TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒCHÍ MINH VỀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VÀ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG Ý THỨC BẢO VỆ TỔQUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHO THANH, THIẾU NIÊN TỈNH AN GIANG TỪNĂM 2006 ĐẾN NAY - Pdf 27



TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
------
NGUYỄN THANH LAM

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VÀ THỰC TRẠNG
XÂY DỰNG Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
CHO THANH, THIẾU NIÊN TỈNH AN GIANG
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Khóa học: 2006 - 2010 NGUYỄN THANH LAM
LỚP DH7CT

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VÀ THỰC TRẠNG
XÂY DỰNG Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
CHO THANH, THIẾU NIÊN TỈNH AN GIANG
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Khóa học: 2006 - 2010
Ngành học: Sư phạm Giáo dục chính trị
GVHD: TH.S BÙI THU HẰNG Xin trân trọng kính chào!
Nguyễn Thanh Lam MỤC LỤC

Trang
Phần mở đầu................................................................................................01
1. Lí do chọn đề tài........................................................................................01
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu................................................................02
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu..........................................03
4. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................03
5. Đóng góp của khóa luận............................................................................03
6. Dàn ý của khóa luận..................................................................................03
Phần nội dung..............................................................................................05

CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN
1.1. Khái niệm quốc phòng toàn dân ............................................................05
1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân........06
1.2.1. Truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc...........07
1.2.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quốc phòng toàn dân.....11
1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân ...................................13
1.3.1. Phạm trù “dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh ..................................13
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân qua các thời kỳ....17

2.4. Một số giải pháp cho quá trình xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN
cho thanh, thiếu niên tỉnh An Giang trong những năm tiếp theo..................74
Phần kết luận.........................................................................................................82
Danh sách tài liệu tham khảo.....................................................................84
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ANCT :An ninh chính trị
CLB :Câu lạc bộ
CNXH :Chủ nghĩa xã hội
DQTV :Dân quân tự vệ
LHTN :Liên hiệp thanh niên
LLVT :Lực lượng vũ trang
QP :Quốc phòng
QPTD :Quốc phòng toàn dân
TNXH :Tệ nạn xã hội
TTN :Thanh, thiếu niên
TTATXH :Trật tự an toàn xã hội
UBND :Ủy ban nhân dân
XHCN :Xã hội chủ nghĩa

Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VÀ THỰC TRẠNG
XÂY DỰNG Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

không chỉ của riêng Đảng và Nhà nước mà là của toàn thể nhân dân. Vì thế,
cần thiết phải học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về QPTD trong bối
GVHD: Bùi Thu Hằng SVTH: Nguyễn Thanh Lam
Trang 2
cảnh hiện nay để phát huy tổng hợp sức mạnh toàn dân, của hệ thống chính
trị, từng bước nâng cao tiềm lực QP- an ninh của đất nước để bảo vệ vững
chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ
nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN làm thất bại mọi âm mưu
chống phá nhà nước XHCN của các thế lực thù địch.
Mặt khác, đứng trước sự nghiệp đổi mới, quá trình xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc XHCN đã đặt ra nhiều vấn đề cấp bách, phức tạp không thể không
giải quyết, đặt biệt trước sự biến đổi nhanh chóng, khó lường của cuộc
khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới, của hàng loạt vấn đề toàn cầu
hóa, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế. Sự tiếp thu thiếu
chọn lọc các nền văn hóa trên thế giới của bộ phận TTN đã làm mất đi bản
sắc văn hóa dân tộc, một khi an ninh văn hóa bị khủng hoảng thì ý thức dân
tộc cũng dần phai mờ đi từ đó ảnh hưởng đến ý thức bảo vệ Tổ quốc.
Nếu không làm tốt công tác xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc, không
thực hiện tốt việc giáo dục tuyên truyền cho đồng bào Việt Nam đặt biệt đối
với TTN - là người chủ tương lai của đất nước và là lớp người dễ chịu tác
động bên ngoài, về những vấn đề liên quan đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc,
thì không những không phát huy được vai trò của họ đối với sự nghiệp bảo
vệ Tổ quốc, mà họ còn bị các thế lực thù địch lợi dụng, chia rẽ gây mất
đoàn kết và có thể trở thành lực lượng đối lập, chống đối lại dân tộc và đất
nước. Âm mưu, thủ đoạn đó chỉ có thể thất bại trước sức mạnh tổng hợp
của nước ta được nâng cao, khi chúng ta thực hiện tốt việc xây dựng ý thức
bảo vệ Tổ quốc XHCN cho mọi người dân.
An Giang là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về phát triển kinh tế
và QP - an ninh, có đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Campuchia nên
việc ý thức bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là vô cùng quan

- Ngoài ra khóa luận còn sử dụng một số phương pháp khác: phương
pháp thống kê, phương pháp điều tra.
5. Đóng góp của khóa luận
- Hệ thống hóa tư tưởng QPTD của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.
- Vạch ra những thành tựu, hạn chế và đề suất những giải pháp góp phần
nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc của mỗi người, đặt biệt là đối với TTN tỉnh
An Giang trong thời gian tới.
6. Dàn ý của khóa luận
Phần mở đầu
Phần nội dung
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN
1.1. Khái niệm quốc phòng toàn dân
1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân
1.2.1. Truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc
1.2.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quốc phòng toàn dân
1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân
1.3.1. Phạm trù “dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân qua các thời kỳ
GVHD: Bùi Thu Hằng SVTH: Nguyễn Thanh Lam
Trang 4
1.3.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân thời kỳ 1945
- 1946
1.3.2.1.1. Mục đích, tính chất của nền quốc phòng toàn dân
1.3.2.1.2. Xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân
chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp
1.3.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân thời kỳ 1946
- 1954
1.3.2.2.1. Xây dựng tiềm lực quốc phòng trực tiếp phục vụ kháng

Trang 5
PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN1.1. Khái niệm quốc phòng toàn dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy vĩ đại, vị lãnh tụ thiên tài của cách
mạng Việt Nam. Người đã được cả thế giới tôn vinh “là một biểu tượng kiệt
xuất về quyết tâm của cả một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh
chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội”[39, tr.21].
Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước bị xâm lấn. Người đã chứng
kiến cuộc sống khổ cực của nhân dân, biết bao cuộc nổi dậy của nhân dân
bị dìm trong máu lửa. Mang theo nỗi đau của dân tộc, Người đã ra đi tìm
con đường cứu nước và phải phóng dân tộc. Kiên trì với con đường đã
chọn, Người đã cùng với Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo thắng lợi hai
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mở ra thời kỳ sụp
đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ và làm thất bại một bước
chủ nghĩa thực dân mới, góp phần tác động sâu xa vào tiến trình lịch sử thế
giới trong thế kỷ XX. Chính vì vậy, mỗi bước đi của cách mạng Việt Nam
đều gắn bó với tư tưởng của Người, với tầm quan trọng đó tại Đại hội Đảng
lần thứ VII xác định tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam cho mọi hành động. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm
toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN; là kết quả của
sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta,

chế độ XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nền QPTD có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, đó là nền QP của dân, do dân, vì dân được xác lập sau khi
nhân dân giành được quyền làm chủ đất nước, thiết lập chính quyền nhân
dân, xây dựng chế độ mới chế độ XHCN.
Thứ hai, đó là nền QP mang tính tự vệ tích cực, nền QPTD chủ động
xây dựng để bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân, bảo vệ quyền lợi
của mình, bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Thứ ba, đó là nền QP hoàn toàn chính nghĩa, phục vụ nhân dân, bảo vệ
đất nước, không bành trướng, đe dọa và xâm lược, can thiệp vào bất cứ
quốc gia dân, tộc nào.
Thứ tư, là nền QP xây dựng và phát triển theo một kiểu phòng thủ tổng
hợp bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân để bảo vệ Tổ quốc.[3, tr.63]
1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng
toàn dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về QPTD bắt nguồn từ truyền thống đấu tranh
dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử và quan
GVHD: Bùi Thu Hằng SVTH: Nguyễn Thanh Lam
Trang 7
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về QPTD, từ thực tiễn hoạt động cách
mạng của Người.
1.2.1. Truyền thống đấu tranh dựng và giữ nước của dân tộc
Dân tộc Việt Nam ta có lịch sử mấy nghìn năm, có ngôn ngữ riêng, văn
tự riêng, phong tục, tập quán riêng, cốt cách làm ăn riêng và có nền văn hóa
lâu đời của mình. Tất cả những cái đó tạo nên truyền thống, tình cảm riêng
của dân tộc ta. Đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, truyền thống đoàn
kết đấu tranh dựng và giữ nước của dân tộc.
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã
tích lũy biết bao kinh nghiệm quý báu về tập hợp lực lượng xây dựng nền
QP để bảo vệ vững chắc đất nước được phản ánh trong các bộ sử lớn của

nhiệm vụ xây dựng quân đội như thế nào là một phương lược lớn của tổ
tiên ta thuở ấy.
Bấy giờ hoàn cảnh đặt ra hai nhu cầu cấp thiết: vừa phải xây dựng nước
nhà giàu mạnh, vừa phải tăng cường khả năng QP, sẵn sàng đối phó với
nguy cơ xâm lược. Trước yêu cầu lịch sử đó, triều Lý và triều Trần đã
không ngừng củng cố nhà nước tập quyền, tăng cường khối đoàn kết thống
nhất, thực hiện khoan thư sức dân, xây dựng quân đội chính quy... Lúc bấy
giờ, một hệ thống ngạch quân được tổ chức hoàn chỉnh với đủ các thành
phần: Quân chủ lực của triều đình; quân của lộ, phủ, châu; quân của quý
tộc, tông thất (quân vương hầu) và lực lượng dân binh (hương binh) trong
làng xã, động bản. Trong đó, quân đội thường trực quốc gia là lực lượng
nòng cốt được xây dựng theo phương thức “cốt tinh nhuệ không cốt nhiều”
[25, tr.61]. Chiến tranh xâm lược từ phương Bắc có thể xảy ra bất cứ lúc
nào. Các đế chế phong kiến phương Bắc thường xuyên dòm ngó và mưu
toan tìm cơ hội thôn tính đất Việt. Tình hình đó đòi hỏi những người lãnh
đạo quốc gia phải có phương lược thích hợp nhằm xây dựng thế nước, chú
ý QP, coi việc giữ nước luôn luôn là một trong những nhiệm vụ trọng yếu
nhất. Tuy nhiên, trong điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch quá
chênh lệch, cách đánh của tổ tiên ta ngay từ đầu là lấy yếu chống mạnh, lấy
ít địch nhiều. Vì vậy, bên cạnh yêu cầu có một nghệ thuật quân sự giỏi,
nghệ thuật quân sự của chiến tranh toàn dân, còn yêu cầu chất lượng cao
trong tổ chức quân đội, trong từng đơn vị và ở mỗi một người lính. Mặt
khác, ở nước ta công cuộc dựng nước và giữ nước luôn luôn đi đôi với
nhau. Cùng với nhiệm vụ xây dựng kinh tế, còn có nhiệm vụ xây dựng quân
đội sao cho đỡ phần chi phí tốn kém, ít ảnh hưởng đến sản xuất. Chính vì
vậy, bớt phần số lượng, nâng cao chất lượng quân đội là một yêu cầu quan
trọng. Nhưng cả hai yếu tố số lượng và chất lượng đều cần để tạo nên sức
mạnh quân đội trong chiến tranh và QP để giữ nước. Cho nên, ở hoàn cảnh
nước ta, phải có phương thức xây dựng quân đội làm sao lúc hòa bình, quân
thường trực có số lượng vừa đủ mà chất lượng cao, lại có quân dự bị hùng

đất hoang lập thành các trang trại lớn.
Sự phát triển của kinh tế điền trang thái ấp cùng với việc cho phép các
vương hầu quý tộc xây dựng phủ đệ và LLVT riêng vừa có ý nghĩa kinh tế
vừa có ý nghĩa quân sự, càng tăng thêm thế nước, chính quyền có thêm lực
lượng vật chất để bảo vệ vương quyền và phòng giữ đất nước.
Những thành tựu trên lĩnh vực kinh tế đã tạo ra những cơ sở vật chất
vững vàng cho sự tồn tại quốc gia độc lập tự chủ và mở ra những điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển nền văn hóa dân tộc.
Trong xã hội thời Lý - Trần, người nông dân công xã vẫn bảo lưu những
phong tục tập quán cổ truyền, và duy trì quan hệ cộng đồng chặt chẽ, sớm
kết hợp ý thức tình làng nghĩa xóm với ý thức quốc gia dân tộc, nước gắn
liền với làng. Yêu cầu của công cuộc giữ nước trong giai đoạn này đã thúc
đẩy nền văn hóa phát triển mang đậm ý thức dân tộc. Thơ Nam quốc sơn hà
và Lộ bố văn của Lý Thường Kiệt cùng với các sáng tác thời Trần như Hịch
GVHD: Bùi Thu Hằng SVTH: Nguyễn Thanh Lam
Trang 10
tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn, các áng văn thơ của Trần Nhân Tông, Trần
Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu.v.v… thể hiện sinh động
chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng và niềm kiêu hãnh với sự nghiệp
dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc.
Nhà Trần còn nêu lên các quan điểm về đại đoàn kết và xem đó như là
chính sách giữ nước, Trần Hưng Đạo nói rõ trong di chúc năm Canh tý
(1300) “Khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách để giữ
nước”.
Phương lược đó đã đáp ứng tốt mục tiêu của các triều đại Lý, Trần là
xây dựng chính quyền quân chủ tập trung vững mạnh làm cho quốc gia
thịnh vượng, “quốc phú binh cường”.
Đến đời Hậu Lê, để tăng cường lực lượng quân sự và củng cố QP, nhà
nước nắm độc quyền xây dựng LLVT cũng như sản xuất và sử dụng vũ khí.
Quyền xây dựng LLVT, quân lính được chia ruộng đất công của làng xã và

Minh đã tổng kết lịch sử dân tộc, qua đó Người đã kế thừa những truyền
thống của dân tộc về xây dựng lực lượng QP và tiếp thu quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin để nâng lên thành tư tưởng về QPTD của mình trong
thời đại mới, thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới.
1.2.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quốc phòng
toàn dân
Sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài để tìm đường cứu nước giúp dân
tộc thoát khỏi kiếp nô lệ, cơ duyên đã đến với Hồ Chí Minh, khi biết đến
Cách mạng tháng Mười Nga cùng với V.I.Lênin - người lãnh đạo thắng lợi
cuộc cách mạng đó. Mặt khác, vào tháng 7 năm 1920 khi Người đọc được
bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc
địa” của V.I.Lênin đã đưa Người đến bước ngoặc quyết định trong việc tìm
đường cứu nước. Từ chỗ chỉ biết đến Cách mạng tháng Mười Nga một cách
cảm tính, Người đã nghiên cứu hiểu một cách thấu đáo con đường Cách
mạng tháng Mười và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách
mạng này đem lại cho phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là bài học về
huy động và tập hợp quần chúng công - nông đông đảo để giành và giữ
chính quyền cách mạng mà trong đó sâu sắc nhất là những quan điểm về
QPTD, những kinh nghiệm đó được ghi trong các tác phẩm như: Bàn về
chiến tranh, quân đội, khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự; Cương lĩnh
quân sự của cách mạng vô sản; Chiến lược, chiến thuật quân sự trong thời
kỳ Cách mạng tháng Mười; Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô
Viết; Về vai trò của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng trong hệ
thống chuyên chính vô sản; Bàn về chiến tranh nhân dân.v.v…. Chủ nghĩa
Mác - Lênin đã trở thành cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư
tưởng Hồ Chí Minh về QPTD.
C.Mác, Ph.Ăngghen từng nhận định rằng: “Cách mạng vô sản sẽ là một
quá trình đấu tranh khóc liệt lâu dài; không những sẽ có tính chất dân tộc
mà sẽ đồng thời xảy ra ở trong tất cả các nước văn minh, tức là ít nhất ở
Anh, Mỹ, Pháp, Đức…” [6, tr.458], do đó, C.Mác, Ph.Ăngghen không đề

Xô - viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của
CNXH”[33, tr.102]. Sự nghiệp xây dựng đất nước, tăng cường khả năng QP
và bảo vệ Tổ quốc XHCN phải được kết hợp chặt chẽ với nhau, và là yêu
cầu tất yếu V.I.Lênin nhấn mạnh rằng: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị
khi nó biết tự vệ”[34, tr.29]. Ông còn đề ra lý luận và trực tiếp lãnh đạo
công cuộc phòng thủ đất nước, chống bọn can thiệp nước ngoài và nội
chiến trong những năm đầu của chính quyền Xô - viết còn non trẻ.
V.I.Lênin chỉ ra rằng sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN là của toàn dân
tộc, một dân tộc đã dành được Tổ quốc chân chính, tiến hành cuộc chiến
tranh chống bọn bóc lột, dân tộc đó là vô địch. Người dạy: “Không bao giờ
GVHD: Bùi Thu Hằng SVTH: Nguyễn Thanh Lam
Trang 13
người ta có thể chiến thắng một dân tộc mà đa số công nhân và nông dân đã
biết, đã cảm và trông thấy rằng họ bảo vệ chính quyền của mình, chính
quyền Xô - viết, chính quyền của những người lao động, rằng họ bảo vệ sự
nghiệp mà một khi thắng lợi sẽ đảm bảo cho họ, cũng như cho con cái họ,
có khả năng hưởng thụ mọi thành quả văn hóa, thành quả lao động của con
người”[35, tr.378].
Người nhắc nhở “phải có thái độ nghiêm túc đối với QP”[34, tr.480],
tuyệt đối không có thái độ khinh suất. Người còn căn dặn phải cảnh giác,
đánh giá đúng lực lượng của địch ta, không được chủ quan đánh giá thấp kẻ
thù. Người viết: “Điều nguy hiểm nhất là đánh giá thấp kẻ thù và tự ru ngủ
với tư tưởng cho rằng chúng ta là những kẻ mạnh hơn. Đó là điều nguy
hiểm nhất, đó là điều có thể dẫn tới thất bại”[37, tr.174].
Việc tăng cường QP thường gắn liền với phát triển kinh tế, chính trị - xã
hội và tinh thần của xã hội. Vì vậy, V.I.Lênin cho rằng việc nắm vững và
vận dụng các quy luật khách quan tác động trong những lĩnh vực đó của đời
sống xã hội, có ý nghĩa hết sức quan trọng để tăng cường sức mạnh QP.
Người viết: “Mối liên hệ giữa tổ chức quân sự của một nước với toàn bộ
chế kinh tế và văn hóa của nước ấy chưa bao giờ lại hết sức chặt chẽ như

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan niệm về vai trò và vị trí của quần
chúng nhân dân trong lịch sử hoàn toàn thống nhất với chủ nghĩa Mác -
Lênin, đối lập với những cách nhìn phiến diện, siêu hình, phản động của
giai cấp bóc lột. Đó là một cách nhìn mang tính khoa học và cách mạng về
nhân dân, động lực của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng
XHCN. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, giai cấp chủ nô phân chia xã hội
thành ba hạng người: giới quý tộc cai trị đất nước và những người có học
vấn; những vệ binh bảo vệ giai cấp thống trị; những công dân tự do gồm
nông dân và thợ thủ công. Còn giai cấp nô lệ chiếm số đông trong xã hội,
những người sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, không được coi
là “dân”, mà chỉ là “công cụ biết nói”. Dưới chế độ phong kiến, ở phương
Đông, điển hình là tư tưởng Nho giáo, quần chúng chỉ được coi là đám tiểu
nhân hèn kém, thiếu “đức nhân”, chỉ là hạng ngu dốt để những người quân
tử sai khiến. Các lý luận gia của giai cấp tư sản thời cận đại coi “dân” chỉ là
phương tiện, đối tượng phục vụ cho các mục đích của giai cấp thống trị.
Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, C.Mác, Ph.Ăngghen phê phán gay
gắt các quan điểm phản động đó.
Chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin mới có quan niệm khoa học và cách mạng
khi xem quần chúng là động lực của các cuộc cách mạng trong xã hội, là
những người sáng tạo nên lịch sử. Vì vậy, trong cuộc đấu tranh cải biến xã
hội cũ, xây dựng chế độ mới, V.I.Lênin cho rằng nếu “Không có sự đồng
tình và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiên phong của
mình, tức là đối với giai cấp vô sản thì không thể thực hiện được. Nhưng sự
đồng tình và ủng hộ đó không thể có ngay được và không phải do những
cuộc bỏ phiếu quyết định, mà phải trải qua cuộc đấu tranh giai cấp lâu dài,
khó khăn, gian khổ mới giành được”[36, tr.251]. Người cũng lưu ý, giai cấp
vô sản phải giành được sự đồng tình, ủng hộ của đa số nhân dân lao động,
điều đó không phải kết thúc ngay khi đã giành được chính quyền, mà còn
tiếp diễn dưới các hình thức khác khi đã trở thành giai cấp cầm quyền. Trên
GVHD: Bùi Thu Hằng SVTH: Nguyễn Thanh Lam

khác chưa hẳn được xem là “dân” nếu nó không còn vai trò tích cực, thậm
chí trở nên phản động. Chính vì vậy, ngay sau khi chính quyền cách mạng
thiết lập, Hồ Chí Minh chủ trương tập hợp, đoàn kết rộng rãi nhân dân, mời
cả những nhân sĩ, địa chủ tiến bộ tham gia bộ máy chính quyền. Xét về bản
chất, địa chủ là giai cấp bóc lột, phải đánh đổ trong tiến trình thực hiện hai
nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ. Xét trong điều kiện cụ thể
của giai đoạn cách mạng cần tập trung cho nhiệm vụ “dân tộc trên hết, Tổ
quốc trên hết” thì địa chủ yêu nước vẫn có đóng góp cho tiến bộ khi họ
GVHD: Bùi Thu Hằng SVTH: Nguyễn Thanh Lam
Trang 16
tham gia đánh đổ chủ nghĩa đế quốc - kẻ đang kìm hãm sự phát triển của
lịch sử dân tộc, đem lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc. Sau này trong tác
phẩm “Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam”, đồng chí Phạm Văn Đồng
có viết: “Ở Việt Nam lúc này, nhân dân là các giai cấp công nhân, nông
dân, tiểu tư sản thành thị, tư sản ái quốc và những người địa chủ yêu nước
và tiến bộ”. Nhưng phải đảm bảo mục tiêu cách mạng, khi kết thúc cách
mạng giải phóng dân tộc, cùng với thủ tiêu phương thức sản xuất phong
kiến lạc hậu thì giai cấp địa chủ cũng phải xóa bỏ. Đối với tư sản dân tộc,
Hồ Chí Minh nhận xét: “Trong một thời kỳ và một trình độ nhất định, giai
cấp tư sản dân tộc cũng là động lực cách mạng”.
Thừa nhận phạm vi rộng lớn của phạm trù “dân”, Hồ Chí Minh luôn chú
ý một mặt, đảm bảo sự bình đẳng của các giai cấp, tầng lớp, tránh rơi vào
chủ nghĩa biệt phái; mặt khác, không xóa nhòa ranh giới giữa các giai cấp,
tầng lớp, mà vẫn hết sức nhấn mạnh “cái lõi” của nhân dân là công nhân,
nông dân và lao động trí óc, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.
Thừa nhận phạm vi rộng lớn của phạm trù “dân”, khẳng định nhân dân là
động lực của cách mạng, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải đảm bảo quyền
bình đẳng để lôi kéo, thu hút được sức mạnh toàn dân đóng góp vào các
mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng. Vì vậy, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã chú ý
thể chế hóa quyền lực bình đẳng của công dân ngay trong Hiến pháp đầu

Điều quan trọng hơn hết trong quá trình vận động tập hợp quần chúng vào
một khối thống nhất để bảo vệ đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng của
nhân dân là làm cho nhân dân thấy được sự cần thiết xây dựng nền QPTD.
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân qua các
thời kỳ
Sự hình thành và đi đến hoàn thiện tư tưởng về QPTD của Hồ Chí
Minh, đó là những bước phát triển cùng với những thăng trầm của lịch sử
cách mạng Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến khi kết thúc cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước. Vì thế, có thể chia tư tưởng Hồ Chí Minh về
QPTD qua các thời kỳ 1945 - 1946, thời kỳ 1946 - 1954 và 1954 - 1975
(trong đó, tư tưởng về QPTD được tập hợp từ các bài nói, bài viết của
Người trong những năm 1954 đến 1969, từ năm 1969 - 1975 là khoảng thời
gian cách mạng Việt Nam vận dụng và phát triển tư tưởng của Người).
1.3.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân thời
kỳ 1945 - 1946
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một trang sử
mới cho nền độc lập của nước nhà, thế nhưng ngay từ lúc này chính quyền
cách mạng còn non trẻ phải đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Vì
vậy, yêu cầu đặt ra là phải nêu cao cảnh giác, xây dựng, củng cố QP để bảo
vệ chính quyền cách mạng của nhân dân; bảo vệ nền độc lập thống nhất của
Tổ quốc, chuẩn bị tiềm lực mọi mặt của đất nước cho cuộc kháng chiến
trường kỳ mà theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là không thể tránh khỏi.
Nhiệm vụ xây dựng QP ở nước ta là nhiệm vụ hết sức mới mẻ và đầy
thử thách đối với chính quyền cách mạng còn non trẻ, chúng ta chưa có
nhiều kinh nghiệm về QP và nước ta trước Cách mạng Tháng Tám là là một
nước phong kiến nửa thuộc địa, với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu; sau
GVHD: Bùi Thu Hằng SVTH: Nguyễn Thanh Lam
Trang 18
cách mạng tiềm lực kinh tế, quân sự có thể huy động được cho sự nghiệp
QP còn rất hạn chế. Mặc dù vậy, những định hướng cơ bản về xây dựng nền

kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn
lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”[15, tr.469]. Trong Lời tuyên
bố với phóng viên báo Pari - Sài Gòn Người nhấn mạnh: “Đồng bào tôi và
tôi thực sự muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh…”; “Nước
Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng
GVHD: Bùi Thu Hằng SVTH: Nguyễn Thanh Lam
Trang 19
bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh ấy nếu người ta buộc chúng
tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm”[15, tr.473], sau đó cả nước tổ chức “Ngày
toàn quốc kháng chiến” để biểu thị sự ủng hộ của cả dân tộc với đồng bào
Nam bộ.
Tại cuộc mít tinh ngày 5 tháng 11 năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã
giải thích rõ: “Chúng ta không đi cướp nước ai. Chúng ta chỉ giữ gìn nước
ta và chống lại bọn Pháp đi cướp nước…”, bọn thực dân Pháp phải biết
rằng, dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hòa
bình, nhưng nếu cần phải hi sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng
chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con
cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn “kiên quyết hi sinh và
kháng chiến”.
Năm 1945 - 1946 sau Cách mạng Tháng Tám là một thời gian lịch sử
ngắn nhưng đầy khó khăn và phức tạp và biến động mau lẹ. Chúng ta vừa
lo củng cố chính quyền, khôi phục sản xuất, tổ chức cai quản xây dựng chế
độ mới; vừa phải lo đối phó với thù trong, giặc ngoài và chuẩn bị mọi mặt
cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đến gần. Lúc này, Chủ tịch
Hồ Chí Minh - người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta, chèo lái con thuyền
cách mạng Việt Nam với bồn bề công việc cấp bách. Đặc biệt Người rất nỗ
lực trong hoạt động ngoại giao, tìm kiếm các giải pháp chính trị, tận dụng
triệt để mọi cơ hội để cứu vãn hòa bình cho đất nước. Đồng thời với quá
trình tìm giải pháp chính trị và nhất là khi mọi nỗ lực giữ gìn hòa bình,
thống nhất bằng con đường ngoại giao chính trị đã trở nên vô vọng, Chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status