BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC …………
Họ và tên người viết
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CUỐI KHÓA
KHÓA HỌC BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
ĐỀ TÀI:
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Địa phương, tháng 3 năm 2015
1
MỤC LỤC
(Bạn có thể thay đổi - thêm bớt nên số trang thay đổi)
PHẦN I. MỞ ĐẦU
Trang 3
1. Lý do chọn đề tài
4
2
3
4
5
PHẦN II. NỘI DUNG
1
2
3
4
PHẦN III. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
2. KIẾN NGHỊ
PHỤ LỤC
2
TIỂU LUẬN
dục là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu
dài nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010. Chỉ
thị đã nêu rõ mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục
đảm bảo đủ số lượng, nâng cao chất lượng, cân đối về cơ cấu, đạt chuẩn đáp
ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới.
Kinh nghiệm đúc kết từ ngàn đời xưa của của ông cha ta đã từng
nói:"Không thầy đố mày làm nên" đó cũng là lời khẳng định vị trí, vai trò quyết
định của người thầy trong công tác giáo dục. Bậc Tiểu học là cấp học nền tảng
có tính chất quyết định trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đội ngũ giáo viên
Tiểu học là lực lượng quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục, đảm bảo mọi
thành công của chủ trương đổi mới giáo dục, đồng thời là người trực tiếp thực
hiện mục tiêu của giáo dục Tiểu học, là người tạo nên uy tín, chất lượng và hiệu
quả của nhà trường. Mỗi trường học muốn phát triển trước hết phải có đội ngũ
giáo viên giỏi. Đây là nguồn lực quý báu và có vai trò quyết định chất lượng
giáo dục trong nhà trường.
Như vậy, giáo dục và đào tạo là chìa khoá mở cửa để tiến vào tương lai.
Để đào tạo nên con người mới “ vừa hồng vừa chuyên” đáp ứng yêu cầu đào
của xã hội, đòi hỏi người làm công tác quản lý nhà trường phải luôn trăn trở để
tìm biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của nhà trường, nhằm đáp
ứng mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Cụ thể là đội ngũ giáo
viên phải chuẩn hoá về trình độ đào tạo, có tư tưởng và lập trường chính trị
vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có lương tâm nghề nghiệp, giỏi về
chuyên môn và luôn năng động sáng tạo. Vì vậy ta có thể khẳng định : việc
quản lý nâng cao chất lượng độ ngũ giáo viên là một việc làm cực kỳ quan
4
trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong trường tiểu học nói
chung và trường tiểu học huyện tỉnh nói riêng.
Đội ngũ trong trường tiểu học là nguồn nhân lực của nhà trường bao
gồm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên, nhân viên trong trường.Trường
Tiểu học XXX là một trường thuộc huyện XXX nằm ở phía Bắc của tỉnh
5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, của Bộ Giáo dục
Đào tạo về quá trình dạy học của trường Tiểu học.
Các tài liệu sư phạm có liên quan đến dạy học và quản lý dạy học.
5.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp quan sát.
Phương pháp đàm thoại.
Nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
Tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục.
5.3. Nhóm các phương pháp hỗ trợ:
Phương pháp thống kê toán học
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUẢN LÝ NÂNG CAO
CHẤTLƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1 Cơ sở lý luận
Giáo viên Tiểu học là nhân tố quan trọng trong việc xây dựng bậc Tiểu
học trở thành bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, tạo điều kiện
cơ bản để nâng cao dân trí và trang bị những cơ sở ban đầu hết sức trọng yếu để
phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam tương lai. Luật giáo dục đã
ghi rõ: "Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu
6
cho sự phát triển lâu dài và đúng đắn về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và
các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở"
Lao động sư phạm của người giáo viên là lao động đặc biệt , hết sức
phức tạp và tinh tế, đầy khó khăn và có một sứ mạng hết sức nặng nề là đào tạo
thế hệ tương lai cho đất nước. Nó vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ
thuật và tính nhân đạo cao. Sản phẩm lao động của người giáo viên là những
con người toàn diện. Đặc biệt những sản phẩm đó không được phép có "phế
phẩm". Bác Hồ đã dạy rằng: "Nghề dạy học trước hết phải đem cả con người
và cuộc đời mình ra dạy sau đó mới dùng lời dể dạy". Nghĩa là người thầy giáo
nghiệp trong thời kì mới. Nếu cả một tập thể giáo viên đều có đủ những yếu tố
nói trên thì sẽ phát huy được hết sức mạnh tiềm năng, trí tuệ, sức mạnh tổng
hợp và chắc chắn chất lượng giáo dục sẽ được nâng lên, do đó công tác quản lý
bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong trường Tiểu học cần phải đặt lên hàng đầu.
1.2. Cơ sở pháp lý
Tháng 6 năm 2004 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 40
về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo
dục. Chỉ thị nêu rõ xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục là một
nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài.
Tháng 5 năm 2007 Bộ Giáo dục Đào tạo đã ban hành chuẩn nghề nghiệp
giáo viên Tiểu học thể hiện ở ba lĩnh vực: Phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính
trị, kiến thực và kỹ năng sư phạm.
Ngày 20/6/2007 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh XXX khoá XIV đã ra
Nghị quyết số 07-NQ/TU về việc phát triển nâng cao chất lượng Giáo dục Đào
tạo tỉnh XXX đến 2010.
Điều 15 chương I Luật Giáo dục quy định: "Nhà giáo giữ vai trò quyết
định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học
tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học".
Điều 16 chương I Luật Giáo dục quy định vai trò trách nhiệm của cán bộ
quản lý giáo dục: "Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ
chức quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục".
8
Từ những cơ sở pháp lý trên, ta có thể khẳng định rằng việc quản lý
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học để đáp ứng yêu cầu mục
tiêu giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
là việc làm hết sức cần thiết, phù hợp với chủ trương đường lối của ngành nói
riêng , của Đảng và nhà nước nói chung .
1.3.Cơ sở thực tiễn
Theo con số thống kê của Bộ Giáo dục, hiện nay số lượng giáo viên Tiểu
học chiếm hơn 50% giáo viên các cấp. Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ về số lượng
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC XXX
HUYỆN XXX - TỈNH XXX.
2.1. Đặc điểm chung của trường Tiểu học XXX - huyện XXX - tỉnh XXX.
2.1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội của địa phương:
- Về vị trí địa lí:
XXX là một xã nằm ở phía đông huyện lỵ XXX.
- Diên tích tự nhiên là 3.614 ha, trong đó đất nông nghiệp: 258,03 ha;
diện tích đất trồng rừng là: 2.415 ha; còn lại là các loại đất khác.
- Dân cư: Có 1.055 hộ với 4.758 khẩu, có 09 dân tộc sống đan xen /13
thôn bản. Trong đó dân tộc Tày chiếm 87,9%.
* Những thuận lợi ảnh hưởng đến công tác giáo dục:
- Là một xã cách trung tâm huyện 5 km, giao thông đi lại khá thuận tiện,
đất đai, nhân lực chưa khai thác còn dồi dào.
- Công tác văn hoá-xã hội khá phát triển, trình độ dân trí tương đối đồng
đều. Năm 1995 xã XXX đạt chuẩn quốc gia về phổ cấp tiểu học chống mù chữ,
năm 2001 đạt chuẩn quốc gia về phổ cập THCS và đến tháng 11 năm 2003 đạt
10
chuẩn về phổ cập tiểu học đúng độ tuổi. Hiện nay xã vẫn duytrì và phát huy kết
quả đã đạt được. Toàn xã có 03 trường: 01 trường mầm non, 01 trường tiểu
học, 01 trường THCS.
- Các tổ chức xã hội, Hội cha mẹ học sinh đã có sự quan tâm đến công
tác giáo dục.
- Đời sống kinh tế của từng hộ dân đã dần được ổn định là điều kiện
tương đối tốt để học sinh đến tuổi được học tập.
- Hệ thống trường lớp được mở đến tận thôn bản theo hướng "trường
gần dân, quy mô nhỏ" tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến trường. Cơ sở
hạ tầng: Điện, đường, trường, trạm được Nhà nước đầu tư. Vì vậy mặt bằng
nông thôn đã thay đổi rất nhiều trong những năm gần đây , nhất là việc tăng
cường cơ sở vật chất cho nhà trường góp phần nâng cao chất lượng dạy và
học.
+ Giáo viên dạy ngoại ngữ: 01
+ Hành chính, kế toán: 02
- Trình độ đào tạo: 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn .
Trong đó trình độ đạt trên chuẩn: 07 chiếm 23,3%
Trình độ chuyên môn năm học 2007-2008:Tổng số CB QL,GV : 30
Giỏi: 12 = 40 %
Khá: 10 = 33,3 %
Trung bình : 08 = 26,7 %
Yếu: 0
* Chất lượng hai mặt giáo dục của học sinh năm học 2007 - 2008
12
- Hạnh kiểm:
+ Thực hiện đầy đủ 4 nhiệm vụ học sinh : 300 /312 =
96,2%
+ Thực hiện chưa đầy đủ 4 nhiệm vụ học sinh : 12/ 312 = 3,8%
- Học lực:
+ Giỏi : 44/312 = 14,1 %
+ Khá : 136/312 = 43,6 %
+ Trung bình : 130/312 = 41,7 %
+ Yếu : 2/312 = 0, 6 %
* Những thuận lợi về đặc điểm của nhà trường:
- Trường có đủ phòng học phục vụ cho việc học một ca.
- Có 01 lớp/ 25 học sinh học chương trình 2 buổi ngày.
- Có sự đầu tư bằng nguồn vốn của các dự án hỗ trợ cho việc xây dựng
cơ sở vật chất (phòng học) cho nhà trường.
- Có tập thể giáo viên đoàn kết nhất trí , có đội ngũ tổ trưởng chuyên
môn giàu kinh nghiệm là bộ phận chân rết đắc lực cho cán bộ quản lý.
- Trường liên tục đạt đơn vị trường tiên tiến, có nề nếp, có kỷ cương .
- Có sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn
thể và hội cha mẹ học sinh tạo điều kiện cho học sinh được học tập ở gia đình,
mũi nhọn về công tác giáo viên giỏi, học sinh giỏi . (Năm học 2007-2008 có 05
đồng chí đạt danh hiệu CSTĐ cấp cơ sở ; 04 HS đạt HS giỏi và 05 HS đạt giải
chữ viết đẹp cấp tỉnh.)
- Trong năm học vừa qua chất lượng đội ngũ và chất lượng học sinh
bước đầu có chuyển biến , mặc dù chưa mạnh song sự chuyển biến đó là dấu
hiệu đáng mừng vì đó là sự chuyển biển về mặt nhận thức của giáo viên.Mọi
người đã có ý thức trách nhiệm, biết lo lắng cho công việc , ý thức của mỗi cá
nhân được nâng lên rõ rệt (tự giác lên lớp để phụ đạo, bồi dưỡng học sinh yếu
14
của lớp mình 2buổi / tuần, quan tâm xây dựng nề nếp lớp học, phấn đấu cuối
năm lớp chủ nhiệm đạt danh hiệu lớp tiên tiến, tiên tiến xuất sắc; môn phụ trách
phải có học sinh giỏi và không có học sinh yếu.
- Chất lượng thay sách giáo khoa và đổi mới giáo dục đã ổn định, nhà
trường đã chú ý đến đào tạo kiến thức, kỹ năng cơ bản cho học sinh. Phương
pháp giảng dạy theo hướng đổi mới được lấy làm chủ đề cho các buổi sinh
hoạt chuyên môn và đã có những hiệu quả nhất định.
- Với phương châm “Rèn nét chữ- rèn nết người”, phong trào rèn luyên
chữ viết trong giáo viên bắt đầu có sự chuyển biến mạnh. Nhà trường đã gắn
đánh giá chữ viết của giáo viên vào việc xếp loại hồ sơ chuyên môn. Nhiều
giáo viên đã thực sự nỗ nực và đã đạt thành tích cao trong các kì thi viết chữ
đẹp các cấp.
* Khó khăn :
- Sự chuyển biến về nhận thức, về nhiệm vụ chính trị, xã hội của một số
ít giáo viên chưa mạnh mẽ, chưa theo kịp nhiệm vụ của ngành đề ra .
- Trong giảng dạy còn dập khuôn sách giáo khoa và sách giáo viên ,
chưa tích hợp kiến thức liên quan đến các phân môn, chưa có tính thực tế và
tính thời sự. Việc mở rộng kiến thức cho học sinh cón hạn chế. Kiến thức kỹ
năng của học sinh chưa đạt được mục tiêu đào tạo.
- Chất lượng học sinh chuyển biến chưa nhiều, tỉ lệ học sinh giỏi còn ít,
( năm học 2007-2008 Cấp tỉnh đạt 04/312 = 1,3 %, Cấp trường 42/312 =13,5%
cứ vào nội dung, kế hoạch giáo dục và thực trạng đội ngũ giáo viên trong nhà
trường.
Trước khi vào năm học mới, hiệu trưởng xây dựng bản quy hoạch nhân
sự, sau đó trình phòng giáo dục xem xét, giải quyết.
16
Nhờ biện pháp quy hoạch nhân sự như trên mà đội ngũ giáo viên của
trường Tiểu học XXX đã dần ổn định, đáp ứng được số lượng và cơ cấu.
3.2. Tuyển chọn bổ sung nhân sự
Tuyển chọn bổ sung nhân sự nhằm đảm bảo đủ số lượng giáo viên, nhân
viên như bản quy hoạch đề ra. Việc tuyển chọn, bổ sung nhân sự phải tuân thủ
theo các nguyên tắc sau:
- Xuất phát từ nhu cầu thực tế của nhà trường.
- Căn cứ vào tiêu chuẩn giáo viên, nhân viên theo quy định.
- Dựa vào kết quả nghiên cứu thận trọng và toàn diện.
Trong năm học qua nhà trường đã đề nghị Phòng Giáo dục Đào tạo bổ
sung giáo viên cho đủ cơ cấu giáo viên dạy các môn chuyên biệt như: Anh văn,
Âm nhạc, Mĩ thuật và đã được đáp ứng, đảm bảo đội ngũ giáo viên đủ về cơ
cấu và số lượng.
3.3. Phân công bố trí giáo viên
Phân công bố trí giáo viên là quyền hạn và trách nhiệm của Hiệu trưởng.
Đó là việc phân công giáo viên phụ trách các lớp trong trường. Nếu phân công
hợp lý sẽ phát huy tối đa tiềm năng của giáo viên. Ngược lại phân công bố trí
không hợp lý sẽ làm giảm chất lượng công việc cá nhân, ảnh hưởng đến chất
lượng giáo dục chung của nhà trường.Do vậy cần bố trí đúng người đúng việc ,
ưu tiên cho lớp 1- lớp đầu cấp , nền tảng của cấp học.
Để nâng cao chất lượng dạy học, cần thiết phải có bộ máy chuyên môn-
bộ phận chân rết của nhà trường vận hành đồng bộ, thông suốt nhất quán , hiệu
quả,cùng hướng tới mục tiêu chung.
Việc phân công, sắp xếp bộ máy đòi hỏi thể hiện tính dân chủ và tinh
thần trách nhiệm cao. Khi phân công bố trí cần đảm bảo các yêu cầu:
học, Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục.
18
- Đảm bảo tính tích cực chủ động, sáng tạo của giáo viên trong việc bồi
dưỡng và tự bồi dưỡng.
- Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa yêu cầu trước mắt và yêu cầu lâu
dài ,đó là sự đảm bảo vững chắc cho tương lai của từng giáo viên nói riêng và
cả đội ngũ của trường nói chung.
- Đảm bảo vai trò quản lý và ý thức trách nhiệm của người quản lý trong
công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên.
3.4.2. Nội dung và biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng:
- Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức tư tưởng chính trị, lòng nhân ái.
+ Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức tư tưởng chính trị nhằm nâng cao nhận
thức về thế giới quan, nhân sinh quan của người giáo viên trong nhà trường.
Những nhận thức đó tạo nên sức mạnh, niềm tin và lý tưởng của từng giáo viên
từ đó giáo viên nhận thức rõ vị trí vai trò trách nhiệm của mình đối với việc
giáo dục trẻ em lứa tuổi Tiểu học trên địa bàn xã XXX cũng như trẻ em của
đất nước.
+ Lòng nhân ái tình yêu thương con người là cái gốc của đạo lý làm
người. Với người giáo viên thì tình yêu thương ấy là cốt lõi, là cội nguồn sâu xa
vì lý tưởng nhân văn, là đặc trưng cơ bản của giáo dục. Tình yêu thương trẻ em
là điểm xuất phát của mọi sự sáng tạo sư phạm và làm cho giáo viên có trách
nhiệm với sứ mạng cao cả của mình. Đối với đội ngũ giáo viên trường tiểu học
XXX , lòng yêu nghề, sự kiên trì bền bỉ và ý chí khắc phục khó khăn trong việc
học tập rèn luyện, toàn tâm toàn ý với sự nghiệp giáo dục luôn được coi là biểu
hiện của đạo đức cách mạng và lý tưởng nghề nghiệp. Những phẩm chất trên
không chỉ hình thành trong quá trình đào tạo của trường sư phạm mà là kết quả
của một quá trình học tập, rèn luyện, tự bồi dưỡng, tự hoàn thiện trong suốt
cuộc đời.
Các biện pháp thực hiện nội dung bồi dưỡng trên là:
Tổ chức cho 100% giáo viên tham gia học tập nghị quyết của Đảng các
tiểu học vừa phải tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục theo chương trình
20
giáo dục của Bộ, vừa phải tích cực chủ động, sáng tạo trong điều kiện hoàn
cảnh cụ thể của trường mình.
Bồi dưỡng các kỹ năng sư phạm cụ thể là: Kỹ năng lập kế hoạch dạy
học, kỹ năng dạy học trên lớp, kỹ năng tổ chức quản lý giáo dục học sinh, kỹ
năng kiểm tra đánh giá, kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp , kỹ năng sử dụng đồ dùng , thiết bị dạy học hiện đại…
-Bồi dưỡng kiến thức bổ trợ
Các kiến thức khoa học mới như : khoa học, tin học, kiến thứcc về xã hội, các
thông tin kinh tế,…là những kiến thức tuy không phải là kiến thức bắt buộc
phải có đối với đội ngũ giáo viên ở bậc Tiểu học nhưng nó lại đóng vai trò như
một công cụ rất hữu ích cho công tác giảng dạy và mở rộng kiến thức thực
tiễn của giáo viên, nó chính là sự đón đầu cho việc hình thành tố chất khoa học
– logic cho học sinh ở bậc học tiếp theo.Vì thế nhà trường phải luôn coi trọng
việc bồi dưỡng kiến thức bổ trợ cho đội ngũ giáo viên của đơn vị mình.
Các hình thức bồi dưỡng:
+ Tự bồi dưỡng.
Có thể coi việc tự bồi dưỡng thường xuyên của mỗi giáo viên là biện
pháp có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao năng lực chuyên môn của họ.
Lãnh đạo nhà trường cần khuyến khích giáo viên chủ động bố trí thời gian dự
giờ tham khảo, học tập kinh nghiệm của các giáo viên có năng lực chuyên môn
tại trường cũng như các đơn vị trường bạn. Hàng năm nhà trường trang bị cho
giáo viên sổ tự bồi dưỡng, sổ dự giờ, sổ ghi chép Đồng thời mua sắm thêm
tài liệu, sách tham khảo, khuyến khích giáo viên sưu tầm, mua thêm sách tham
khảo về cho trường, trường sẽ hoàn lại kinh phí. Giáo viên tự học qua sách
tham khảo, báo chí, ghi chép những kiến thức mình thấy có ích và cần thiết cho
bản thân, các bài giải đề thi học sinh giỏi vào sổ tự bồi dưỡng để làm cầm
nang cho chính mình. Cuối mỗi học kỳ, nhà trường tiến hành kiểm tra kết quả
tự bồi dưỡng của mỗi giáo viên và đánh giá, coi đây là một tiêu chí để bình xét
Ngoài ra nhà trường còn rất coi trọng xây dựng đội ngũ giáo viên cốt
cán, tổ chức cho giáo viên đi học tập kinh nghiệm giảng dạy ở các trường bạn,
22
tạo điều kiện về kinh phí động viên giáo viên tham gia thi giáo viên giỏi, thi sử
dụng đồ dùng dạy học cấp huyện, cấp tỉnh, bồi dưỡng học sinh giỏi Với cách
làm này mấy năm qua một số giáo viên mới ra trường thực sự trưởng thành,
chất lượng đội ngũ giáo viên được nâng lên rõ rệt.
3.5. Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá.
Thực hiện theo yêu cầu của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học, Ban
giám hiệu nhà trường và các tổ khối trưởng thường xuyên kiểm tra đánh giá
phẩm chất, kiến thức và kỹ năng của giáo viên theo từng tiêu chí, đúng quy
định . Đánh giá khách quan, đúng thực chất, có những điều chỉnh động viên
hoặc phê bình kịp thời đối với tổ chuyên môn hoặc cá nhân không thực hiện
nghiêm túc quy chế chuyên môn hoặc không thực hiện đủ nội dung bồi dưỡng
giáo viên. Trong năm học 2007-2008, 100% giáo viên được thanh tra, trong đó
20 % thanh tra chuyên đề, 80% thanh tra toàn diện. Từ đầu năm học 2008-2009
đến nay số lần kiểm tra hoạt động sư phạm giáo viên ( dự giờ, kiểm tra hồ sơ
chuyên môn) của hiệu trưởng và các tổ trưởng chuyên môn là 93 lượt/30 người.
Thực hiện đúng tinh thần của cuộc vận động "Hai không" , không bao
che dung túng , không thiên vị tình cảm khi đánh giá.
3.6. Động viên kích thích vật chất , tinh thần cho giáo viên.
3.6.1. Bảo đảm mọi chế độ chính sách.
Hiệu trưởng nhà trường cần thực hiện đầy đủ chế độ chính sách đối với
giáo viên, nhân viên trong trường theo các văn bản nhà nước đã ban hành: chế
độ lương phụ cấp, chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, được tạo điều kiện để
hoàn thành tốt nhiệm vụ, được tạo cơ hội để phát huy tối đa tài năng sáng tạo
của mình. Như vậy, hiệu trưởng vừa đảm bảo cho giáo viên được hưởng những
quyền lợi chính đáng đồng thời vừa giáo dục họ thấy rõ bổn phận và trách
nhiệm trước tập thể nhà trường và toàn xã hội.
3.6.2. Tổ chức tốt các phong trào thi đua.
Mối quan hệ nhân ái là chìa khoá dẫn tới thành công của tập thể.Trong
tập thể, mỗi thành viên sống trong hệ thống quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, mỗi cá
24
nhân cần có mục tiêu phù hợp với mục tiêu của mọi người, của tập thể. Sự kết
hợp hài hoà giữa mục tiêu chung và mục tiêu riêng là bản chất của tập thể chân
chính trong xã hội ta ngày nay.
Trong tập thể sư phạm có hai mối quan hệ cơ bản đó là mối quan hệ giữa
cán bộ lãnh đạo với các thành viên và quan hệ giữa các thành viên với nhau.
Để có mối quan hệ tốt đẹp giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo thì cán
bộ lãnh đạo phải tin tưởng tôn trọng và có trách nhiệm giúp đỡ, tạo cơ hội tốt nhất
cho cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ. Cán bộ lãnh đạo phải là chỗ dựa vững chắc
cho cấp dưới về chuyên môn nghiệp vụ cũng như tinh thần. Đồng thời mỗi giáo
viên cần phải tự giác chấp hành sự phân công, phân nhiệm của cấp trên, sẵn sàng
góp ý với cán bộ lãnh đạo trên tinh thần thiện chí và xây dựng.
Giữa các giáo viên trong tập thể cần có mối quan hệ bình đẳng, phối
hợp, khoan dung, độ lượng với nhau để tập thể sư phạm trở thành tổ ấm gia
đình thứ hai, nơi mọi người có thể chia sẻ niềm vui, nỗi buồn.
Tổ chức tốt hoạt động nhân ngày 20/11, toạ đàm giữa giáo viên, cán bộ
quản lý với giáo viên đã nghỉ hưu nhằm ôn lại truyền thống nhà trường, trao đổi
kinh nghiệm, tâm sự Qua đó thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường
đối với giáo viên đang công tác cũng như đã nghỉ hưu, từ đó nâng cao tình thân
ái, gắn bó, ý thức trách nhiệm, cùng nhau xây dựng nhà trường.
- Chủ động giải quyết các mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ.
Trong quá trình sống và hoạt động cùng nhau, tập thể sư phạm khó tránh
khỏi những bất đồng. Khi có biểu hiện của sự mâu thuẫn, Hiệu trưởng phải chủ
động xử lý kịp thời. Khi xử lý, giải quyết cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn
khác nhau, tìm hiểu đúng nguyên nhân, bản chất của sự việc. Sau đó tùy từng
mức độ và phạm vi mâu thuẫn, Hiệu trưởng phối hợp với các cá nhân và tổ
chức để giải quyết một cách tế nhị, giúp giáo viên hiểu rõ, nhận ra cái đúng, cái
sai và có định hướng sửa chữa. Kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn phải là