Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết, ý nghĩa của việc nghiên cứu kế toán bán mặt hàng thuốc
trừ
sâu tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình
Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp không những là thước đo phản ánh trình độ tổ chức quản lý mà còn là
sự sống còn, nó quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Thực tế
trong những năm vừa qua cho thấy, với sự phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường
và sự cạnh tranh gay gắt, bên cạnh những doanh nghiệp sản xuất làm ăn có hiệu
quả, mở rộng và không ngừng nâng cao vị thế của mình trên thị trường cả trong và
ngoài nước thì vẫn tồn tại không ít những doanh nghiệp sản xuất hoạt động kém
hiệu quả, thu nhập không đủ bù đắp chi phí và có nguy cơ đứng trước sự phá sản,
giải thể. Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều song nhìn nhận đánh giá một
cách tổng quát, khách quan thì nguyên nhân của sự đổ vỡ, phá sản trong các doanh
nghiệp sản xuất chủ yếu là do sự yếu kém trong việc tổ chức công tác bán hàng và
xác định kết quả. Vì vậy, với mục tiêu cao nhất và cuối cùng là lợi nhuận thì việc
xem xét các phương thức bán hàng, xác định kết quả bán hàng có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng và được đặt ra hàng đầu đối với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất.
Trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế , bán hàng có một vai trò đặc biệt, nó vừa
là điều kiện để tiến hành tái sản xuất xã hội vừa là cầu nối giữa nhà sản xuất với
người tiêu dùng, phản ánh sự gặp nhau giữa cung và cầu về hàng hóa, qua đó định
hướng cho sản xuất, tiêu dùng và khả năng thanh toán. Với một doanh nghiệp việc
tăng nhanh quá trình bán hàng tức là tăng vòng quay của vốn, tiết kiệm vốn và trực
tiếp làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Từ đó sẽ nâng cao đời sống, thu nhập cho
cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà
nước.
Kế toán bán hàng là một phần hành quan trọng trong hệ thống kế toán, vai
trò trong quảnl ý điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế qua hệ thống thông
tin trung thực, chính xác đầy đủ, toàn diện kịp thời.
Kế toán bán hàng cung cấp thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phần liên
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của kế toán bán mặt hàng thuốc trừ
sâu tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình
Do hạn chế về thời gian và năng lực nghiên cứu, nên đề tại luận văn này tập
trung nghiên cứu vào:
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên
- Tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến kế toán tiêu thụ thành
phẩm.
- Phạm vi nghiên cứu: kế toán tiêu thụ mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty cổ
phần quốc tế Hòa Bình
- Thời gian nghiên cứu: Công trình nghiên cứu này thực hiện trên cơ sở khảo
sát thực tế tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình từ ngày 13/2/2/012 đến
18/5/2012. Số liệu thu thập trong năm 2011
4. Phương pháp thực hiện việc nghiên cứu kế toán bán mặt hàng thuốc trừ
sâu tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình
- Phương pháp thu thập dữ liệu: bằng cách phỏng vấn các nhân viên kế toán,
thu thập dữ liệu từ các sổ sách, chứng từ, các loại báo cáo của Công ty
- Phương pháp phân tích dữ liệu: bằng cách so sánh, đối chiếu với các văn bản,
chuẩn mực kế toán hiện hành tại Việt Nam
5. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp về đề tài “Kế toán bán mặt hàng thuốc
trừ sâu tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình”
Chương 1: Cơ sở lý luận của kế toán tiêu thụ thành phẩm trong các doanh nghiệp
sản xuất công nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán tiêu thụ mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty cổ phần
quốc tế Hòa Bình
Chương 3: Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán tiêu thụ mặt hàng thuốc
trừ sâu tại Công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
3
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên
1.1.1.2 Các khoản giảm trừ doanh thu
Theo chuẩn mực số 14: Doanh thu và Thu nhập khác (Ban hành và công bố
theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng
Bộ Tài Chính) thì:
- Chiết khấu thương mại: “Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán giảm
giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn”.
- Giảm giá hàng bán: “Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do
hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu”.
- Giá trị hàng bán bị trả lại: “Giỏ trị hàng bán bị trả lại là giá trị khối lượng hàng
bỏn đó xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán”.
- Chiết khấu thanh toán: “Chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán giảm tiền
cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn thanh toán
của hợp đồng”.
1.1.1.3 Giá vốn hàng bán
- Giá vốn hàng bán là trị giá thực tế của số sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đã
được xác định tiêu thụ
1.1.2 Một số lý thuyết về kế toán tiêu thụ thành phẩm trong các doanh nghiệp
sản
xuất công nghiệp
1.1.2.1 Các phương thức bán hàng
• Phương thức bán buôn hàng hóa
Bán buôn hàng hóa là phương thức bán hàng cho các đơn vị thương mại, các
DN sản xuất…để thực hiện bán ra hoặc để gia công chế biến rồi bán ra. Đặc điểm
của hàng hóa bán buôn là hàng hóa vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thong, chưa đi vào
lĩnh vực tiêu dung, do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa chưa được thực
hiện. Hàng hóa thường được bán theo lô hàng hoặc bans với số lượng lớn.
• Phương thức bán buôn hàng hóa qua kho: Bán buôn hàng hóa qua kho là
chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được thỏa thuận, Hàng hóa
chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của DNTM. Khi nhận
được tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và
chấp nhận thanh toán thì hàng hóa được xác định là tiêu thụ.
• Phương thức bán lẻ hàng hóa
Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc
các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng
nội bộ. Bán hàng theo phương thức này có đặc điểm là hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực
lưu thong và đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đã
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên
được thực hiện. bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc với số lượng nhỏ. Phương thức
bán lẻ thường có các hình thức sau
• Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: là hình thức bán hàng mà trong đó việc
thu
tiền ở người mua và giao hàng cho người mua tách rời nhau. Mỗi quầy hàng có một
nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách rồi viết hóa đơn, tích kê giao
cho khách hàng để họ đến nhận hàng ở quầy hàng do mậu dịch viên bán hàng giao.
Hết ca hoặc ngày bán hàng thì mậu dịch viên căn cứ vào hóa đơn, tích kê giao hàng
cho khách và kết quả kiểm kê hàng tồn quầy, xác định số lượng hàng đã bán trong
ngày, tỏng ca là cơ sở cho việc lập báo cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền làm giấy
nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ.
• Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của
khách hàng và giao hàng cho khách. Cuối ngày hoặc ca bán hàng thì mậu dịch viên
phải kiểm kê hàng hóa tồn quầy, xác định số lượng hàng đã bán trong ca, trong
ngày để lập báo cáo bán hàng đồng thời lập giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho
thủ quỹ.
• Phương thức bán đại lý
Là phương thức bán hàng mà trong đó DNTM giao hàng cho cơ sở nhận bán đại lý,
Tài Chính)
Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một
khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến
việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra
doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến
doanh thu của kỳ đó.
Kế toán bán hàng phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Cơ sở dồn tích: doanh nghiệp phải ghi nhận doanh thu ngay khi hàng xác
định đã bán, không căn cứ vào thời điểm thực tế doanh nghiệp thu được tiền hay
các khoản tương đương tiền.
Giá gốc: trị giá vốn hàng bán phải được xác định tính theo số tiền hoặc
tương đương tiền mà doanh nghiệp đã trả hoặc phải trả (đối với hàng hóa mua bằng
tiền) hoặc giá trị hợp lý của hàng hóa (đối với hàng hóa trao đổi) đến khi hàng hóa
đó ở trạng thái sẵn sàng sử dụng để bán.
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên
Phù hợp: việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi
nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên
quan đến việc tạo ra doanh thu đó.
Nhất quán: doanh nghiệp phải nhất quán trong việc sử dụng hình thức ghi sổ
kế toán, tính đơn giá hàng xuất kho từ đó tính giá vốn hàng bán.
Thận trọng: Yêu cầu kế toán bán hàng phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn
kho, nợ phải thu khú đũi….
Các yêu cầu cơ bản đối với kế toán: Kế toán bán hàng phải tuân theo nguyên tắc
trung thực, khách quan, kịp thời, đầy đủ và có thể so sánh.
1.2.1.2 Chuẩn mực số 02: Hàng Tồn Kho (Ban hành và công bố theo Quyết định
số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính)
Nguyên tắc xác định giá vốn hàng bán :
Trị giá hàng bán được tính theo giá gốc theo nguyên tắc giỏ phớ. Trường hợp
biến động của giá cả hàng hóa trên thị trường, đồng thời việc tính giá đơn vị của
hàng xuất bán cũng như giá trị hàng bán được tính vào cuối kỳ nờn khụng cập nhật
trị giá vốn hàng bán ra, có thể gây ảnh hưởng đến tốc độ công tác quyết toán trong
DN
Ưu điểm: Tính toán đơn giản, dễ làm
Nhược điểm: Độ chính xác không cao, công việc tính toán dồn vào cuối tháng
gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói chung.
• Phương pháp bình quân sau mỗi lần nhập (phương pháp bình quân liên
hoàn):
Theo phương pháp này thì sau mỗi lần nhập kho giá thực tế của hàng hoá được tính
lại để làm cơ sở tính giá hàng xuất kho cho lần nhập sau đó. Trị giá hàng xuất kho
tiêu thụ được tính trên cơ sở giá bình quân sau mỗi lần nhập tại thời điểm tương
ứng.
Giá đơn vị
bình quân sau mỗi
lần nhập
=
=
Giá trị thành phẩm tồn kho sau mỗi lần nhập
Lượng thành phẩm tồn sau mỗi lần nhập
Ưu điểm: Xác định được ngay giá vốn bất kỳ tại thời điểm nào đó trong kỳ
mà không phải đợi đến cuối tháng, chính xác, cập nhật.
Nhược điểm: Tính toán phức tạp.
- Phương pháp bình quân cuối kỳ trước
Giá đơn vị bình
quân cuối kỳ trước
=
=
Z sản xuất thực tế thành phẩm tồn đầu kỳ
Số lượng thành phẩm tồn kho đầu kỳ
xuất thành phẩm nào sẽ tính theo giá thực tế của thành phẩm đó. Do vậy, phương
pháp này còn có tên là phương pháp đặc điểm riêng hay phương pháp giá thực tế
đích danh.
Ưu điểm: Phản ánh chính xác từng lô hàng xuất, đảm bảo cân đối giữa giá trị
và hiện vật.
Nhược điểm: Thường sử dụng với các loại hàng hoá có giá trị cao và có tính
tách biệt.
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên
Mỗi phương pháp đánh giá thành phẩm có ưu, nhược điểm và phạm vi áp
dụng riêng. Kế toán phải xác định phương pháp đánh giá thành phẩm nhất định
nhằm đảm bảo tính nhất quán trong niên độ kế toán, nếu có thay đổi gì thì phải giải
thích rõ ràng trên thuyết minh báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
1.2.1.3 Chuẩn mực số 14: Doanh thu và Thu nhập khác (Ban hành và công bố
theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng
Bộ Tài Chính)
Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã
thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi
ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là
doanh thu (Ví dụ: Khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị chủ hàng,
thì doanh thu của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng được hưởng). Các khoản
góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là
doanh thu.
Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu
được.
Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh
nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý
của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu
thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.
+ Hoá đơn bán lẻ do các cơ quan thuế lập cho các cơ quan kinh doanh
không thường xuyên và các khách hàng lẻ
Nếu trong chế độ chứng từ không có loại chứng từ bán hàng cho hoạt động
đặc thù của doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải tự thiết kế nhưng đảm bảo đầy đủ
nội dung của chứng từ kế toán.
+Hóa đơn GTGT,Chứng từ thanh toán
+Bảng kê thanh toán hàng gửi bán đại lý…
1.2.2.2 Các Tài khoản sử dụng
• TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung câp dịch vụ :
• Kết cấu tài khoản
Bên Nợ:
- Thuế Xuất khẩu, Thuế Tiêu thụ đặc biệt của số hàng tiêu thụ
- Thuế GTGT phải nộp của DN tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
- Doanh thu hàng bán bị trả lại kết chuyển cuối kỳ
- Khoản chiết khấu thương mại kết chuyển cuối kỳ
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên
- Giảm giá hàng bán kết chuyển cuối kỳ
- Cuối kỳ kết chuyển doanh thu thuần vào Tài khoản xác định kết quả
Bên Có: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế phát sinh trong kỳ
• TK 511 cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành 5 tiểu khoản:
- TK 5111– Doanh thu bán hàng hoá
- TK 5112 – Doanh thu bán thành phẩm
- TK 5113 – Doanh thu cung cấp dịch vụ
- TK 5114 – Doanh thu trợ cấp, trợ giá
- TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư.
- TK 5118 – Doanh thu khác
• TK 512 – Doanh thu nội bộ :
• Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của số sản phẩm
hàng trả lại
Bên Có: Cuối kỳ kết chuyển doanh thu của sản phẩm hàng hóa đã bị tiêu thụ
bị trả lại trong kỳ để xác định doanh thu thuần
• TK này không có số dư cuối kỳ
• TK 532 – Giảm giá hàng bán
• TK này được sử dụng để phản ánh khoản người bán giảm trừ cho người mua
do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc quá thời hạn ghi trên hợp
đồng hoặc hàng hóa bị lạc hậu thị hiếu
• Kết cấu TK
Bên Nợ: Phản ánh khoản giảm giá hầng bán
Bên Có: cuối kỳ kết chuyển toàn bộ số giảm giá hầng bán phát sinh trong kỳ
sang TK 511 để xác định doanh thu thuần
• TK 632 – Giá vốn hàng bán
• Kết cấu tài khoản
Bên Nợ
- Phản ánh giá vống của sản phẩm hàng hóa tiêu thụ trong kỳ
- Số trích lập chênh lệch dự phòng giảm giá hàng tồn kho năm nay cao hơn
năm trước
- Trị giá sản phẩm, hàng hóa hao hụt, mất mát sau khi trừ phần cá nhân bồi
thường
Bên Có
- Kết chuyển trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa…đã tiêu thụ trong kỳ để xác
định kết quả
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên
- Hoàn nhập chênh lệch dự phòng giảm giá hàng tồn kho của năm nay thấp
hơn năm trước
- Trị giá vốn của số hàng hóa, sản phẩm…đã tiêu thụ trogn kỳ nhưng bị
khách hàng trả lại
- Phản ánh trị giá hàng hóa gửi bán chưa được xác định tiêu thụ đến cuối kỳ.
- Phản ánh trị giá hàng bị trả lại nhờ bên mua giữ hộ
• TK 155 – Thành phẩm
• Tài khoản này để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của các loại
thành phẩm của doanh nghiệp.
• Kết cấu tài khoản
Bên Nợ:
- Trị giá của thành phẩm nhập kho;
- Trị giá của thành phẩm thừa khi kiểm kê;
- Kết chuyển giá trị thực tế của thành phẩm tồn kho cuối kỳ (Trường hợp
doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
Bên Có:
- Trị giá thực tế của thành phẩm xuất kho;
- Trị giá của thành phẩm thiếu hụt khi kiểm kê;
- Kết chuyển trị giá thực tế của thành phẩm tồn kho đầu kỳ (Trường hợp
doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
Số dư bên Nợ:
Trị giá thực tế của thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
1.2.2.3 Trình tự hạch toán
Kế toán nghiệp vụ bán hàng ở DNTM kế toán hàng tồn kho theo phương háp kê
khai thường xuyên và tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế
• Kế toán bán buôn qua kho
Kế toán nghiệp vụ bán buôn theo hình thức giao hàng trực tiếp cho khách hàng
- Kế toán ghi nhận doanh thu của hàng bán:
Nợ TK 111, 112, 131: Gía bán đã có VAT
Có TK 511: Doanh thu bán hàng chưa có VAT
Có TK 3331: Thuế GTGT đầu ra
- Căn cứ vào phiếu xuất kho, kế toán phản ánh giá vốn hàng bán
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
17
Có TK 632: Giá vốn của số hàng bị trả lại
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên
Cuối kỳ kết chuyển khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại và chiết khấu
thương mại để xác định doanh thu thuần:
Nợ TK 511: Giảm trừ Doanh thu
Có TK 531: Doanh thu hàng bán bị trả lại
Có TK 532: Giảm giá hàng bán
Có TK 521: Chiết khấu thương mại dành cho KH
1.2.2.4 Sổ kế toán
Công tác kế toán trong một đơn vị hạch toán, đặc biệt là trong các doanh
nghiệp, thường nhiều và phức tạp không chỉ thể hiện ở số lượng các phần hành, mà
còn ở mỗi phần hành kế toán cần thực hiện. Để đảm bảo việc ghi chép dễ dàng đơn
vị cần phải có một hệ thống sổ sách kế toán phù hợp với đặc điểm kinh doanh của
doanh nghiệp mình. Việc ghi chép vào sổ sách kế toán là công việc có khối lượng
lớn, thường xuyên, diễn ra hàng ngày. Vì vậy, cần phải tổ chức sổ sách một cách
khoa học, chặt chẽ. Có như vậy mới đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ cho nhà
quản lý cũng như các đối tượng liên quan khác.
Trên thực tế, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong bốn hình thức sổ kế
toán sau:
• Hình thức Nhật ký – sổ cái: Theo hình thức này, các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh được phản ánh vào một quyển sổ duy nhất gọi là Nhật ký - Sổ cái. Sổ này là sổ
hạch toán tổng hợp duy nhất, trong đó kết hợp phản ánh theo thời gian và theo hệ
thống. áp dụng với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, khối lượng nghiệp vụ phát
sinh ít, doanh nghiệp sử dụng ít tài khoản.
• Hình thức Nhật ký chung: Là hình thức phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh theo thứ tự thời gian vào một quyển sổ gọi là sổ Nhật ký chung. Hình thức này
áp dụng với mọi loại hình doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh
nghiệp áp dụng kế toán máy. Các sổ thường dùng:
thành phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
2.1.1 Tổng quan tình hình về kế toán tiêu thụ thành phẩm tại các DN sản xuất
công nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Đề tài nghiên cứu về kế toán tiêu thụ thành phẩm hay kế toán bán hàng đã
được rất nhiều người nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau, nhưng các
đề tài này đều nêu lên được những vấn đề chung nhất về lý luận kế toán bán hàng ở
các Doanh nghiệp thương mạ, sự vận dụng những chuẩn mực, chế độ kế toán hiện
hành có liên quan, và phát hiện ra được những mặt ưu điểm cũng như hạn chế trong
công tác kế toán bán hàng ở đơn bị nghiên cứu.
Xin đưa ra 3 đề tài nghiên cứu công tác kế toán bán hàng ở các đơn vị
Luận văn “Hoàn thiện phương pháp kế toán nghiệp vụ bán hàng tại công
ty TNHH thiết bị văn phòng Minh Nam trong điều kiện vận dụng chuẩn mực kế
toán số 14” của sinh viên Đỗ Thị Hồng Tuyết lớp K39D6 (2003 – 2007) trường Đại
học Thương Mại do TS.Nguyễn Tuấn Duy hướng dẫn đó nờu phát hiện những ưu
điểm và vấn đề còn hạn chế trong công tác kế toán tại công ty mình thực tập. Những
ưu điểm là thực hiện lập, luân chuyển chứng từ và ghi sổ kế toán thường xuyên;
thực hiện xử lý nghiệp vụ có theo hướng dẫn của Bộ tài chính. Tuy nhiên phần mềm
kế toán cũ, phiếu xuất kho không ghi rừ mó hàng hóa, thủ kho ghi thẻ kho không
theo hệ thống; mở sổ chi tiết tài khoản 511 thành tài khoản cấp 2 là 5111 – doanh
thu bán hàng và 5112 – doanh thu hoạt động tài chính là chưa đúng theo quyết định
số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính; kế toán quản trị
chưa được áp dụng. Sau khi phát hiện ra những hạn chế đó, tác giả đã đưa ra hững
đề xuất của mình như áp dụng mã hóa cho hàng hóa của doanh nghiệp và ghi đầy
đủ mã hàng hóa trên thẻ kho; doanh thu hoạt động tài chính được ghi nhận vào tài
khoản 515 thay vì tài khoản 5112 như doanh nghiệp đang sử dụng; thay thế phần
mềm kế toán mới.
Luận văn: “Kế toán bán hàng thiết bị các ngành phân tích khoa học tại
công ty TNHH thương mại vật tư KHKT” của sinh viên Nguyễn Thị Hồng Thu lớp
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
21
tồn tại chưa được giải quyết ở các đề tài trước đó.
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên
2.1.2 Ảnh hưởng nhân tố môi trường đến kế toán tiêu thụ thành phẩm trong các
doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
2.1.2.1 Nhân tố vĩ mô:
Bất kỳ một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế đều chịu những tác
động của nền kinh tế đó. Những tác động đó có thể là những thời cơ và cũng có thể
là những thách thức; có thể là thời cơ cho doanh nghiệp này nhưng lại là thách thức
đối với doanh nghiệp khác. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước và trong quá trình hội nhập sâu rộng nền kinh tế thế giới ở nước ta như
hiện nay. Đối với kế toán bán hàng đồng dẫn điện trong doanh nghiệp thương mại
cũng chịu những tác động nhất định từ môi trường vĩ mô đó. Những nhân tố tác
động trực tiếp như:
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
23
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên
• Nhà nước ta đang dần hoàn thiện các chính sách, chế độ kế toán và các luật
có
liên quan phù hợp hơn với tình hình thực tế, tạo cho doanh nghiệp hành lang pháp
lý, những hướng dẫn trong quá trình tổ chức công tác kế toán tại đơn vị mình. Tuy
vậy các quy định trong chính sách, chế độ kế toán còn khó hiểu, chưa tạo điều kiện
để doanh nghiệp phát huy tính chủ động của mình trong khi đó lại có những vấn đề
quy định quá chung chung gây khó khăn trong quá trình trình áp dụng hay dễ gây ra
hiểu sai vấn đề như kế toán tiến hành ghi sổ khi có chứng từ nhưng thời điểm lập
hóa đơn thường sau thời điểm ghi nhận doanh thu theo chuẩn mực do đó khiến kế
toán lầm tưởng thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng là thời điểm lập hóa đơn.
Bên cạnh đó, cũn một số vấn đề khác biệt với chính sách tài chính hiện hành. Ví dụ
giữa VAS 14 và luật thuế thu nhập doanh nghiệp: theo điều 4 nghị định số
2.1.2.2 Nhân tố vi mô:
Các nhân tố vi mô có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác kế toán bán hàng đồng dẫn
điện tại công ty. Các nhân tố vi mô nhìn chung rất đa dạng, mỗi nhân tố khác nhau
thì mức độ ảnh hưởng khác nhau. Cụ thể:
• Công ty có bộ máy quảnl ý phân chia rõ ràng, mỗi phòng ban phụ trách một
nhóm công việc khác nhau thể hiện tính chuyên môn hóa trong công tác quản lý của
công ty, đồng thời giữa các phòng ban cũng có sự liên kết chặt chẽ. Đây là nhân tố
đầu tiêngiúp cho công tác kế toán của công ty được thực hiện trôi chảy đồng bộ,
không có sự chồng chéo.
• Bộ máy kế toán của công ty được phân chia các bộ phận khác nhau, công
việc
của bộ phận nào thì bộ phận đó phụ trách nhưng giữa các bộ phận có mối liên hệ
chặt chẽ. Công ty áp dụng phương pháp ghi sổ kế toán là Nhật ký chung. Đây là
phương pháp khá phổ biến và dễ thực hiện. Bên cạnh đó công ty đưa phần mềm kế
toán máy Fast Accounting vào xử lý dữ liệu giảm thiểu thời gian và sai sót trong ghi
nhận xử lý thông tin, Do vậy công tác kế toán nói chung và công tác kế toán bán
hàng nói riêng cũng đạt hiệu quả hơn.
• Đội ngũ nhân viên kế toán: Đội ngũ nhân viên kế toán của doanh nghiệp khá
trẻ;
dễ dàng tiếp cận, cập nhật các thông tin, kiến thức mới. Tuy nhiên, do còn thiếu
kinh nghiệm, thâm niên làm việc và tâm lý ngại thay đổi nên trong quá trình xử lý
nghiệp vụ bán hàng mặt hàng đồng dẫn điện nhiều trường hợp chưa đúng với quy
định, còn bị động.
Sinh viên: Phạm Thu Hà Lớp: SB14D2
25