Đánh giá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tranh chấp về đất đai trên địa bàn ba thị trấn của huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên giai đoạn 2011 2013 - Pdf 25

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình học tập
của mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ lượng kiến thức đã học, vận dụng
lý thuyết vào thực tiễn, bước đầu làm quen với những kiến thức khoa học. Qua
đó sinh viên ra trường sẽ hoàn thiện hơn về kiến thức lý luận, phương pháp làm
việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công việc say này.
Được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm và Ban
chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên, em đã tiến hành nghiên cứu đề
tài:“Đánh giá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tranh chấp về đất đai
trên địa bàn ba thị trấn của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2011- 2013”.
Trong suốt quá trình thực tập em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy
cô giáo và anh chị nơi em thực tập tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm, Ban
chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên và đặc biệt là thầy giáo PGS.TS.Nguyễn
Khắc Thái Sơn người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Do trình độ có hạn mặc dù đã rất cố gắng song bản khóa luận tốt nghiệp
của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những
ý kiến chỉ bảo của các thầy cô giáo, ý kiến đóng góp của bạn bè để bài khóa
luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Hoàng Hồng Hạnh
i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT TÊN VIẾT TẮT TÊN ĐẦY ĐỦ
1 HĐND Hội đồng nhân dân
2 NQ/TW Nghị quyết/trung ương
3 NĐ-CP Nghị đinh-chính phủ

đoạn 2011-2013 Error: Reference source not found
Bảng 4.11. Bảng thể hiện kết quả giải quyết tranh chấp về đất đai trên địa bàn
ba thị trấn của các năm 2011- 2013 Error: Reference source not found
iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4. 1 . Biểu đồ thể hiện các vụ khiếu nại trên địa bàn ba thị trấn của
huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2011 - 2013 Error: Reference source not found
Biểu đồ 4.2.Biểu đồ thể hiện các vụ tố cáo trên địa bàn ba thị trấn của huyện
Đồng Hỷ thể hiện theo các năm từ 2011 - 2013 Error: Reference source not
found
Biểu đồ 4.3.Biểu đồ thể hiện kết quả giải quyết tranh chấp về đất đai trên địa
bàn huyện giai đoạn 2011- 2013. Error: Reference source not found
Biểu đồ 4.4. Biểu đồ thể hiện ba loại hình tranh chấp khiếu nại, tố cáo về đất
đai trong giai đoạn 2011 – 2013. Error: Reference source not found
v
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt Vấn Đề.
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng
cho con người đó là món quà vô giá. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là sự
sống là đối tượng lao động độc đáo, đồng thời cũng là môi trường hoạt động
sản xuất, một bộ phận quan trọng của môi trường sống.
Đất đai là điều kiện tiên quyết đối với tất cả các ngành sản xuất và hoạt
động của con người. Đất đai là nơi con người xây dựng nhà cửa và các công
trình khác phục vụ cuộc sống con người, đất đai là nơi xây dựng cơ sở hạ tầng
phục vụ cho sản xuất như để xây dựng nhà xưởng, nhà kho, bố trí máy móc.
Đối với nông nghiệp đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là công cụ lao
động, là nơi con người dùng để trồng trọt, chăn nuôi, cung cấp lương thực
thực phẩm cho cuộc sống của con người. Không những thế đất đai còn là nơi
tàng trữ các loại khóang sản.

luật hình sự; Bộ luật dân sự, Luật đất đai… Đây chính là những cơ sở pháp lý
cần thiết để công dân thực hiện tốt quyền làm chủ và giám sát hoạt động của
các cơ quan nhà nước, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước đồng thời
cũng qua đó phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thể
hiện đúng bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta - Nhà nước của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân. Hiện nay khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai đang có
xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp.Việc
giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, ….tố cáo không được nhiều hoặc có
giải quyết nhưng chưa dứt điểm, còn chậm chưa đủ mạnh, số vụ phát sinh
nhiều, số vụ được giải quyết hiệu quả chưa cao dẫn đến tình trạng khiếu nại,
tố cáo vượt cấp ngày càng tăng và ngày càng gay gắt. Do đó việc giải quyết
2
tranh chấp về đất đai trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội, được nhiều
ngành nhiều cấp quan tâm.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo là một lĩnh vực hết sức quan trọng trong hệ
thống quản lý Nhà nước và điều hành xã hội. Do vậy thực hiện tốt công tác
giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân sẽ cũng cố và tăng niềm tin của nhân
dân vào đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và
thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.Xuất
phát từ vị trí và tầm quan trọng của đất đai, Đảng và Nhà nước ta luôn quan
tâm và đưa ra nhiều chủ trương chích sách pháp luật để quản lý chặt chẽ, khai
thác có hiệu quả quỹ đất. Việc ban hành các quy định pháp luật về đất đai
cũng là cơ sở để thực hiện quyền lực và ý chí của Nhà nước, là căn cứ đảm
bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Đồng hỷ là một huyện miền núi nằm ở phía đồng bắc của tỉnh Thái
Nguyên với 15 xã và 3 thị trấn.Tổng diện tích tự nhiên của Đồng Hỷ là
45475,52 ha. Trong đó việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với ba thị trấn
Chùa Hang, Trại Cau, Sông cầu là nhiều bất cập hơn cả vì giá trị sử dụng
cũng như giá đất cao hơn lên việc xảy ra tranh chấp đất đai về số đơn thư tố
cáo nhiều hơn các xã, cũng như việc bức xúc nhiều hơn. Huyện Đồng Hỷ có

hệ thống pháp luật nhà nước góp phần giữ vững tình hình an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu và phân tích nguyên nhân gây ra việc khiếu nại tố cáo tranh
chấp về đất đai trên địa bàn huyện Đồng Hỷ.
- Tiếp tục nâng cao hơn nữa nhận thức pháp luật về khiếu nại, tố cáo, về quy
chế tiếp công dân đối với toàn thể nhân dân và cán bộ, công chức, viên chức.
- Tìm hiểu nguyên nhân để hạn chế đến mức thấp nhất phát sinh đơn
thư vượt cấp, tái khiếu, tái tố.
- Tìm hiểu, đáng giá tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn
ba thị trấn.
4
1.2.3. Yêu cầu của đề tài
- Các kiến nghị, đề nghị phải có tính khả thi.
- Các số liệu, tài liệu phản ánh chính sách các yếu tố ảnh hưởng tới giải
quyết khiếu nại, tố cáo tranh chấp đất đai.
- Tổng hợp và phân tích được những thuận lợi khó khăn, ưu điểm
khuyết điểm trong quá trình thực hiện công tác đồng thời đề xuất và kiến nghị
một số giải pháp để giải quyết các tranh chấp về đất đai, đảm bảo tính khả thi
và phù hợp với tình hình thực tế địa phương.
- Nắm chắc các quy định về trình tự thủ tục trong công tác giải quyết
tranh chấp đất đai.
1.2.4. Ý nghĩa của đề tài
- Áp dụng kiến thức đã học áp dụng thực tiến nẫng cao, chiều sâu của
kiến thức nghàng học cho bản thân.
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu.
+ Củng cố kiến thức những môn học đã được học trong nhà trường và
áp dụng vào thực tế công việc.
+ Học hỏi được những kinh nghiệm, cách giao tiếp trong quá trình thực
tập tại địa phương.

chính, lập bản đồ hành chính;
3) Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sư dụng đất.
4) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
5) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử
dụng đất;
6
6) Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất;
7) Thống kê, kiểm kê đất đai;
8) Quản lý tài chính về đất đai;
9) Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường
bất động sản;
10) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
11) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về
đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;
12) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi
phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai.
13) Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
- Nghị định 181/2004/NĐ- CP ngày 29/10/2004 về hướng dẫn thi hành
Luật Đất đai 2003 của Chính phủ. (Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25
tháng 12 năm 2001. Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003.
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Nghị định gồm 14
chương, 186 điều).
- Nghị Định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử
phạt viphạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
- Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều
của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004, năm 2005. (Căn cứ vào Hiến pháp nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo
Nghị quyết số 51/2001/QH 10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá

công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này
quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết
8
định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công
chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm
phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Như vậy, Khiếu nại là một hình thức công dân hướng đến các cơ quan
nhà nước hay tổ chức xã hội, tố chức kinh tế, đơn vị vũ trang khi thấy quyết
định hành chính hay hành vi hành chính của họ xâm phạm đến quyền và lợi
ích hợp pháp của mình. Mặt khác, khiếu nại là phương tiện mà nhờ đó cơ
quan nhà nước hay tổ chức, những người có chức vụ kiểm tra được tính hợp
pháp, hợp lý trong các quyết định hành chính, hành vi hành chính do ban hành
hay thực hiện. Về mặt pháp luật, quyền khiếu nại của công dân luôn được ghi
nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của nhà nước ta.
Khiếu nại có thể được thể hiện dưới hình thức văn bản (đơn khiếu nại)
hoặc trình bày trực tiếp.
* Khái niệm Tố cáo:
Khoản 2 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: “Tố cáo là việc công
dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá
nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo vệ và khôi phục quyền
và lợi ích của người tố cáo mà cao hơn thế là bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước vững về chính trị,
giỏi về chuyên môn để “chí công, vô tư” trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ
Nhà nước.
2.1.5. Phân biệt khiếu nại và tố cáo
Khiếu nại và tố cáo đều là các quyền chính trị cơ bản của công dân,
được ghi nhận trong văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như Hiến pháp,

phạm đó có thể tác động trực tiếp hoặc không tác động đến người tố cáo.
- Hai là, về đối tượng của khiếu nại, tố cáo:
Đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính
hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức. Những quyết định và hành vi này
phải tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.
Đối tượng của tố cáo rộng hơn rất nhiều, công dân có quyền tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe
dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức của mình và của người khác. Như vậy, hành vi vi phạm pháp
luật của người bị tố cáo có thể tác động trực tiếp hoặc không ảnh hưởng gì
đến quyền lợi của người tố cáo, nhưng người tố cáo vẫn có quyền tố cáo.
Có thể thấy những quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc
quyết định kỷ luật cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền có biểu hiện trái pháp luật và xâm hại đến quyền và lợi ích của một
hoặc một số người nhưng không ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền
lợi của người biết về quyết định hành chính, hành vi hành chính đó thì cũng
không trở thành đối tượng của khiếu nại mà trong trường hợp này người phát
hiện quyết định hành chính, hành vi hành chính đó là trái pháp luật thì có
quyền tố cáo.
- Bà là, về mục đích của khiếu nại, tố cáo:
Mục đích của khiếu nại là nhằm bảo vệ và khôi phục quyền, lợi ích hợp
pháp của người khiếu nại.
Mục đích của tố cáo không chỉ để bảo vệ quyền và lợi ích của người tố
cáo mà còn để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội và của tập thể, của cá nhân
khác và nhằm trừng trị kịp thời, áp dụng các biện pháp nghiêm khắc để loại
11
trừ những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập
thể, của cá nhân.
- Bốn là, về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người tố cáo:
Người khiếu nại có thể tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác khiếu

không có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của
chính bản thân mình. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo
chỉ có quyền giải quyết những đơn tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm
vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức mà mình quản lý trực tiếp.
- Sáu là về thời hạn giải quyết:
Thời hạn giải quyết khiếu nại: căn cứ vào số lần khiếu nại của người
khiếu nại. Đối với khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý và
45 ngày đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn (vụ việc phức tạp thì thời
hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lư
và không quá 60 ngày, đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn). Thời hạn
giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý và không
quá 60 ngày đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn (đối với vụ việc phức
tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60
ngày, kể từ ngày thụ lý và không quá 70 ngày đối với vùng sâu, vùng xa đi lại
khó khăn).
Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý, đối với vụ việc
phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý. Trường hợp cần
thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần
nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày.
- Bảy là, về bản chất của khiếu nại, tố cáo:
13
Bản chất của khiếu nại là việc người khiếu nại đề nghị người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành
chính, còn bản chất của tố cáo là việc người tố cáo báo cho người có thẩm
quyền giải quyết tố cáo biết về hành vi vi phạm pháp luật.
Giải quyết khiếu nại là việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại. Trong khi
đó, giải quyết tố cáo là việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo
xác minh, kết luận về nội dung tố cáo (thực tế có hành vi vi phạm pháp luật
theo như đơn tố cáo không), để từ đó áp dụng biện pháp xử lý phù hợp với tính

Khi nhận được khiếu nại, người giải quyết khiếu nại căn cứ vào các
quy định của pháp luật về khiếu nại để xác định xem vụ việc có đủ điều kiện
thụ lý hay không. Người giải quyết khiếu nại sẽ không thụ lý đối với các
trường hợp quy định tại Điều 11 của Luật Khiếu nại. Đối với những trường
hợp không thuộc trong các trường hợp Điều 11 đã quy định, người giải quyết
khiếu nại phải có trách nhiệm thụ lý đơn khiếu nại.
Trên cơ sở đơn và các tài liệu mà người khiếu nại cung cấp, người giải
quyết khiếu nại phải tiến hành nghiên cứu kỹ để xác định nội dung khiếu nại
của người khiếu nại bao gồm những vấn đề gì, yêu cầu của người khiếu nại là
như thế nào, những căn cứ mà người khiếu nại đưa ra để chứng minh cho yêu
cầu của họ có đúng pháp luật không, đã đầy đủ chưa Đồng thời, có thể tiến
hành việc tiếp xúc sơ bộ đối với người khiếu nại. Thông thường, người khiếu
nại thường cho mình là người bị oan ức, quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm
phạm do vậy trong đơn của họ thường không phản ánh trung thực bản chất của
vấn đề hoặc giấu giếm các chứng cứ để làm sai lệch thông tin, làm lạc hướng
15
sự nhận định của người giải quyết khiếu nại. Do vậy, người giải quyết khiếu
nại trong những trường hợp nhất định, để làm sáng tỏ những nội dung cơ bản
của vụ việc mà mình chưa rõ, cần thiết phải tiếp xúc với đương sự nhằm khẳng
định những nội dung khiếu nại và yêu cầu của họ, qua đó cũng có thể khai thác
thêm phần nào những thông tin liên quan đến vụ việc bị khiếu nại.
Người giải quyết khiếu nại cần phải thu thập các văn bản pháp lý liên
quan đến giải quyết vụ việc để làm căn cứ giải quyết khiếu nại. Đó có thể là
các văn bản, tài liệu liên quan đến quyết định, hành vi bị khiếu nại hay những
văn bản, tài liệu mà nội dung đơn thư khiếu nại đã đề cập đến như là những
căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại hoặc những
văn bản pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực có liên quan đến vụ việc phát sinh
Công việc tiếp theo là lập kế hoạch giải quyết vụ việc. Kế hoạch giải quyết
phải bao gồm một số nội dung công việc sau: mục đích, yêu cầu của việc giải
quyết; những khiếu nại cần phải thẩm tra, xác minh; những yêu cầu mà đối

Để tiến hành xác minh đạt kết quả tốt, cần phải vận dụng khéo léo, linh
hoạt các biện pháp nghiệp vụ nhằm thu thập thông tin, chứng cứ. Cán bộ xác
minh có thể thu thập thông tin từ: việc gặp gỡ, tiếp xúc với người khiếu nại;
kết quả giải trình và làm việc với người bị khiếu nại; kết quả làm việc với cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan, đây là những người biết được những
thông tin liên quan đến vụ việc hoặc có mối quan hệ nào đó với nội dung của
vụ việc mà người giải quyết khiếu nại cần thiết phải gặp gỡ, tiếp xúc nhằm
làm rõ những thông tin nhất định, từ đó mới có đủ cơ sở để kết luận một cách
khách quan, toàn diện về vấn đề.
17
Trong quá trình giải quyết khiếu nại nếu xét thấy việc thi hành quyết
định hành chính bị khiếu nại sẽ gây hậu quả khó khắc phục thì người giải
quyết khiếu nại phải ra quyết định hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền ra quyết
định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó.Quyết định tạm đình chỉ phải
được gửi cho người khiếu nại hoặc người có quyền, lợi ích liên quan. Quyết
định tạm đình chỉ sẽ bị huỷ khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn.
Sau khi đã xác minh, thẩm tra hết các nội dung, đối tượng liên quan,
người giải quyết khiếu nại cần so sánh, đối chiếu với các văn bản pháp luật
hiện hành, các quy định của cơ quan, đơn vị người bị khiếu nại; so sánh, đối
chiếu giữa các chứng cứ thu thập được để phân tích, đi đến nhận định rõ việc
khiếu nại đúng hay sai, từ đó kết luận từng vấn đề và đưa ra phương hướng
giải quyết cụ thể.
Kết thúc bước thẩm tra, xác minh, đoàn xác minh hoặc cán bộ thụ lý sẽ
phải soạn thảo văn bản "Báo cáo kết quả xác minh" theo yêu cầu tại Khoản 4,
Điều 29 của Luật Khiếu nại.
Bước 3: Ra kết luận xác minh về việc giải quyết khiếu nại và hoàn
chỉnh hồ sơ
- Thứ nhất, kết luận xác minh: căn cứ vào Báo cáo kết quả xác minh,
người đã ra quyết định xác minh phải ban hành văn bản "kết luận xác minh".
Kết luận xác minh phải có các nội dung chính sau: đánh giá việc thực hiện

thẩm quyền khi có yêu cầu.
Căn cứ Luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003, căn cứ Nghị định số
181/2004/NĐ-CP và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, việc giải quyết khiếu nại
tố cáo về đất đai được tiến hành theo trình tự sau đây:
19
Điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Thời hiệu khiếu nại là 90
ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi
hành chính. Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học
tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại
không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có trở
ngại không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo, thời hạn giải quyết khiếu nại
lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc
phức tạp thì thời hạn giải quyết không quá 45 ngày (kể từ ngày thụ lý để giải
quyết). Trường hợp ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải
quyết khiếu nại lần đầu không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý đề giải quyết và
không quá 60 ngày đối với những vụ việc phức tạp (khoản 1 Điều 36 Luật
khiếu nại, tố cáo)
Khoản 1 Điều 43 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Thời hạn giải quyết
khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với
vụ việc phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày. ở
vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai
không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết và không quá 70 ngày đối
với những vụ việc phức tạp.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết quy định tại
Điều 43 của Luật khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc
kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại mà người khiếu nại
không đồng ý thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án nhân dân;
đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài
hơn, nhưng không quá 45 ngày (Điều 46 Luật khiếu nại, tố cáo).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status