PHỤ LỤC
A) TÍNH MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI……………………………… …………… …Trang 2
B) NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
I)Thuận lợi:…………………………………………………………………………Trang 2
II)Khó khăn:…………………………….………………………………………….Trang 3
C) TÍNH KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI:
I) Thực trạng của vấn đề:…………………… …………………………… Trang 3
II) Các biện pháp tiến hành giải quyết vấn đề:
1) Tìm hiểu, phân tích nguyên nhân vì sao học sinh chưa tự tin trình bày nội dung của bài
học theo cách riêng của mình và sự “MAU QUÊN”.
a) Khảo sát sự tự tin của học sinh trong việc tự mình hệ thống lại các kiến thức của bài,
của chương………………………………………………… ………… Trang 4
b) Kiểm tra lại cách truyền đạt nội dung kiến thức và phương pháp sử dụng bản đố tư
duy trong bài học…………………………………………………….…… Trang 5
2) Biện pháp thực hiện để phát huy tốt hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng
dạy Trang 8
III) Kết quả đạt được của sáng kiến kinh nghiệm: Trang 14
D. TÍNH THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
1) Tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm thông qua thực tiễn áp dụn Trang 15
2) Phạm vi tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm ………… Trang 16
3) Những bài học kinh nghệm: ………… Trang 16
E: KẾT LUẬN:……………………………………………………………………… Trang 17
Phụ chú: Các cụm từ viết tắt
+ Học sinh (HS)
+ Ví dụ (VD)
+ Phương pháp dạy học (PPDH)
+ Trung bình (TB)
Trang 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC
LÝ THUYẾT CHƯƠNG I HÌNH HỌC 8 ”
- Đề tài này được nghiên cứu đối với học sinh lớp 8A4, 8A5 năm học
2013-2014 và học sinh lớp 8A3 năm học 2014-2015 của Trường THCS Tấn Mỹ.
- Điểm mới của đề tài này được thể hiện như sau:
+ Thứ I: Giúp học sinh củng cố kiến thức của bài học nhanh hơn,
hiệu quả hơn và nhớ lâu hơn.
+ Thứ II: Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học.
+ Thứ III: Phát huy hơn nữa việc đổi mới phương pháp dạy học.
B) NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
I) Thuận lợi:
- Được sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn, các
đồng nghiệp trong tổ.
- Sĩ số các lớp nghiên cứu thực hiện đề tài khá lý tưởng (khoảng 35 học sinh)
- Trang thiết bị dạy học khá đầy đủ
- Bản thân và giáo viên trong tổ có kinh nghiệm, tương đối thành thạo trong
việc sử dụng công nghệ thông tin.
II) Khó khăn:
- Một số học sinh chưa được tiếp xúc nhiều trong việc học có ứng dụng công
nghệ thông tin nên đa phần việc ghi chép không đạt yêu cầu.
- Chất lượng học sinh không đồng đều, việc tự học, tự nghiên cứu trước ở nhà
còn hạn chế.
- Một số học sinh bị mất căn bản, chán học, ham chơi, đến trường chỉ mang
tính chất đối phó với gia đình
- Các khó khăn trên phần nào gây ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu đề tài,
kết quả chưa được sát với thực tế.
C) TÍNH KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI:
Trang 3
I) Thực trạng của vấn đề:
- Nhìn chung học sinh ở đơn vị tôi công tác đa số ngoan, có cố gắng học.
Tuy nhiên học sinh chưa biết cách tự mình hệ thống lại các kiến thức đã học, việc này
cũng do giáo viên chưa mạnh dạng để học sinh tự thực hiện do áp lực về thời gian.
thế, tôi ngày càng tăng cường kết hợp với kinh nghiệm của các đồng nghiệp tìm ra cách
trình bày và truyền thụ mới trong việc sử dụng công nghệ thông tin và sơ đồ tư duy,
nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong giảng dạy. Đồng thời tìm ra các mặt mạnh, mặt
yếu để cùng nhau khắc phục điểm yếu, phát triển mặt mạnh trong phương pháp này.
II) Các biện pháp tiến hành giải quyết vấn đề:
1) Tìm hiểu, phân tích nguyên nhân vì sao học sinh chưa tự tin trình bày nội
dung của bài học theo cách riêng của mình và sự “MAU QUÊN”.
a) Khảo sát sự tự tin của học sinh trong việc tự mình hệ thống lại các kiến
thức của bài, của chương.
Để biết được học sinh của mình có được sự tự tin trong việc lĩnh hội kiến thức và
thể hiện được điều đó theo ý riêng của mình như thế nào chứ không phải bằng cách học
thuộc lòng. Tôi tiến hành một số bài kiểm tra nhỏ sau:
Bài kiểm tra 1 :
Sau khi dạy xong bài hình thang cân ở lớp 8A
4
, tôi cho học sinh làm bài kiểm tra
trong vòng 7 phút với nội dung: “em hãy nêu lại các hiểu biết của em về hình thang
cân”
Kết quả:
33/33 HS phát biểu bằng lời trong đó, không có HS nào viết bằng hệ thức
12/33 HS phát biểu đúng nhưng đa số là còn nói chung chung, và hoàn toàn
bám theo cách trình bày trong sách giáo khoa
16/33 HS phát biểu chưa chính xác
5/33 HS hầu như không viết đúng.
Trang 5
Rút kinh nghiệm ở bài kiểm tra trên khi tôi cho lớp 8A
5
làm bài kiểm tra cũng với
thời gian nêu trên nhưng yêu cầu của đề là “em hãy nêu lại các hiểu biết của em về hình
thang cân bằng hệ thức”
học sinh chỉ có thể thuộc lý thuyết, còn khi chứng minh bài toán thì lại không ghi bằng
lời. Liệu cách hướng dẫn theo cách này có phù hợp với đặc thù của bộ môn hay không?
Ví dụ 2:
Với các suy nghĩ như vậy, khi dạy lớp 8A
5
tôi thử thay đổi cách trình bày
như sau:
Trang 7
Hình bình hành là tứ giác có
các cạnh đối song song
Hình bình hành
Định nghĩa
Tính chất
Các cạnh đối bằng nhau
Các góc đối bằng nhau
Hai đường chéo cắt nhau tại
trung điểm của mỗi đường
Tứ giác có các cạnh
đối song song
Các dấu hiệu nhận biết
Tứ giác có hai đường
chéo cắt nhau tại trung
điểm của mỗi đường
Tứ giác có hai cạnh đối
song song và bằng nhau
Tứ giác có các cạnh
đôi bằng nhau
Tứ giác có các góc đối bằng
nhau
Để so sánh giữa các cách truyền đạt nào tối ưu hơn tôi cũng cho HS làm bài kiểm
điểm của mỗi đường
Tứ giác có hai cạnh đối
song song và bằng nhau
Tứ giác có các cạnh
đôi bằng nhau
Tứ giác có các góc đối bằng
nhau
A
D
O
B
C
dám làm. Đa số cho rằng vì tôi không trình bày theo thứ tự các tính chất, dấu hiệu nhận
biết như sách giáo khoa nên các em khó nhớ.
Kết quả:
Lớp 8a
5
có
12/32 HS làm bài chính xác
5/32 HS làm chưa đạt yêu cầu
Số HS còn lại làm bài chưa hoàn chỉnh và cũng đưa ra các lí do tương tự
như ở lớp 8A
4
đa số các em cho rằng mất nhiều thời gian trong việc kẻ khung.
Rõ ràng với cách truyền đạt như vậy tôi cũng không thực hiện được mục tiêu do
mình đưa ra. Kết quả HS làm bài tốt chưa cao, không khả quan lắm so với cách truyền
đạt trước đó. HS cũng chưa phát huy được tính sáng tạo của mình, thay vì các em chép
lại nội dung trong sách thì các em chép lại, vẽ lại những gì tôi đã cho các em ghi trước
đó, và các em cũng lại “mau quên”.
Tại sao khi tôi sử dụng sơ đồ tư duy vào bài dạy của mình lại không có hiệu quả
biết thông qua sơ bản đồ tư duy như sau:
Trang 11
C
Ví dụ 2: Sơ đồ tư duy thực hiện cuối bài hình thoi
Trang 12
Ví dụ 3: Sơ đồ tư duy thực hiện ở cuối bài hình vuông
Trang 13
Qua các ví dụ trên tôi vừa dùng lời để thể hiện (VD2), vừa dùng hình ảnh, hệ thức
(VD1, VD3) để thể hiện lên sơ đồ tư duy thông qua công nghệ thông tin, trong đó việc
sử dụng màu sắc là không thể thiếu. Nhưng theo khảo sát và kinh nghiệm cho thấy rằng
cách thể hiện như VD1, VD3 học sinh nhanh tiếp thu hơn, nhớ bài lâu hơn. Thực tế cho
thấy việc dùng bản đồ tư duy rất thích hợp cho việc ôn tập lí thuyết của chương
Ví dụ: Sơ đồ tư duy ôn tập chương I hình học 8 như sau:
Trang 14
Ngoài ra sơ đồ tư duy vẫn áp dụng tốt đối với một số bài đại số 8
Ví dụ: Bài phương trình chứa ẩn ở mẫu, ta cho HS nắm các bước giải phương
trình chứa ẩn ở mẫu qua sơ đồ tư duy như sau:
Tuy nhiên do giới hạn đề tài tôi không trình bày các ví dụ ở đại số 8
III) Kết quả đạt được của sáng kiến kinh nghiệm:
Sau một thời gian sử dụng công nghệ thông tin và sơ đồ tư duy vào trong giảng
dạy tôi thấy đạt được một số kết quả nhất định sau:
- Học sinh phát huy được tính tích cực, sáng tạo, tư duy hơn trong học tập
- Các em có được sự tự tin, khả năng trình bày ý kiến theo nhận định riêng của
bản thân.
- Tự mình có thể hệ thống lại các kiến thức đã học trong bài, trong chương qua
một bức tranh tổng thể là sơ đồ tư duy.
- Học sinh nhớ bài lâu hơn, thông qua việc tự mình thực hiện, tham gia vẽ sơ đồ
tư duy.
- Nhờ hình ảnh, màu sắc, đường nét, cấu tạo hợp lí của sơ đồ tư duy các em dễ
nhận biết được trọng tâm chính của bài, từ đó khắc sâu được kiến thức hơn.
thoi thúc việc đi tìm cách khắc phục. Từ nhiều lần đúc kết kinh nghiệm tìm ra một số
phương pháp thực hiện như nêu trong đề tài này, giúp bản thân có nhiều thuận lợi khi áp
dụng vào thực tế dạy học.
b) Với đồng nghiệp:
+ Từ những tồn tại chung của các giáo viên trong tổ thông qua dự giờ, bản thân
đi sâu nghiêng cứu lí luận dạy học. Sau đó triển khai áp dụng, từng bước rút kinh
nghiệm, nhân rộng dần ra qua các lần thao giảng, tiếp tục đúc kết thành hệ thống các
biện pháp có hiệu quả. Vẫn còn vài chỗ chưa ổn, hướng tới tăng cường giao lưu học hỏi
để tiếp tục rút kinh nghiệm. Đề tài giúp tổ chuyên môn hoàn thiện dần năng lực chuyên
môn của một số giáo viên.
c) Với học sinh:
+ Giúp học sinh không thích thú học môn hình học thành học sinh biết cách
chủ động nhiều hơn trong học tập và cảm thấy thích môn hình học.
+ Giúp học sinh phát huy được tính tích cực, sáng tạo, tư duy hơn trong học
tập.
Trang 16
d) Với nhà trường:
+ Việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm chính là thực hiện đổi mới phương pháp
dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Mặt khác làm giảm
tình trạng bỏ học giữa chừng, giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém.
2) Phạm vi tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm
+ Phạm vi nghiêng cứu của đề tài là ứng dụng công nghệ thông tin và sơ đồ tư
duy vào dạy học. Nên đề tài này có thể áp dụng triển khai thực hiện ở tổ chuyên môn
thông qua giờ lên lớp cũng có thể áp dụng triển khai cho các môn học khác trong nhà
trường: Hóa, Sinh, Do vậy sáng kiến kinh nghiệm này được áp dụng rộng rãi ở các
môn và đó cũng là một việc đổi mới phương pháp dạy học.
3) Những bài học kinh nghệm:
- Qua sự tìm tòi, nghiên cứu và vận dụng thực tế để có được phương pháp giúp
học sinh khắc sâu kiến thức hình học 8 chương I, đồng thời có được sự tự tin, sáng
tạo… thông qua tiết học có sử dụng công nghệ thông tin và sơ đồ tư duy tôi rút ra được
- Việc thực hiện các tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin và sơ đồ tư duy là
một phương pháp mới thực hiện gần đây. Tuy qua một thời gian thực hiện, tôi rút ra
được một số kinh nghiệm khả quan nêu trên, nhưng tôi thiết nghĩ quá trình thực hiện đó
chưa thể nào phát huy được hết thế mạnh của phương pháp này. Do đó tôi sẽ tiếp tục
thực hiện, nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của các bạn bè đồng nghiệp nhằm phát
huy được hết tác dụng vốn có của sơ đồ tư duy đối với việc truyền thụ kiến thức cho học
sinh.
- Tiếp tục duy trì các cuộc thảo luận chuyên đề về phương pháp dạy học có hiệu
quả cao, để giáo viên các trường trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, nhằm ngày
càng nâng cao chất lượng bộ môn.
- Ban giám hiệu tiếp tục tạo điều kiện cho giáo viên tham gia sinh hoạt các
chuyên đề mang tính mới.
- Phối hợp giữa gia đình, nhà trường động viên, khuyến khích tạo điều kiện cho
học sinh phát huy tính tích cực, sáng tạo …trong học tập.
Trang 18
- Tuy tôi đã có rất nhiều cố gắng nhưng chắc đề tài của tôi không tránh khỏi
những thiếu sót. Tôi trân trọng tất cả những ý kiến phê bình, đóng góp của cấp trên và
đồng nghiệp để đề tài của tôi ngày càng hoàn thiện hơn và có thể áp dụng rộng rãi trong
ngành.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tấn Mỹ, ngày 14 tháng 12 năm 2014
Người viết
Trần Vích Vân
Trang 19