ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀM MINH VIỆT Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu
mới và việc vận dụng vào xây dựng nhà
nước xã hội chủ nghĩa hiện nay ở nước ta
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
2.3.1. Phương hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam 85
2
2.3.2. Các biện pháp chủ yếu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam 89
Kết luận 109
Danh mục tài liệu tham khảo 112 1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho
hành động của Đảng và dân tộc. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX của
Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ
thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lênin vào điều kiện cụ thể ở nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền
thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về
sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của
rõ: “Quá trình ấy phải dựa trên cơ sở vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn đất nước và những kinh
nghiệm tiên tiến trên thế giới “Vì những nhu cầu lý luận và thực tiễn nêu trên,
chúng tôi chọn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới và việc vận
dụng vào xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay ở nước ta” làm chủ
đề nghiên cứu của luận văn này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề Nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được một số học giả
trong nước nghiên cứu, đề cập như cuốn: "Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật” của viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp,
1993; “Tư tưởng hồ chí Minh về Nhà nước kiểu mới - quá trình hình thành và
phát triển” của Hoàng Văn Hảo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân” Nguyễn Đình Lộc chủ
3
biên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà nội ,1998; “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật” của Nguyễn Xuân Tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội
1999; “Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh” của Vũ Đình Hòe, Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội, 2001, TS. Phạm Ngọc Anh - PGS. TS. Bùi Đình Phong “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam”,
Nxb. Lao động, Hà Nội, 2003 và một số bài viết trên các báo, tạp chí như bài:
“Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
nam”, của Song Thành, Tạp chí Người đại biểu nhân dân, số 39, 1991; “Nghĩ về
Hồ Chí Minh và những điều kiện nâng cao hiệu lực của pháp luật” của Phạm
Ngọc Anh, Báo pháp luật ngày 3/6/1997; “Chủ tịch Hồ Chí Minh người đặt nền
móng cho sự ra đời Nhà nước pháp quyền Việt Nam” của Nguyễn Thị Kim
Dung trong cuốn “Việt Nam trong thế kỷ XX”, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2000
Tuy nhiên, việc nghiên cứu tư tưởng về Nhà nước kiểu mới, từ đó vận dụng vào
việc xây dựng Nhà nước kiểu mới hiện nay ở Việt Nam còn là vấn đề mới. Các
công trình khoa học đã công bố chỉ dừng lại ở việc khảo sát các nội dung riêng
* Giới hạn nghiên cứu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước ở Việt Nam chủ yếu từ sau 1945 đến
1969.
- Vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào xây dựng, hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền Việt Nam từ 1991 đến nay.
* Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này chủ yếu tập trung tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích quá
trình hình thành, phát triển và những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước kiểu mới. Đặc biệt là việc vận dụng tư tưởng của Người vào xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền trong thời kỳ mới.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5
Đề tài sử dụng phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác -
Lênin, phương pháp luận Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về Nhà nước và pháp luật.
Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp cụ thể: Phân tích, tổng hợp, lịch
sử và logic, phương pháp văn bản học, gắn lý luận với thực tiễn…
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Với những kết quả bước đầu, luận văn góp phần nghiên cứu nội dung cơ
bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới, Nhà nước pháp quyền
trong mối quan hệ với định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Những
kết quả đó đã góp phần vào việc thống nhất nhận thức và hoạt động thực tiễn
nhằm xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo sự
phát triển đất nước theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
7. Kêt cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.
Ngày 5/6/1911, người thanh niên đã xuống tàu buôn sang Pháp "xem họ
làm gì để về cứu nước, giúp đồng bào ta". Và chính từ đây, một chân trời mới đã
mở ra để hình thành một hoài bão lớn của Người với mong muốn xoá bỏ Nhà
nước bị thực dân phong kiến đang áp bức, bóc lột quần chúng nhân dân; triệt tiêu
quyền tự do dân chủ của người dân ta. Xuyên suốt quá trình từ 1911-1930,
Người thanh niên ấy phiêu bạt ở khắp các nước phát triển cũng như các châu lục
7
trên thế giới: ở Pháp (1911 và 1917 đến 1923), ở Mỹ (1912-1913), ở Anh:
(1913-1917) và một số nước thuộc địa Châu á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh. ở
đây, chính Người tận mắt thấy cuộc sống cùng cực bị áp bức, bóc lột của các dân
tộc thuộc địa và chứng kiến cuộc sống bất bình đẳng ở các nước tư bản phát
triển, Nguyễn Tất Thành có thêm cơ sở để củng cố cho suy tư của mình về giai
cấp thống trị và bị trị.
Trong bản yêu sách của nhân dân An Nam năm 1919, Hồ Chí Minh đã có
"yêu sách" đòi quyền tự do dân chủ cho người dân An Nam. Với nội dung đó,
Hồ Chí Minh đã vạch rõ bộ mặt thật của Nhà nước "bảo hộ", một Nhà nước
chuyên sử dụng các toà án đặc biệt như một công cụ để đàn áp nhân dân Việt
Nam và áp dụng chế độ ra sắc lệnh chứ không phải chế độ đạo luật. Hay trong
bài viết đầu tiên của mình với tiêu đề "Tâm địa thực dân", Hồ Chí Minh đã chỉ ra
nước Pháp là nước cộng hoà nhưng những hành động bóp nghẹt quyền tự do dân
chủ ở các nước thuộc địa lại là phi cộng hoà. Lời tố cáo trong Vấn đề dân bản xứ
(2/8/1919) của Nguyễn ái Quốc là một trong hàng ngàn lời lên án chế độ thực
dân Pháp "về giành chính quyền và pháp lý: Cả một vực thẳm cách biệt người
Âu với người bản xứ. Người Âu hưởng mọi tự do và ngự trị như người chủ tuyệt
đối; còn người bản xứ thì bị biệt môn và bị buộc dây dắt đi chỉ có quyền phải
phục tùng không được kêu ca; Vì nếu anh ta dám phản đối thì anh ta liền bị
tuyên bố là kẻ phản nghịch hoặc là một tên cách mạng, và bị đối xử đúng với tội
trạng ấy". [43, tr.7].
Một trong rất nhiều nét độc đáo trong sự nghiệp của Hồ Chí Minh là
để phổ biến trong nhân dân.
Người viết:
" Hai xin Pháp luật sửa sang 9
Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền
Tâm xin được cử Nghị viện" [43, tr.483]
Ta có thể nhận thấy sự định hình rất sớm trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước pháp quyền, về yêu cầu của việc quản lý xã hội bằng pháp luật. Được
trực tiếp hiểu và tiếp cận với Hiến pháp tư sản và tinh hoa nhân loại, Người sớm
nhận ra rằng Hiến pháp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội.
Thông qua những cuộc khảo sát thực tế và nghiên cứu lý luận có ý nghĩa
lịch sử to lớn, sau này Hồ Chí Minh tổng kết thành những bài học về “Đường
cách mệnh” viết năm 1927 về việc xây dựng chính quyền Nhà nước, về cách
mệnh Mỹ, Pháp.
Người viết:
"Trong lời tuyên ngôn của Mỹ có câu rằng: "Giời sinh ra ai cũng có
quyền tự do, quyền quyết định tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung
sướng… Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân thì dân chúng phải đạp đổ Chính
phủ ấy đi, và gây lên Chính phủ khác…". Nhưng chính phủ Mỹ lại không muốn
cho ai nói cách mệnh, ai đụng đến Chính phủ!
Mỹ tuy rằng Cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay nhưng công
nông vẫn cực khổ, vẫn lo tìm cách mệnh lần nữa.
ấy là vì Cách mệnh Mỹ là Cách mệnh tư bản, mà Cách mệnh tư bản là
chưa phải Cách mệnh đến nơi.
Chúng ta đã hi sinh làm Cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm
sao Cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một
bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh
lược của cách mạng ở các nước thuộc địa và mối liên minh chiến đấu giữa cách
11
mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc, Hồ Chí Minh tiếp tục ca ngợi những
thành tựu về kinh tế - xã hội của Liên Xô, ca ngợi Chính sách kinh tế mới của
Lênin, đặc biệt khẳng định sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô.
Người đã truyền bá tư tưởng của Lênin và ánh sáng Cách mạng Tháng Mười
Nga tới những thanh niên trí thức yêu nước Việt Nam đầu tiên đang học tập ở
lớp huấn luyện chính trị Quảng Châu (Trung Quốc).Đánh giá ý nghĩa của cuộc
cách mạng Tháng Mười,
Hồ Chí Minh viết:
“Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành
công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng
thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe
khoang bên Việt Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại
ra sức cho công, nông các nước và dân chủ bị áp bức các thuộc địa làm cách
mệnh để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới.
Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn thành công thì phải lấy dân
chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hi sinh,
phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin” [44,
tr.280].
Như vậy, với sự kiện năm 1920 đọc được Luận cương của Lênin, Hồ Chí
Minh đã có một sự lựa chọn mang tính cách mạng và khoa học. Về con đường
cách mạng, Người khẳng định dứt khoát đi theo con đường Cách mạng Tháng
Mười Nga, con đường cách mạng vô sản. Về lý luận, dứt khoát lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Về mô hình
Nhà nước, Người lựa chọn kiểu Nhà nước Xôviết, Nhà nước theo học thuyết
Mác - Lênin, Nhà nước mà “quyền giao cho dân chúng số đông”.
Năm 1927, tác phẩm Đường cách mệnh ra mắt khẳng định tư duy Hồ Chí
Minh đã có sự chuyển biến sâu sắc về cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước
13
a. Dân chúng được tự do tổ chức.
b. Nam nữ bình quyền,…
c. Phổ thông giáo dục theo công nông hoá.
B. Về phương diện chính trị:
a. Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.
b. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.
c. Dựng ra chính phủ công nông binh.
d. Tổ chức ra quân đội công nông.
C. Về phương diện kinh tế:
a. Thủ tiêu hết các thứ quốc trái
b. Thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng…) của tư
bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lý.
c. Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân
cày nghèo.
d. Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo.
e. Mở mang công nghiệp và nông nghiệp.
f. Thi hành luật ngày làm 8 giờ” [45, tr.1-2]
Cần lưu ý ở đây rằng, trong Chánh cương vắn tắt, Hồ Chí Minh chủ
trương dựng ra chính phủ công - nông - binh, mà thực chất là chính phủ công
nông, vì binh lính cũng từ công nông mà ra. Đây là mô hình Nhà nước kiểu Xô
viết mà Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao và trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, nhận
thức như vậy là phù hợp và đúng đắn. Trên thực tế, hình thức Nhà nước đó đã
xuất hiện ở Việt Nam trong cao trào Xôviết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931. Nhiều nơi ở
hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã đánh đổ chính quyền thực dân phong kiến và lập
ra chính quyền Xôviết công nông. Chính quyền này tuy chỉ tồn tại khoảng bốn,
14
năm tháng nhưng đã thực hiện chức năng của một chính quyền cách mạng, vừa
xây dựng cuộc sống mới về các phương diện cho quần chúng nhân dân, vừa trấn
lòng về chính quyền cách mạng, mà nếu không có nó như là một thử nghiệm đầu
tiên về hình thái Nhà nước kiểu mới thì những người cách mạng không có cơ sở
tìm ra kiểu nhà nước phù hợp với thực tế Việt Nam.
Nói là bài học vỡ lòng vì đây là hình thức chính quyền cách mạng sớm
nhất ở Việt Nam. Cũng vì nó là bài học vỡ lòng, nên bên cạnh những ưu điểm
như là cơ sở, nền tảng, nó cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Trong hoàn
cảnh Việt Nam, chính quyền chỉ là của công nông không thôi thì không phù hợp.
Cần phải có sự phân biệt đâu là bản chất giai cấp, đâu là cơ sở xã hội của Nhà
nước. Hai vấn đề này có mối quan hệ với nhau, nhưng tuyệt nhiên không phải là
một. Đảng và Nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân. Nhưng điều đó
không có nghĩa chỉ kết nạp vào Đảng những người xuất thân từ công nông hay
Nhà nước chỉ là chính quyền công nông. Thời kỳ 1930 - 1931, hai Đảng bộ Nghệ
An, Hà Tĩnh đã phạm sai lầm chủ nghĩa thành phần, là một sai lầm “tả” khuynh,
tuyệt đối hoá công nông khi chủ trương “đuổi sạch sành sanh ra ngoài hết thảy
những bọn trí, phú, địa, hào”. Chủ nghĩa thành phần lúc bấy giờ không chỉ ảnh
hưởng cho công tác xây dựng Đảng, mà còn ảnh hưởng trong xây dựng chính
quyền Xôviết, các tổ chức quần chúng… Có một thực tế lúc bấy giờ là từ Đại hội
VI Quốc tế Cộng sản (1928), những sai lầm “tả” khuynh, tư tưởng biệt phái, hẹp
hòi trong nghị quyết Đại hội đã ảnh hưởng đến việc tập họp, thu hút mọi lực
lượng dân tộc, dân chủ trong cuộc đấu tranh cách mạng chống kẻ thù của dân tộc
là chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.
Những sai lầm trên đây của hai Đảng bộ Nghệ An và Hà Tĩnh đã được
Trung ương Đảng kịp thời phê bình và uốn nắn. Trong Chỉ thị của Trung ương
gửi Xứ ủy Trung Kỳ về vấn đề thanh đảng Trung Kỳ có đoạn: “Xứ ủy Trung Kỳ,
16
nhất là đồng chí Bí thư, ra chỉ thị thanh Đảng viết rõ từng chữ: thanh trừ trí phú
địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ, như vậy thì gốc đâu mà đào, xem rễ ở đâu mà
trốc, quả là một ý nghĩ mơ hồ, một chỉ thị võ đoán và là một lối hành động quàng
xiên chí tướng” [14, tr.157]
Chúng ta lưu ý rằng trong Chương trình Việt Minh đã đề cập đến việc
thành lập Chính phủ nhân dân. Một trong những chính sách về chính trị, Mặt
trận Việt Minh khẳng định: “Phổ thông đầu phiếu: hễ ai là người Việt Nam, vô
luận nam nữ từ 18 tuổi trở lên đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ bọn Việt
gian phản quốc” [45, tr.583].
Trong chỉ thị của tổng bộ Việt Minh, về vấn đề chính quyền của cách
mạng ghi rõ:
“Làm cách mạng đánh Pháp, đánh Nhật là để giành lại chính quyền. Vậy
vấn đề chính quyền là vấn đề cốt yếu của cách mạng. Vấn đề chính quyền cách
mạng ở xứ ta có ba bước:
a. Lúc vũ trang khởi nghĩa lấy được một địa phương phải thành lập ngay
Chính phủ nhân dân ở địa phương ấy. Trừ bọn Việt gian và bọn phản động ra,
toàn dân nam nữ trong địa phương từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và
ứng cử để bầu ra chính phủ nhân dân của địa phương.
b. Lúc vũ trang khởi nghĩa lấy được một địa phương khá to, phải thành lập
Chính phủ nhân dân lâm thời toàn quốc.
c. Lúc vũ trang khởi nghĩa lấy được toàn quốc, thì thành lập Chính phủ
nhân dân chính thức toàn quốc do toàn dân bầu ra” [15, tr.484].
Đầu năm 1944, lúc ở Liễu Châu, trong khi tranh luận với Đàm Liên
Phương, Quân đoàn trưởng Quân đoàn 84 Quốc dân Đảng Liễu Châu, Hồ Chí
Minh nói rõ quan điểm: “Bất kỳ ý kiến nào về quốc sách quốc thể của Việt Nam
18
sau độc lập, đều phải do sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam sau khi được độc
lập quyết định, đều phải giải quyết thông qua việc bỏ phiếu rộng rãi của công
dân” [22, tr.197].
Tháng 10 - 1944, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Hồ Chí Minh đã
nhấn mạnh đến tính độc lập, chủ động trong việc xây dựng chính quyền Nhà
nước. Người viết: “Chúng ta trước phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân
thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta. Mà cơ cấu thì phải
không giống như ở phương Tây.
Về mặt thực tiễn, việc thành lập Mặt trận Việt Minh, không chỉ là một nét
độc đáo về góc độ mặt trận, tức là “chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng
bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn
giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh
tồn”, mà nó còn độc đáo về chính quyền cách mạng. Mặt trận Việt Nam với
mười chính sách đề ra đã thực hiện chức năng của một chính quyền cách mạng,
dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ thù. Điều này được thể hiện rất rõ
trong quá trình khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận, tiến tới tổng
khởi nghĩa, giành chính quyền cả nước. Đặc biệt từ tháng 6 - 1945, khi khu giải
phóng ra đời, thành lập ủy ban lâm thời khu giải phóng, thi hành mười chính
sách của Việt Minh, thì thực tế, như đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư của
Đảng lúc bấy giờ - nhận định: một nước Việt Nam mới ra đời… Đó là một bước
chuyển tiếp lên chính thể cộng hoà dân chủ; một điểm hết sức thú vị của chiến
thuật cộng sản trong thời kỳ tổng khởi nghĩa.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà ra đời - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam
Châu á. Đó là minh chứng hùng hồn khẳng định tính đúng đắn của tư tưởng Hồ
20
Chí Minh. Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào
hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam thuộc địa, đưa sự nghiệp cách mạng giải phóng
dân tộc đến thắng lợi, lập ra chính quyền cách mạng của dân, do dân, vì dân. Đó
cũng là sự thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới ở Việt
Nam.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới từ năm 1945 đến 1969
Giành được chính quyền về tay nhân dân (9-1945) là kết quả của cuộc đấu
tranh kiên cường, anh dũng của cả một dân tộc. Nó chấm dứt thời nô lệ, mở ra
kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, dân chủ của dân tộc Việt Nam. Bản
Tuyên ngôn độc lập được Hồ Chủ Tịch đọc tại Quảng trường Ba Đình khẳng
tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo
nòi giống” Thật vậy, đất nước đang đứng trước “ngàn cân treo sợi tóc” bộn bề
công việc cần giải quyết nhưng với Hồ Chí Minh đã xác định cần có một Hiến
pháp dân chủ và người dân cần được hưởng quyền dân chủ đó thông qua vai trò
của pháp luật để thực hiện. Đó là động lực để bảo vệ và xây dựng chính quyền
cách mạng.
Ngoài chủ trương đối nội và đối ngoại trong thời kỳ này, ngày 17-9-1945,
Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh ấn định thể lệ Tổng tuyển cử. Ngày 20-9-1945, Người
ký Sắc lệnh số 34 thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa để chuẩn bị đệ trình Quốc hội. Nhờ đó, chính quyền cách mạng
được giữ vững và toàn dân ta đã bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc (19-12-
1946) với tư thế sẵn sàng, với lòng tin sắt đá" Kháng chiến trường kỳ nhất định
thắng lợi".
Năm 1951, do yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và để đẩy mạnh
kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh triệu tập Đại hội II, đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi "Đảng
22
Lao Động Việt Nam" đồng thời đề nghị Lào và Campuchia tổ chức đảng riêng
để kịp thời lãnh đạo cách mạng sát với thực tiễn của mỗi nước. Đại hội đã thông
qua Cương lĩnh mới và điều lệ mới, đề ra chủ chương, đường lối đúng đắn và
toàn diện, tập trung xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân, nền kinh tế, văn hóa
dân chủ nhân dân vững mạnh, giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân tộc và giai
cấp, nhằm động viên toàn dân đẩy mạnh kháng chiến. Cuối cùng, bằng chiến
thắng Điện Biên Phủ lịch sử, dân tộc ta đánh bại chủ nghĩa thực dân Pháp, mở
đầu cho sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới.
Hội nghị Giơnevơ được ký kết, miền Bắc được giải phóng hoàn toàn, song
miền Nam vẫn còn chịu sự thống trị của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ
và bè lũ tay sai. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, Đảng ta và Hồ
Chí Minh đã đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạnh Việt Nam: xây dựng