải;
Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
y
(Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội)
14
Kết cấu phiên dịch: trong ñó các từ nói ra cần ñược diễn giải như thể
15
“Các văn bản văn học truyền miệng, mặc dù có thể thỏa mãn các biện
pháp hình thức của nghệ thuật lời nói, ñược ghi lại cẩn thận và có mối liên hệ
chặt chẽ với sự diễn xướng trong những bối cảnh quy ước của chúng, thì vẫn
không bao giờ có thể là sản phẩm của sự diễn xướng mà là của sự thể hiện
theo một phương thức thông tin khác”. Ông ñặt ra mục ñích tìm hiểu bản chất
của sự diễn xướng với hy vọng có một thước ño về tính ñích thực của các văn
bản văn học truyền miệng hiện nay sưu tầm ñược.
Giáo sư ñồng ý rằng diễn xướng như là một kết cấu riêng biệt, hiện hữu
như một nguồn thông tin cho diễn giả cùng với những thứ khác trong các
cộng ñồng nhất ñịnh. Từ ñây, ông nỗ lực trả lời ở mức sơ bộ câu hỏi: sự diễn
xướng thiết lập nên hoặc biểu diễn loại kết cấu diễn giải nào? Những thông
tin cấu thành sự diễn xướng ñược diễn giải ra sao?
Sự diễn xướng với tư cách một phương thức thông tin bằng miệng nên sẽ
ñặt yêu cầu về năng lực truyền ñạt của người thể hiện, sao cho thính giả hiểu
ñược và yêu thích. Người diễn giả cần có khả năng giải thích ñược với thính
giả về cách mà sự truyền ñạt thông tin sẽ diễn ra, vượt lên trên và ra ngoài nội
dung dẫn chiếu nó.“Từ góc ñộ thính giả, hành ñộng biểu ñạt từ phía người
thực hiện ñược ñể ý như là chủ thể ñánh giá về cách mà nó ñược thực hiện, về
kỹ năng tương ñối và tính hiệu quả của việc thể hiện năng lực người thực
hiện. Ngoài ra, nó còn ñược ñể ý như là có ñấy ñể nâng cao vốn sống thông
qua sự hưởng thụ hiện tại những ñặc trưng thực chất của bản thân hành ñộng
biểu ñạt” [theo 19; tr. 750]. Như vậy, sự diễn xướng thu hút sự chú ý ñặc biệt
và nhận thức ñược nâng cao về hành ñộng biểu ñạt và cấp phép cho khán giả
xem hành ñộng biểu ñạt và người thực hiện với một sự lưu tâm ñặc biệt.
Ở phần này, Richard Bauman lấy ví dụ minh họa qua lối nói ñặc trưng
của người dân vùng bình nguyên nước Cộng hòa Malagasy và người Ilongot
của Philippine. Các lối nói này bao hàm cả việc thể hiện trình ñộ ở cách nói.
Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
của ngôn ngữ bóng bẩy là tính sáng tạo của người diễn xướng về
phương diện hình ảnh mà ngôn ngữ học sử dụng.
Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
y
(Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội)
17
3. Lối hành văn song song (formal stylistic devices): bao gồm việc lặp lại,
với những biến ñổi có tính hệ thống., các cấu trúc phát âm, ngữ pháp,
hoặc vần luật. Sự kiên trì các yếu tố bất biến và những nguyên tắc cấu
trúc làm nền tảng cho việc xây dựng lối hành văn song song. Lối nói
song song xuất hiện trong các hệ thống có tính ñặc trưng cao và phức
tạp của thi ca truyền miệng như anh hùng ca truyền miệng hoặc các bài
phát biểu có tính nghi thức. Việc sử dụng nhuần nhuyễn thứ ngôn ngữ
ñánh dấu bởi tính cân ñối nổi bật cũng là một phương thức hiệu nghiệm
ñể thực hiện năng lực thông tin.
4. Các ñặc ñiểm cận ngôn ngữ ñặc biệt. Thuật ngữ “ñặc ñiểm cận ngôn
ngữ” là một cách khái quát tất cả những yếu tố liên quan ñến ngôn ngữ,
mà trong bản gốc nhà nghiên cứu Richard Bauman gọi là special
prosodic patterns (những kiểu ngôn ñiệu ñặc biệt như trọng âm, nhịp
ngắt) và special paralinguistic patterns of voice quality and
vocalization (các kiểu giọng, xướng âm ñặc biệt)
5. Các công thức ñặc biệt (special fomulae) bao gồm cách mở ñầu và kết
thúc truyền thống hay những cách trình bày rõ ràng như “ngày xửa
ngày xưa”, hoặc “bạn ñã bao giờ nghe kể rằng…?”
6. Sức hấp dẫn của truyền thống (appeal to tradition) viện dẫn tới truyền
thống như một chuẩn quy chiếu cho trách nhiệm của người diễn xướng
“Người xưa nói rằng”. Cách nói cầu khiến ñến truyền thống này cũng
có thể trở thành chìa khóa cho sự diễn xướng.
những thể loại mà mang ñến cảm giác là sự diễn xướng sẽ không gây ñược
hứng thú nếu biểu diễn. Hoặc có những thể loại bằng lời không ñược thể hiện
theo kiểu diễn xướng. Những cái ñó ñược nhìn nhận là không bao hàm cái gọi
là năng lực cho việc thể hiện, và bản thân chúng cũng không góp phần vào
nâng cao vốn sống.
Tuy nhiên, có những cộng ñồng nhận thức hoạt ñộng lời nói theo hành
ñộng hơn là theo thể loại. Hành ñộng diễn xướng như một hành vi nằm trong
Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
y
(Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội)
19
hoàn cảnh, nằm trong và mang lại ý nghĩa ñối với những bối cảnh thích hợp.
Các bối cảnh ñó xác ñịnh ở nhiều cấp ñộ, ví dụ như ñó là những ñịa ñiểm
ñược sắp ñặt về mặt văn hóa mà sự diễn xướng xảy ra. Cái quan trọng nhất là
sự kiện mà tại ñó diễn ra sự diễn xướng.
Có những sự kiện mà với chúng sự diễn xướng là cần thiết, là một thuộc
tính mang tính tiêu chí, sao cho diễn xướng là một thành tố cần thiêt cho một
sự kiện nhất ñịnh. Các cuộc diễn xướng văn hóa (cultural performances) là
những sự kiện có lịch trình, giới hạn về bố trí, có ranh giới rõ ràng và công
khai rộng rãi, bao hàm những dạng thức diễn xướng ñược nghi thức hóa cao
nhất và người biểu diễn giỏi nhất của cộng ñồng.
Bên cạnh ñó, cấu trúc của diễn xướng còn có sự tác ñộng của những quy
tắc nền tảng của sự diễn xướng. Các quy tắc này bao gồm tập hợp những chủ
ñề văn hóa và những nguyên tắc tổ chức ñạo ñức và tương tác xã hội chi phối
việc tiến hành sự diễn xướng. Với tư cách như một cái gọi là lời nói, sự diễn
xướng chịu tác ñộng của một loạt quy tắc nền tảng cộng ñồng có vai trò ñiều
chỉnh lời nói nói chung; ñồng thời cũng chịu tác ñộng của một tập hợp các
quy tắc nền tảng ñặc thù cho bản thân sự diễn xướng. Người Wishram ñòi hỏi
diễn xướng, song rất ñáng ñược nghiên cứu như là cái khóa mở lối vào sức
sống sáng tạo và tính linh hoạt của sự diễn xướng trong một cộng ñồng.
1.4.3 ðặc trưng nổi bật của diễn xướng
ðặc trưng nổi bật của sự diễn xướng nằm trong tác ñộng qua lại
giữa các nguồn có tính chất thông tin, năng lực cá nhân và mục ñích của
những người tham gia, trong khuôn khổ bối cảnh của những tình huống
nhất ñịnh. Nguồn, theo cách gọi ở ñây, là tất cả mọi khía cạnh hệ thống
thông tin có sẵn cho các thành viên của một cộng ñồng sử dụng ñể tiến hành
sự diễn xướng. Có thể kể ra ñó là các khóa cho sự diễn xướng, các thể loại,
hành ñộng, sự kiện và các quy tắc nền tảng cho việc tiến hành diễn xướng tạo
nên một hệ thống có cấu trúc của sự diễn xướng quy ước hóa cho cộng ñồng.
Mục ñích của người tham gia bao gồm những cái thuộc bản chất của sự diễn
xướng – sự thể hiện trình ñộ, sự tập trung chú ý vào bản thân mình như một
Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
y
(Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội)
21
người biểu diễn, sự nâng cao vốn sống – cũng như những mục ñích cuối cùng
mà người ta mong muốn sự diễn xướng ñem lại; những cái sai sẽ mang nặng
tính văn hóa và ñặc thù tình huống. Như vậy, năng lực tương ñối phải ñi cùng
khả năng thành thục tương ñối trong việc tiến hành diễn xướng.
Các biến cố diễn xướng thường ñược lên lịch, ñược dàn dựng và chuẩn
bị trước, ñồng thời chúng có giới hạn về thời gian, với thời ñiểm bắt ñầu và
kết thúc xác ñịnh; có giới hạn về không gian, nghĩa là diễn ra trong một không
gian ñã ñược lựa chọn một cách tượng trưng, tạm thời hoặc vĩnh viễn. Khi ñó,
cuộc diễn xướng văn hóa ñược lên chương trình với kịch bản hoặc cấu trúc cụ
thể.
Các cuộc diễn xướng thường hấp dẫn bởi chúng có tính phản ánh lối
xướng gồm ñồng diễn và ñơn diễn, với các yếu tố như: diễn viên, ñịa ñiểm,
thời ñiểm… Trong công trình này, Lê Văn Chưởng ñã thống kê các tác phẩm
Quốc ngữ từ ñầu thế kỷ XX về tiếp cận nghiên cứu thơ ca dân gian.Tác giả
nhận thấy những công trình nghiên cứu thơ ca dân gian không ñề cập hoặc
lướt qua diễn xướng mà không tìm hiểu sâu như một thành phần của thơ ca
dân gian.
Người nghiên cứu tiếp tục khảo sát một số công trình nghiên cứu có liên
quan ñếm diễn xướng như: Kho tàng diễn xướng dân gian Việt Nam (Vũ
Ngọc Khánh), Giá trị nghệ thuật của diễn xướng dân gian Việt Nam (Tuấn
Giang), Diễn xướng dân gian và nghệ thuật sân khấu (Lê Anh Trà, Nguyễn
Huy Hồng, Vũ Ngọc Phan), Diễn xướng và sân khấu các dân tộc (Tuấn
Giang). Các công trình này ñều bàn về diễn xướng ở các mức ñộ khác nhau.
Có công trình xem diễn xướng như một thuật ngữ ñã tồn tại và mặc nhiên
chấp nhận nó.Có công trình tìm hiểu diễn xướng ở góc ñộ giá trị ñóng góp ñối
với ñời sống văn hóa và các loại hình nghệ thuật.
Cụ thể, cuốn Kho tàng diễn xướng dân gian Việt Nam của Vũ Ngọc
Khánh ñịnh nghĩa diễn xướng bao gồm hai thành tố diễn và xướng. “Diễn”
chỉ hành ñộng, sự việc, có âm thanh hoặc không có âm thanh; “xướng” là
Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
y
(Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội)
23
giọng người, có âm thanh, nói năng hoặc ca hát. Hai yếu tố này gắn bó với
nhau.
Tác giả xem diễn xướng là một phương thức, cách thể hiện, giới
thiệu, trình bày thông qua nói, kể, ví… Bên cạnh ñó, ông cho rằng diễn
xướng là một thể loại. Diễn xướng dần trở thành màn biểu diễn có quy củ, tổ
chức, thứ lớp rõ ràng. Phương thức diễn xướng cho phép những câu ca, tiếng
Trong văn học dân gian Việt Nam, diễn xướng là một thể loại hiện diện bù lấp
cho sự thiếu vắng sử thi, thần thoại.
1.6 Diễn xướng trong các giáo trình tiêu biểu về văn học dân gian Việt
Nam
Người nghiên cứu ñã tiến hành khảo sát một số giáo trình về văn học dân
gian ñang ñược dùng phổ biến hiện nay ñể so sánh, ñối chiếu về cách ñịnh
nghĩa và chỉ ra ñặc trưng của văn học dân gian, nhằm tìm ra một tiếng nói
chung giữa các nhà nghiên cứu ñối với mối quan hệ giữa văn học dân gian và
diễn xướng.
Văn học dân gian Việt Nam (tập 1), 1991, ðỗ Bình Trị, Nxb Giáo dục;
Văn học dân gian Việt Nam, 1962, ðinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên,
Nxb Giáo dục;
Văn học dân gian Việt Nam, 1999, Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn,
Nguyễn Hùng Vĩ, Nxb ðại học Quốc gia Hà Nội;
Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, 2009, Trần Hoàng (ðại học
Huế, Trung tâm giáo dục từ xa), Nxb ðại học Sư phạm;
Giáo trình văn học dân gian Việt Nam (cho sinh viên Việt Nam học),
2008, Nguyễn Bích Hà, Nxb ðại học Sư phạm;
Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, 2009, Phạm Thu Yến (Trung
tâm giáo dục từ xa), Nxb ðại học Sư phạm;
Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, 1976, Cao Huy ðỉnh,
Nxb Khoa học Xã hội.
Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủ
y
(Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội)
25
Với cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (tập 1), 1991, ðỗ Bình
Trị, Nxb Giáo dục, tác giả chỉ ra ñặc trưng của văn học dân gian ở 3 khía cạnh
giáo trình xét văn học dân gian ở hai ñặc trưng là tính tập thể và tính truyền
miệng. Hai ñặc trưng này thể hiện rõ trong sáng tác, diễn xướng và truyền bá.
Như vậy, trong công trình này, tác giả nhắc ñến diễn xướng như một khâu tồn
tại của văn học dân gian ñặt trong cả chuỗi sáng tác, diễn xướng, truyền bá.
Trong Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, 1976, Cao Huy
ðỉnh, Nxb Khoa học Xã hội, nhà nghiên cứu không chủ trương chỉ ra ñặc
trưng của văn học dân gian. Ông chỉ phân biệt văn học dân gian và văn học
viết qua hai ñiểm khác biệt:
- Văn học dân gian là một thứ văn học gắn liền với những hoạt ñộng thực
tiễn và trình diễn nghệ thuật ngay trong môi trường sống tự nhiên hằng ngày
của quần chúng.
- Văn học dân gian ñược bảo tồn và lưu truyền qua trí nhớ, miệng kể, lời
hát của nhân dân ở nhiều nơi, nhiều thời, nên rất linh hoạt, có nhiều biến
dạng, nhiều dị bản.
Như vậy, ngay ñiểm phân biệt ñầu tiên, tác giả ñã trực tiếp nói ñến sự
tồn tại trong trạng thái ñộng của văn học dân gian. Tuy nhiên nếu xét các ñặc
ñiểm về diễn xướng như ñã nó ở phần trên, thì trạng thái ñộng ở ñây chưa
ñược coi là diễn xướng (ñược lên lịch, có kịch bản, có giới hạn về thời gian,
không gian).
Trên ñây là một số giáo trình văn học dân gian Việt Nam tiêu biểu.
Ngoài ra, người nghiên cứu cũng khảo sát thêm một số giáo trình mới xuất
bản ñể tìm hiểu và so sánh việc xác ñịnh ñặc trưng của văn học dân gian. Có
nhiều hướng ñi và cách tiếp cận khác nhau, thậm chí cách dùng từ khác nhau
nhưng nghĩa nội hàm lại có sự gặp gỡ. Nhưng tựu chung lại, có thể thấy:
- Về ñịnh nghĩa: các giáo trình ñều thống nhất văn học dân gian là một
bộ phận của văn học dân tộc, là sáng tác nghệ thuật ngôn từ của dân gian,
nằm trong tổng thể văn hóa dân gian.