1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=====================
DƢƠNG THỊ NHẪN TÌM HIỂU TƢ TƢỞNG DUY TÂN VỀ
GIÁO DỤC CỦA FUKUZAWA YUKICHI LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2012
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Error! Bookmark not defined.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Error! Bookmark not defined.
7. Kết cấu của luận văn Error! Bookmark not defined.
PHẦN NỘI DUNG Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 1: FUKUZAWA YUKICHI VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TƢ
TƢỞNG DUY TÂN VỀ GIÁO DỤC CỦA ÔNG Error! Bookmark not defined.
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Fukuzawa Yukichi Error! Bookmark not defined.
1.2. Những điều kiện hình thành tƣ tƣởng duy tân về giáo dục của Fukuzawa
Yukichi Error! Bookmark not defined.
1.2.1.Điều kiện kinh tế Error! Bookmark not defined.
1.2.2.Điều kiện xã hội Error! Bookmark not defined.
1.2.3.Tiền đề văn hóa và tư tưởng Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 2: NHỮNG TƢ TƢỞNG DUY TÂN VỀ GIÁO DỤC CHỦ YẾU CỦA
FUKUZAWA YUKICHI Error! Bookmark not defined.
2.1. Mục đích của giáo dục Error! Bookmark not defined.
2.2. Nguyên tắc tiến hành giáo dục Error! Bookmark not defined.
2.2.1.Tiếp thu có chọn lọc văn minh phương Tây trên cơ sở đề cao chủ nghĩa quốc gia
Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Thiếp lập một nền giáo dục thực dụng Error! Bookmark not defined.
2.3. Nội dung và phƣơng pháp giáo dục Error! Bookmark not defined.
2.3.1. Nội dung giáo dục Error! Bookmark not defined.
2.3.2. Phương pháp giáo dục Error! Bookmark not defined.
2.4 Ảnh hƣởng của tƣ tƣởng duy tân về giáo dục của Fukuzawa Yukichi đối với xã
giáo dục của thời đại chỉ trong khoảng thời gian ngắn như vậy? Như một tất
yếu, để trả lời câu hỏi này cần tìm hiểu những tư tưởng giáo dục đã làm nền
tảng cho sự nghiệp hiện đại hóa đất nước.
Khi nói đến những người đặt nền móng cho một nền giáo dục mới của
chính quyền Minh Trị, một chính quyền đưa Nhật Bản từ một nước lạc hậu
của Châu Á trở thành một cường quốc sánh vai với các cường quốc Châu Âu
5
trong một thời gian chưa đầy nửa thế kỷ, không thể không kể đến Fukuzawa
Yukichi.
Fukuzawa Yukichi (1835 - 1901) là nhà tư tưởng cấp tiến trong xã hội
Nhật Bản cuối thế kỷ XIX, người mở đầu cho sự nghiệp hiện đại hóa giáo dục,
làm nền tảng cho những bước nhảy vọt của đất nước nhằm bắt kịp các nước
phương Tây với tốc độ thần kỳ. Với nhãn quan tinh tế, nhạy cảm với thực
trạng đất nước, lại được chứng kiến những biến chuyển sâu sắc trong giai
đoạn giao thời từ chế độ phong kiến tiến lên xây dựng đất nước hiện đại đã
làm nảy sinh ở Fukuzawa Yukichi những tư tưởng cải cách sâu sắc, toàn diện
trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đời sống xã hội v.v. Những tư
tưởng duy tân của ông, nhất là những tư tưởng duy tân về giáo dục được thể
hiện trong hàng loạt các tác phẩm mà ông đã viết và cho công bố trong suốt
thời kỳ từ năm 1866 đến năm 1899 mà điển hình là : “Tây dương sự tình”
(1866 - 1870), “Khuyến học” (1872 - 1876), “Thoát Á luận” (1885), “Phúc
ông tự truyện” (1899) v.v. Với những công lao đóng góp cho nước nhà, người
Nhật tôn vinh ông là “Voltaire của Nhật Bản”, người đem lại linh hồn, động
lực và sự hậu thuẫn tinh thần cho công cuộc Duy tân của chính phủ Minh Trị.
Vào lúc Fukuzawa Yukichi tạ thế, tờ báo Japan Time đã nhận định về
ông: “Nước Nhật đã mất đi một trong những người xuất sắc nhất trong thế kỷ
vừa qua. Thật không quá đáng khi nói rằng, chưa ai đã từng ảnh hưởng cuộc
sống và tư tưởng của nước Nhật hiện đại sâu sắc bằng Nhà hiền triết ở Mita
như cách mà vô số người ngưỡng mộ vẫn gọi ông… Rõ ràng thành công
nước trong thư tịch cổ, những công trình nghiên cứu và dịch thuật giới thiệu
về lịch sử, văn hóa Nhật Bản.
7
Đề cập tới vấn đề tư tưởng duy tân về giáo dục của Nhật Bản, nhất là tư
tưởng của Fukuzawa Yukichi, có hai công trình tiêu biểu. Trước hết phải kể
đến chuyên khảo “Nhật Bản tư tưởng sử” 2 tập của Ishida Kazuyoshi. Công
trình này nghiên cứu rất căn bản những dòng tư tưởng của Nhật Bản từ khởi
nguyên đến thời kỳ hiện đại, trong đó có đề cập đến tư tưởng của Phúc Trạch
Dụ Cát. Công trình “Japanese thought in the Tokugawa period 1600 - 1868
Methods and Metaphors” (Tư tưởng Nhật Bản thời kỳ Tokugawa 1600 –
1868 Phương pháp và Ẩn dụ) của hai nhà nghiên cứu người Mỹ là Tetsuo
Majita và Irwin Scheiner cũng luận giải sự phát triển tư tưởng Nhật Bản cùng
những ảnh hưởng của nó tới xã hội thời đó. Tuy nhiên, cả hai công trình trên
đều chưa đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu nội dung tư tưởng duy tân về giáo dục
của Fukuzawa Yukichi.
Ở nước ta, do nhiều nguyên nhân, việc đi sâu tìm hiểu về lĩnh vực này
còn hạn chế, chủ yếu là những chuyên khảo trình bày hết sức khái quát, chưa
mang tính hệ thống.
Công cuộc duy tân Minh Trị diễn ra đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo
của đất nước Nhật Bản. Những thành tựu to lớn mà đất nước này đạt được đã
thu hút sự say mê nghiên cứu của đông đảo giới nghiên cứu trong và ngoài
nước về hầu hết các lĩnh vực của cuộc cải cách. Trong đó, liên quan tới đề tài
luận văn có một số công trình nghiên cứu: Luận án Tiến sĩ của Đặng Xuân
Kháng “Cải cách giáo dục và những tác động chủ yếu đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội Nhật Bản”. Luận án nghiên cứu một trong những lĩnh vực cải
cách quan trọng của chính phủ Minh Trị - cải cách giáo dục - về phương pháp,
nội dung. Vì thế, những tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi chỉ được
nghiên cứu ở mức độ nhất định mà chưa tập trung luận giải kỹ lưỡng. Công
trình “Phong trào cải cách ở một số nước Đông Á giữa thế kỷ XIX - đầu thế
9
tưởng và hệ thống, sau đó mới đem vận dụng vào thực tiễn; nghiên cứu vai trò
của trường tư thục trong việc đào tạo năng lực toàn diện cho các thế hệ học
sinh. Do vậy, hai cuốn sách này cũng chỉ để cập đến Fukuzawa Yukichi ở một
chừng mực nhất định.
Đặc biệt, trong cuốn “Chân dung những nhà cải cách giáo dục tiêu
biểu trên thế giới” do công ty sách Alpha dịch, Fukuzawa Yukichi đã được
UNESCO đánh giá là một trong 12 nhà giáo dục tiêu biểu trên thế giới. Ở
công trình này, Fukuzawa Yukichi được nhắc đến khái quát về cuộc đời, sự
nghiệp và tư tưởng giáo dục của ông. Tuy nhiên, cuốn sách này cũng chưa tìm
hiểu, đi sâu và làm rõ được nội dung tư tưởng giáo dục khá đồ sộ, tư tưởng,
có thể khẳng định là quan trọng nhất của Fukuzawa Yukichi.
Liên quan trực tiếp tới đề tài nghiên cứu là bài tham luận tại Hội thảo
khoa học quốc tế “Tư tưởng giáo dục khai sáng của Fukuzawa Yukichi trong
tác phẩm “Khuyến học” của tác giả Nguyễn Việt Phương. Tác giả đã làm rõ
được một số nội dung quan trọng trong tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về
giáo dục trong tác phẩm “Khuyến học” như chủ trương xây dựng nền thực học
trên nền tảng khoa học hiện đại phương Tây, giáo dục tinh thần khoa học
phương Tây để khơi dậy tính cách độc lập, sáng tạo của quốc dân Nhật Bản
v.v. Tuy nhiên, bài tham luận cũng chỉ nêu được khái quát một số tư tưởng
chủ yếu được thể hiện trong phạm vi tác phẩm. Rõ ràng, tư tưởng giáo dục
của Fukuzawa Yukichi thể hiện trong tác phẩm “Khuyến học” là chủ yếu song
bên cạnh đó nó còn được thể hiện trong một số tác phẩm khác của ông.
Từ những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấy vấn đề
tư tưởng duy tân của Fukuzawa Yukichi đã được các nhà nghiên cứu quan
tâm. Cũng cần phải nói thêm rằng, ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên
cứu về tư tưởng duy tân của Fukuzawa Yukichi nói chung và nhất là tư tưởng
duy tân về giáo dục của ông một cách sâu sắc, toàn diện. Hệ thống tư tưởng
nghĩa Mác – Lênin kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân
tích – tổng hợp, lịch sử - logic, hệ thống – cấu trúc, đối chiếu so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả đạt được của luận văn góp phần nhỏ vào việc đi sâu
nghiên cứu tư tưởng duy tân về giáo dục của Fukuzawa Yukichi và rộng ra là
tư tưởng giáo dục của Nhật Bản, đặc biệt dưới góc độ của lịch sử tư tưởng.
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy,
học tập và nghiên cứu lịch sử triết học Nhật Bản nói riêng và lịch sử triết học
phương Đông nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết
12
những điều không ra sao cả! Lại dạy trẻ cả thói tính toán con buôn thì tôi
không thể tưởng tượng được! Tôi xin cho các con thôi học” [61, tr.35-36].
Ông luôn dạy dỗ các con mình theo những quan niệm của Nho học; “sống
phải thành tâm thành ý, giữ mình ở cả những nơi không ai để mắt tới, không
làm gì để phải xấu hổ” [61, tr.36]. Có thể khẳng định rằng, Fukuzawa Yukichi
được thừa hưởng một nền giáo dục Nho giáo rất nghiêm khắc. Tuy nhiên, chế
độ phong kiến với những bó buộc lề lối đã là kẻ thù kìm hãm cha ông trong
việc thực hiện ý nguyện của mình.
Cha của Fukuzawa Yukichi mất sớm, khi ông mới lên một tuổi. Sau đó,
cả gia đình chuyển về Nakatsu. Cái chết của Fukuzawa Hyakusuke và việc trở
về quê hương là điều khó khăn cho cả gia đình Fukuzawa Yukichi. Cuộc sống
ngột ngạt với những lễ nghi phong kiến, sự khác biệt về lời ăn tiếng nói, về
cung cách ăn mặc khiến cho mấy anh em khó hòa nhập được với phong tục ở
đó. Sự tách biệt với bên ngoài vô hình chung lại tạo nên sự gắn kết gần gũi
giữa các thành viên trong gia đình. Nói khác đi, gia đình Fukuzawa hoàn toàn
trở thành những người xa lạ ngay chính trên quê hương của mình.
Có thể khẳng định rằng, điều quan trọng đầu tiên có ảnh hưởng lớn tới
việc phát triển sự nghiệp tương lai của Fukuzawa Yukichi chính là việc ông
bắt đầu học hỏi về văn học Trung Hoa ở tuổi 15, một độ tuổi khá muộn so với
những năm của thập niên 1840, 1850. Kỳ lạ thay, ông lại có năng khiếu thiên
bẩm khi học những cuốn kinh điển của Nho gia. Mới chỉ nghiên cứu Nho giáo
trong khoảng thời gian 5 năm nhưng ông đã đọc được “Tứ thư”, “Ngũ kinh”,
“Lão Tử”, “Trang Tử”, “Sử ký”, “Tiền hậu Hán thư”, “Tấn thư”, “Ngũ đại
sử” v.v; thậm chí, ông đã đọc 10 lần cuốn “Tả truyện”. Không chỉ dừng lại ở
14
đọc chữ, Fukuzawa Yukichi còn hiểu được ngữ nghĩa và có thể tranh luận với
người thầy của mình. Chính điều này là nguyên nhân sớm hình thành trong
Fukuzawa Yukichi tư tưởng nhìn nhận lại những giá trị cũ, những nếp nghĩ cổ
hủ, cứng nhắc của các nhà Nho.
cách và tinh thần làm việc như vậy nên Fukuzawa Yukichi được gia đình, đặc
biệt là thầy Yamamoto rất quý mến. Là người quản lý bộ sách phương Tây,
Yamamoto thường được những võ sĩ từ các lãnh địa khác đến xin sao chép về
việc chế tạo súng và pháo. Tuy nhiên, mắt thầy kém nên mọi thủ tục cho
mượn hay sao chép đều do Fukuzawa Yukichi đảm đương. Như một lẽ tất
nhiên, Fukuzawa Yukichi đã có cơ hội tiếp xúc trước hết với tiếng Hà Lan và
sau nữa là vốn tri thức hết sức mới lạ về các ngành khoa học phương Tây.
Điều này lại là nguyên nhân làm nảy sinh mối ganh tị giữa Okudaira Iki với
ông. Chính vị “chủ cao niên đáng kính” này đã lập ra âm mưu rằng mẹ của
Fukuzawa Yukichi đang bị bệnh nặng ở Nakatsu nhằm chuyển ông ra khỏi
thư viện của gia đình mình. Điều này đã làm tăng thêm thái độ tiêu cực của
Fukuzawa Yukichi đối với chế độ phong kiến. Ông đứng trước hai lựa chọn,
một mặt, Fukuzawa Yukichi vẫn phải giả vờ như không biết gì bởi nếu bị lộ,
gia đình Yamamoto rất mất mặt; mặt khác, nếu ông bằng lòng ra đi cũng có
thể có nghĩa là ông đã mất đi cơ hội học tập bên ngoài lãnh địa Nakatsu.
Fukuzawa Yukichi thay vì trở về Nakatsu ông đã lên đường lên Edo và khôn
khéo viết lá thư, nhờ một người bạn gửi đến gia đình Okukaira. Trên thực tế,
lá thư này là lời đe dọa tiềm ẩn với đối phương, nhưng may mắn thay ông lại
không bị bất cứ hình phạt nào. Sự thách thức của Fukuzawa Yukichi phản ánh
thái độ kháng cự của mình với tầng lớp trên, với chế độ phong kiến. Điều này
chứng minh một thực tế rõ ràng rằng “những lề luật, nguyên tắc cổ hủ vốn chế
ngự nước Nhật phong kiến lỗi thời đã không còn tác dụng nữa” [44, tr.29].
Tháng 3 năm 1855, Fukuzawa Yukichi nghe theo lời anh Sannosuke
lên Edo xin học ở một trường tư thục là Tekijuku về Hà Lan học do Thầy
Koan Ogata
2
sáng lập. Trước đó, ông đã có khoảng thời gian tự học ở 2
chương trình học cho học viên của trường. Trường học được chia thành tám
cấp học khác nhau. Do thiếu đội ngũ giáo viên nên người đứng đầu một cấp
17
trong suốt ba tháng sẽ được lên cấp trên. Học viên của cấp cao hơn dạy cấp
thấp hơn, cấp cao nhất sẽ do thầy Ogata trực tiếp giảng dạy. Hoạt động chủ
yếu của việc học tiếng Hà Lan chỉ là sao chép những trang sách giáo khoa
tiếng Hà Lan. Đây cũng là một cách để các học viên lĩnh hội tri thức của
phương Tây, song trên thực tế, họ không làm gì khác ngoài việc sao chép, đọc
và dịch mười cuốn sách tiếng Hà Lan. Như một tất yếu, việc học tập đó sẽ
làm nảy sinh tâm lý chán chường, thụ động.
Mùa hè năm 1858, theo lệnh của lãnh chúa Elgin, Fukuzawa Yukichi
dời Osaka lên dạy tiếng Hà Lan ở Edo. Cũng trong năm này, nhân dịp chuyến
đi thăm cảng Yokohama, Fukuzawa Yukichi hết sức ngạc nhiên vì trên khắp
đường phố chỉ có chữ tiếng Anh, ông không thể giao tiếp được vì bất đồng
ngôn ngữ. Sự kiện này giúp Fukuzawa Yukichi nhận ra Hà Lan học đã trở nên
lỗi thời. Ông nhận định sáng suốt “Đất nước chúng ta đang ký điều ước và
định mở cửa, như thế sau này chắc chắn sẽ cần tiếng Anh. Với tư cách là một
nhà Tây phương học mà không biết tiếng Anh thì dù biện minh thế nào cũng
không thể chấp nhận được” [61, tr.153]. Sự chuyển biến trong nhận thức đã
nảy sinh trong Fukuzawa Yukichi ý định học tiếng Anh với vị trí là ngôn ngữ
quốc tế. Xuất phát từ nhận định đó, ông tìm mọi cách để có thể học được, từ
việc nhờ Moriyama – một viên chức trong chính quyền Mạc Phủ dạy, tự học
trong từ điển, tìm bạn học cùng v.v. Trong bối cảnh việc học tập và nghiên
cứu Hà Lan học vẫn đang thịnh hành ở Nhật Bản thì cách nhìn nhận này thể
hiện tư tưởng vượt bậc so với đương thời. Đây chính là xuất phát điểm để ông
có được những quyết định táo bạo và quan trọng hơn là trong việc hình thành
những tư tưởng cải cách vĩ đại sau này.
Một năm sau khi lên Edo, năm 1859, “một quyết định hiếm hoi” của
Mạc Phủ kể từ khi khai sinh ra nước Nhật cho tới nay là cho một quân hạm
19
22 tháng 1 năm 1862, trên tàu Odin, dưới sự chỉ huy của thiếu tướng hải quân
John Hay, phái đoàn của Nhật bước vào một chuyến đi dài nhất của chính
quyền Mạc phủ cả về khoảng cách địa lý lẫn thời gian. Cũng thời điểm này,
Fukuzawa Yukichi bắt đầu viết những dòng đầu tiên vào cuốn nhật ký mà sau
này xuất bản thành cuốn sách “Seiko Ki” (Tây Dương sự tình)
3
. Con tàu ghé
qua Hong Kong, Singapore, vào vùng biển Hồng Hải, sau đó cả đoàn lên bờ
từ Suez, đi tàu hỏa chạy bằng hơi đốt đến Cairo, Hy Lạp, rồi lại ra biển Địa
Trung Hải, lên tàu sang cảng Marseille của Pháp, lên tàu hỏa đi Lyon, đến
Paris rồi sang Anh. Từ Anh lại đi Hà Lan, đến thủ đô Berlin, St. Petersburg.
Sau đó, trở về Paris, từ Pháp lên tàu đi Bồ Đào Nha, vào vùng biển Địa Trung
Hải và theo đường cũ trở về, cho đến cuối năm 1862 mới đến Nhật Bản. Mỗi
chuyến đi là một lần trải nghiệm thực tế, mỗi địa danh lại mang đến cho
Fukuzawa Yukichi những cảm nhận khác nhau. Ông chia sẻ “Tôi đã rất may
mắn khi có thể tham gia chuyến đi này sang phương Tây và chuyến đi này sẽ
không xảy ra lần nữa. Vì vậy, tôi đã quyết tâm nghiên cứu bằng cách chú ý
thật kỹ đến điều kiện và phong tục của các nước châu Âu. Tôi đã kết bạn ở
các nước Anh và nước Pháp cũng như nêu lên những thắc mắc về các trường
học, bệnh viện, hệ thống quân sự, thuế,v.v tại đất nước họ. … Nếu chúng ta
áp dụng những phương pháp của người phương Tây, tốt nhất là nên quan sát
họ trong thực tế nhưng để thực hiện điều này một mình là điều không thể xảy
ra” [44, tr.95-96]. Cuộc hành trình này đã mang lại cho Fukuzawa Yukichi
những kiến thức căn bản về các ngành khoa học, công nghiệp, chính trị,
thương mại v.v của châu Âu. Cũng từ đây, nhìn nhận và so sánh với đất nước
Nhật Bản, ông nhận thấy sự cần thiết phải đổi mới, phải hiện đại hóa mọi mặt
có ý nghĩa nhất từ chuyến đi này là kiến thức vững vàng về cách thức thực
hiện kinh doanh của người phương Tây. Điều này sau đó được ông vận dụng
linh hoạt và đem lại thành quả rõ rệt trong lĩnh vực kinh doanh của ông.
Nhưng xét trên nhiều khía cạnh, chuyến đi là một cuộc tìm kiếm vô vọng, đắt
tiền, nó cho thấy sự thờ ơ của chính quyền Mạc Phủ.
21
Cuộc đời ông với ba thời điểm đáng nhớ: hai lần đi Mỹ, một lần đi châu
Âu, Fukuzawa Yukichi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Hết sức
bàng hoàng với cung cách cư xử, với lối sống, phong tục tập quán của người
phương Tây, ông đã có những nhận thức hoàn toàn mới mẻ, ý thức rõ hơn vai
trò của Nhật Bản trên trường quốc tế. Thêm vào đó, cho đến những năm cuối
của thế kỷ XIX, đầu XX, dưới sức ép của chủ nghĩa tư bản phương Tây đã
giúp ông nói riêng và giới trí thức Nhật Bản nói chung nhận ra yêu cầu cấp
bách phải đổi mới, kiện toàn lại đất nước. Những sự kiện có tính bước ngoặt
này đã mang lại cho Fukuzawa Yukichi những tư tưởng có tính quyết định
lịch sử Nhật Bản trong thời buổi rối ren để đưa đất nước bước sang thời đại
mới - thời đại Minh Trị.
Nhận thức ấy cũng đánh dấu thời kỳ Fukuzawa Yukichi chuyển sang
hoạt động viết và dịch sách. Sau khi chế độ Tokugawa ở Edo sụp đổ, chính
quyền mới mời Fukuzawa Yukichi tham gia vào bộ máy chính quyền nhưng
ông nhất quyết từ chối. Có một điều khá đặc sắc trong cuộc đời ông là: ông đã
khéo léo chọn con đường trung lập, chỉ đàm luận và viết về chính trị chứ
không làm chính trị. Như ông từng so sánh, công việc ấy giống như vai trò
của một “bác sỹ khám, chỉ bắt bệnh mà không nghĩ đến việc chữa bệnh” [59,
tr.414]. Sự lựa chọn này giúp cho Fukuzawa Yukichi không bị ảnh hưởng, chi
phối bởi những quan điểm chính trị.
Năm 1868, Fukuzawa Yukichi đã thành lập trường Keio Gijiuku
(Khánh Ứng Nghĩa thục) - tiền thân của trường Đại học Keio ngày nay tại
Tokyo. Năm 1873, cùng với một số trí thức Tây học, lập ra hội Meirokusha
đề từ chính trị, giáo dục, pháp luật, ngoại giao, quân sự v.v đến các chủ đề
nhỏ hơn về nam giới, nữ giới, về giao tiếp ứng xử. Điều này cho thấy sự vĩ
đại về tư tưởng và nhân cách của Fukuzawa Yukichi.
23
Ảnh hưởng của Fukuzawa Yukichi không chỉ giới hạn ở Nhật Bản mà
còn đến các trào lưu tư tưởng của các nước phương Đông cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX. Ở nước ta, sự áp bức bóc lột nặng nề của thực dân đã đặt ra
cho giới trí thức, các nhà nho yêu nước tiến bộ tìm ra con đường cứu nước
mới. Trong số đó phải kể đến Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Phan
Châu Trinh v.v. Trong quá trình ấy, những tư tưởng vĩ đại của Nhật Bản thời
Minh Trị duy tân, đặc biệt là của Fukuzawa Yukichi đã tác động mạnh mẽ
đến họ không chỉ ở tư tưởng, đường lối hoạt động duy tân mà còn được thể
hiện trong nhiều tác phẩm của họ.
1.2. Những điều kiện hình thành tƣ tƣởng duy tân về giáo dục của
Fukuzawa Yukichi
Có hai thời kỳ vàng son trong lịch sử Nhật Bản là: Trước hết, từ cuối
thế kỷ thứ VI đến giữa thế kỷ thứ VII, khi Nhật Bản đã nhận thức rõ được sức
ép từ Trung Quốc, sau đó là những năm cuối của Mạc Phủ Tokugawa, thời
điểm Nhật Bản bắt đầu chú ý đến thành tựu văn minh phương Tây. Trong cả
hai thời kỳ này Nhật Bản đã lần lượt thực hiện thành công các cải cách Taika
(645) và Duy tân Minh Trị (1868).
Công cuộc duy tân nửa sau thế kỷ XIX là một trong những sự kiện
quan trọng nhất trong lịch sử Nhật Bản, nó đã mở đường cho việc biến nước
Nhật Bản phong kiến thành một nước tư bản chủ nghĩa, làm cho đất nước
thoát khỏi số phận nước thuộc địa. Minh Trị duy tân đã dẫn đến quá trình
công nghiệp hóa khiến nền kinh tế Nhật Bản phát triển kỳ diệu trong 30 năm
cuối của thế kỷ XIX và đưa đất nước này trở thành một nước “phú quốc
cường binh”.
Cũng như bất kì cuộc cải cách nào trên thế giới, thành công của nó phụ
[22, tr.54]. Núp dưới chiêu bài “vì lợi ích chung của nhân loại”, cho đến giữa
25
thế kỷ XIX, Mỹ đã không ngừng gây áp lực với Nhật Bản. Năm 1853, Edo
đứng trước một biến cố đột ngột khi một lực lượng hải quân khổng lồ dưới sự
chỉ huy của Matthew C. Perry tiến vào vịnh Tokyo mang theo bức thư của
Tổng thống M. Fillmore yêu cầu Nhật Bản mở cửa. Tình thế chính trị đó buộc
chính quyền phong kiến phải suy tính kỹ lưỡng các khả năng xảy ra nhằm bảo
vệ chủ quyền đất nước. Trong khi Mạc Phủ Edo đang lúng túng đi tìm giải
pháp, họ lại bị kẹt vào thế “tiến thoái lưỡng nan” khi lực lượng của Perry trở
lại. Nhận thấy nguy cơ của một cuộc chiến tranh đang đến gần, hơn nữa tiềm
lực của đất nước quá yếu, tháng 3 năm 1854 chính quyền Tokugawa quyết
định nhượng bộ ký kết “Hiệp ước hòa bình và hữu nghị
4
” với Mỹ chấm dứt
hơn 2 thế kỷ thực thi chính sách tỏa quốc. Từ đây, chính quyền Nhật Bản luôn
phải đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, liên tục ký kết các hiệp ước
thương mại với các quốc gia trên thế giới.
Như vậy, thay thế cho vị trí Hà Lan, đến giữa thế kỷ XIX, Mỹ đã trở
thành trọng tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển quân sự và ngoại giao
của Nhật Bản. Việc đồng ý mở cửa, ký kết các hiệp ước thương mại với các
nước phương Tây của chính quyền Edo, rõ ràng đã gây ra nhiều hậu quả
nghiêm trọng với xã hội Nhật Bản. Nhưng bên cạnh những hệ quả tiêu cực ấy,
cũng phải thấy rằng, chủ trương mở cửa là giải pháp tình thế giúp cho Nhật
Bản tránh phải đương đầu một cuộc xâm lược vũ trang của các nước phương
Tây trong thế bị động. “Đó là quyết định có tính chất chiến lược của chính
quyền Edo nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, sự thống nhất đất nước, khắc phục
tình trạng mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân thương mại” [36, tr.61].
Hơn nữa, nó còn giúp cho Nhật Bản tái hòa nhập với những biến chuyển
chung của nền kinh tế thế giới. Chính sách mở cửa cũng giúp cho người Nhật