Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và phát triển của phép biện chứng duy vật và sự vận dụng hai nguyên lý đó ở Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam - Pdf 25

1


2

HÀ NỘI – 2007

4

MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1:NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

8
1.1. Phép biện chứng duy vật
8
1.2. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển
12
1.2.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
13
1.2.2. Nguyên lý về sự phát triển
19
1.3. Nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến và nguyên lý về sự phát triển

25
1.3.1 Quan điểm toàn diện
25

giai đoạn hiện nay ở Việt Nam

68
5

3.2.1. Quan điểm toàn diện
3.2.2. Quan điểm lịch sử - cụ thể
69
75
3.2.3. Quan điểm phát triển
79
KẾT LUẬN
85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
88

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Núi v ch tch H Chớ Minh, tin s M. Ahmed, giỏm c Unesco khu
vc Chõu Thỏi Bỡnh Dng, i din c bit ca tng giỏm c Unesco
ó vit:
Ch cú ớt nhõn vt trong lch s tr thnh mt b phn ca huyn thoi
ngay khi cũn sng, v rừ rng H Chớ Minh l mt trong s ú. Ngi s c
ghi nh khụng phi ch l ngi gii phúng cho T quc v nhõn dõn b ụ h,
m cũn l mt nh hin trit hin i ó mang li mt vin cnh mi v hy
vng mi cho nhng ngi ang u tranh khụng khoan nhng loi b bt
cụng, bt bỡnh ng trờn trỏi t ny [37, 37].
Ch tch H Chớ Minh l v lónh t v i kớnh yờu ca dõn tc Vit
Nam. Trong lch s nhõn loi th k XX, Ngi c coi l mt biu tng
kit xut, ó cng hin trn i cho s nghip gii phúng dõn tc ca nhõn dõn
Vit Nam, gúp phn vo cuc u tranh chung ca nhõn loi vỡ
ho bỡnh, c lp dõn tc, dõn ch v tin b xó hi. Vi nhng úng gúp to
ln y, nm 1990 Ngi ó c tụn vinh l Anh hựng gii phúng dõn tc,
Danh nhõn vn hoỏ th gii.
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đảng cộng sản Việt
Nam đã khẳng định: Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, t- t-ởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng t- t-ởng và kim chỉ nam cho hnh động [17; 127 - 128].
T- t-ởng Hồ Chí Minh là một hệ thống lí luận bao gồm nhiều lĩnh vực
rộng lớn và vô cùng phong phú. Trong đó, sự vận dụng và phát triển sáng tạo
những nguyên lý của phép biện chứng duy vật trong lãnh o cách mạng Việt
Nam ở Hồ Chí Minh đ-ợc xem là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản
vô giá mà Ng-ời đã để lại cho dân tộc và nhân loại.
Thực tế đổi mới của đất n-ớc ta 20 năm qua - tuy ó t c những
thành tựu to lớn song vẫn còn nhiều hạn ch - ó ch ra cho chỳng ta thy: khi
no chỳng ta nm vng lớ lun phộp bin chng duy vt, bit vn dng mt
7


Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm g-ơng cách mạng tuyệt vời. Ngi
không ch có những đóng góp to lớn cho phong trào cách mạng giải phóng dân
tộc và cộng sản quốc tế mà Ngi còn là nhà t- t-ởng, nhà văn hoá lớn của
nhân loại. Những quan điểm lí luận và giá trị t- t-ởng ở nhiều ph-ơng diện
cựng nhng phẩm chất cao quý, khí phách anh hùng của Ng-ời đã trở thành tài
sản vô giá của phong trào cách mạng và nhân loại tiến bộ thế giới. Vì thế, t-
t-ởng Hồ Chí Minh, con ng-ời, nhân cách Hồ Chí Minh đã trở thành đối t-ợng
tập trung nghiên cứu không chỉ của nhân dân Vit Nam mà còn của nhiều chính
khách và giới khoa học thế giới. nc ta trong nhng nm gn õy, vic
nghiờn cu t tng H Chớ Minh ngy cng c y mnh v bc u ó
cú c nhng thnh qu nht nh. Tỡm hiu v vn dng t tng H Chớ
Minh vo s nghip cụng nghip hoỏ - hin i hoỏ t nc đang l vn
c ng v Nh nc ta rt quan tâm. Vn ny c xem l mt trong
nhng lnh vc ch yu ca nghiờn cu lý lun v khoa hc xó hi nhân vn.
Cho đến nay đã có hàng nghìn công trình, bài viết về chủ tịch Hồ Chí Minh,
trong ú cú c cụng trỡnh cp nh nc KX.02. Cụng trỡnh ny ó huy ng
ụng o cỏc nh khoa hc nhiu chuyờn ngnh khỏc nhau tham gia nghiờn cu
mt cỏch trc tip, c bn v cú h thng v t tng H Chớ Minh. Tuy nhiờn,
trong thi k hin nay, theo nh nhiu nh nghiờn cu ó nhn xột: nhng
cụng trỡnh b th, cú quy mụ ln, cú tm vúc v t tng v hc thut tng
xng vi giỏ tr v ý ngha ca s nghip H Chớ Minh, t tng H Chớ Minh
cha nhiu [13; 33]. c bit, những công trình chuyên khảo nghiên cứu t-
t-ởng triết học hay triết lý của Hồ Chí Minh, t- t-ởng biện chứng của Hồ Chí
Minh với t- cách là một đối t-ợng nghiên cứu độc lập - ở n-ớc ta lại càng ít
ỏi. Núi nh Lê Hữu Nghĩa, đây là một khu vực còn nhiều chỗ trống trải trong
nghiên cứu về t- t-ởng Hồ Chí Minh. Thống nhất với quan điểm ú, Hoàng Chí
Bảo cũng nhấn mạnh: các công trình nghiên cứu về t- t-ởng triết học Hồ Chí
Minh, t- t-ởng biện chứng Hồ Chí Minh còn ít ng-ời bàn đến.
Viết về vấn đề này, thực tế cho đến nay đã có các công trình nghiên cứu

ng ta ó vn dng sỏng to quan im bin chng H Chớ Minh phự hp vi
xu th vn ng v phỏt trin ca lch s vi phng chõm D bt bin ng
10

vn bin. Nh th, ng ta ó xỏc nh ỳng trng tõm, trng im, ỏp ng
c nhim v trc mt v lõu di ca cỏch mng Vit Nam trờn tinh thn ph
nh cú k tha i mi v phỏt trin. Do ú, cụng cuc i mi ton din
t nc ta gn 20 nm qua tuy cũn nhiu mt yu kộm, khim khuyt, song ó
t c nhng thnh tu to ln. c bit, nhn thc v ch ngha xó hi v
con ng i lờn ch ngha xó hi nc ta ngy cng ỳng n hn, sõu sc
hn. Bờn cnh nhng vn trờn, tỏc gi cũn ch ra mt s tiờn oỏn ti tỡnh
ca H Chớ Minh v nhng s kin ln, cú tớnh bc ngot ca lch s.
Trong Tp chớ trit hc s 4 thỏng 7 nm 2001, Nguyn c t cng
ó khỏi quỏt v trỡnh by mt s cỏc quan im bin chng H Chớ Minh. Tỏc
gi nhn mnh: Quan im bin chng H Chớ Minh khụng ch l s phn ỏnh
m cũn l s vn dng nhng nguyờn lý ca ch ngha duy vt bin chng v
phộp bin chng duy vt vo hin thc c th sng ng ca cỏch mng Vit
Nam, xó hi Vit Nam. Ni dung, quan im ca H Chớ Minh rt phong phỳ,
ũi hi cn phi cú s nghiờn cu cụng phu ỏp dng vo cụng cuc i mi
ca t nc. Bờn cnh ú, tỏc gi cng ch rừ: chỳng ta khụng c phộp coi
quan im bin chng H Chớ Minh l cỏi ó sp sn cho mi li gii ỏp m
ch nờn xem nú l phng thc hu hiu nht tỡm ra li gii ỏp cho hin
thc sng ng.
Trong cuốn Góp phần tìm hiểu đặc sắc t- duy triết học Hồ Chí Minh"
của Hồ Kiếm Việt, tỏc gi ó tp trung nghiờn cu mt cỏch cú h thng v t
duy trit hc H Chớ Minh. ú l t duy trit hc phỏt trin trờn nn tng trit
hc Mỏc - Lờnin, ng thi k tha trit lý dõn tc Vit Nam, bao gm trong ú
tinh hoa trit lý Phng ụng, ch yu l Nho hc vn c bn nht l quan
h Thiờn Nhõn ó c Vit hoỏ, hng s ci bin cỏch mng i vi xó
hi, giỏo hoỏ con ngi, vỡ con ngi v phỏt huy nhõn t con ngi. Vỡ th, nú

+ Lm rừ s vn dng hai nguyờn lý ca phộp bin chng duy vật Hồ
Chí Minh trong cách mạng Việt Nam.
+ Nêu lên bài học vận dụng quan im biện chứng duy vật của Hồ Chí
Minh trong sự nghiệp đổi mới Vit Nam hiện nay.
4. i tng v phm vi nghiờn cu
12

- Lun vn nghiờn cu nguyờn lý v mi liờn h ph bin v v s phỏt
trin, s vn dng hai nguyờn lý ú H Chớ Minh trong cỏch mng Vit Nam
- ch yu l thi k cỏch mng dõn tc dõn ch nhõn dõn v giai on u xõy
dng ch ngha xó hi; ng thi nghiờn cu s vn dng cỏc quan im bin
chng ca H Chớ Minh vo thi k cụng nghip húa, hin i húa t nc
Vit Nam trong giai on hin nay.
5. C s lớ lun v phng phỏp nghiờn cu
- C s lớ lun: Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về
phép biện chứng duy vt, đồng thời kế thừa kết quả nghiên cứu của những
ng-ời đi tr-ớc.
- Ph-ơng pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng các ph-ơng pháp: phân tích -
tổng hợp, ph-ơng pháp so sỏnh, ph-ơng pháp lôgíc và lịch sử, ph-ơng pháp hệ
thống.
6. úng gúp mi ca lun vn
- Lun vn gúp phn lm sỏng t sự vận dụng, phát triển các nguyên lý
của phép biện chứng duy vật Hồ Chí Minh vào trong quá trình chỉ đạo cách
mạng Việt Nam, từ đó thấy đ-ợc ý nghĩa to lớn của nó đối với sự nghiệp đổi
mới đất n-ớc trong giai đoạn hiện nay.
7. í ngha lớ lun v thc tin ca lun vn
* í nghĩa lý luận: Luận văn làm sáng tỏ quan im biện chứng duy vật
trong cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh, góp phần vào việc định h-ớng
đúng đắn về chủ tr-ơng, đ-ờng lối xây dựng đất n-ớc trong công cuộc i mi
Vit Nam trong giai on hin nay.

biện chứng đ-ợc xem là ph-ơng pháp khoa học, là công cụ để nhận thức thế
giới ngày càng đúng đắn, sâu sắc hơn, để cải tạo thế giới ngày càng hiệu quả
hơn, theo những quy luật khách quan của nó.
Ph-ơng pháp biện chứng là ph-ơng pháp nhận thức đối t-ợng ở trong các
mối liên hệ với nhau, ảnh h-ởng ln nhau, ràng buộc nhau; nhận thức đối t-ợng
ở trạng thái vận động, biến đổi, nằm trong khuynh h-ớng chung là phát triển.
Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện t-ợng mà nguồn gốc của
14

sự thay đổi ấy là do sự đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn
nội tại của chúng.
Ph-ơng pháp biện chứng thể hiện t- duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa
nhận trong những tr-ờng hợp cần thiết, bên cnh ci hoặc lhoặc là còn
có c ci vụa lvừa là; nó thừa nhận một chỉnh thể trong cùng một lúc
vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định,
vừa loại trừ nhau đồng thời lại vừa gắn bó với nhau.
Ph-ơng pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng nh- nó tồn tại. Nhờ
vậy, ph-ơng pháp t- duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con ng-ời
nhận thức và cải tạo thế giới.
Cùng với sự phát triển của t- duy con ng-ời, ph-ơng pháp biện chứng tri
qua ba giai đoạn phát triển, đ-ợc thể hiện trong trit học với ba hình thức lịch sử
của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát ngây thơ thời kì cổ đại, phép biện
chứng duy tâm (cổ điển Đức), phép biện chứng duy vật (do C. Mác, Ph.
Ăngghen xây dựng, sau đó đ-ợc V.I. Lênin phát triển).
*Phộp bin chng t phỏt, ngõy th thi k c i
Ngay t thi c i, nhng yu t bin chng t phỏt u tiờn ó bt u
xut hin. Chỳng gn lin vi nhng kin gii theo quan im duy vt. Khi xem
xột th gii, ngi ta ó nhn thy mt bc tranh tng quỏt, trong ú, cỏc s
vt, hin tng cú mi liờn h chng cht vi nhau, tỏc ng ln nhau, khụng cú
cỏi gỡ ng im m tt c u vn ng, bin hoỏ. Nhng yu t bin chng y

Ăng ghen và V.I. Lênin cũng hết sức phê phán những tư tưởng sai lầm, duy
tâm, phản động của Hêghen. Các ông đã cải tạo triệt để phép biện chứng của
Hêghen, đã tước bỏ đi những cái gì là thần bí, là phiến diện, làm cho phép biện
chứng của Hêghen đi bằng “chân” chứ không phải đi bằng “đầu”. Trong tác
phẩm Tư bản, C. Mác viết: “Phương pháp biện chứng của tôi chẳng những
khác về căn bản với phương pháp biện chứng của Hê ghen mà còn đối lập với
phương pháp đó. Đối với Hê ghen, quá trình của tư duy mà ông đã đặt cho cái
tên là ý niệm, là đấng sáng tạo ra hiện thực, còn hiện thực chỉ là biểu hiện bề
16

ngoi ca ý nim m thụi. i vi tụi thỡ trỏi li, s vn ng ca t duy ch l
phn ỏnh ca s vn ng hin thc, di chuyn v bin hỡnh vo trong u úc
con ngi [57, 35]. Cú th núi, ch cú cỏc ụng mi phỏt hin ra phộp bin
chng tht s tn ti trong th gii khỏch quan, t ú a tri thc ca loi
ngi tin thờm mt bc na trong quỏ trỡnh nhn thc t nhiờn. Trong trit
hc ca C. Mỏc, Ph. ngghen v V.I. Lờnin, ch ngha duy vt ó khc phc
c mi hn ch trc õy, cũn phộp bin chng cng c trỡnh by theo
bn cht vn cú ca nú - tc l trỡnh by trờn c s duy vt, da trờn nn tng
vng chc ca khoa hc t nhiờn. Phộp bin chng duy vt ó tr thnh mt
hc thuyt thc s khoa hc, mt phng phỏp lun tiờn tin dựng nhn thc
v ci to th gii.
Trong tỏc phm Chng uy Rinh, Ph. ngghen ó nh ngha hon chnh
v phộp bin chng:
Phộp bin chng chng qua ch l mụn khoa hc v nhng quy lut ph
bin ca s vn ng v phỏt trin ca t nhiờn, xó hi loi ngi v ca t
duy [1, 201].
Cũn i vi C. Mỏc, ụng cng coi phộp bin chng l khoa hc v
nhng quy lut chung ca s vn ng ca th gii bờn ngoi cng nh ca t
duy con ngi [43, 111].
Phộp bin chng duy vt c coi l mt khoa hc song nú khỏc vi

Nam.
1.2. Nguyờn lý v mi liờn h ph bin v nguyờn lý v s phỏt trin
Th gii vt cht rt a dng, phong phỳ v muụn hỡnh muụn v. Tuy
nhiờn, th gii vn thng nht tớnh vt cht ca nú. Th gii vt cht tn ti
trong s vn ng vnh vin v tuõn theo nhng quy lut khỏch quan ca bn
thõn s vt, hin tng.
Song, vn t ra l: trong s thng nht y, cỏc s vt v hin tng
cú mi liờn h vi nhau hay l tn ti mt cỏch n l? V trong s vn ng
vnh vin ú, th gii i mi khụng ngng hay l i theo mt vũng tun hon
khộp kớn, lp li cỏi c?
Tr li cõu hi ny cú hai quan im i lp nhau: quan im bin chng
v quan im siờu hỡnh. Phộp bin chng cho rng: Mi s vt, hin tng trờn
18

thế giới đều có mối liên hệ hữu cơ với nhau và luôn luôn vận động, phát triển.
Trái lại, phép siêu hình lại khẳng định: Mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới đều
tồn tại độc lập, tách rời nhau, luôn lặp lại cái cũ, không có sự đổi mới và phát
triển.
Phép biện chứng duy vật đã giải thích quan điểm của mình một cách
hoàn chỉnh trong hai nguyên lý: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý
về sự phát triển của sự vật, hiện tượng.
1.2.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
* Khái niệm về mối liên hệ phổ biến
Khi xem xét và phân tích thế giới khách quan (tự nhiên và xã hội), người
ta đã nhận thấy có một đặc điểm nổi bật là: mọi sự vật và hiện tượng trong thế
giới đều liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau, hình thành một màng lưới phức
tạp, vô cùng vô tận, tuyệt đối không có một sự vật hiện tượng nào tồn tại một
cách biệt lập, tách rời nhau. Thông qua những mối liên hệ, sự tác động qua lại
lẫn nhau ấy, các sự vật hiện tượng mới có thể biểu hiện sự tồn tại của mình, bộc
lộ bản chất và tính quy luật của chúng trong thế giới. Phép biện chứng duy vật

39]. Điều đó cũng có nghĩa, phép biện chứng với tư cách là học thuyết về sự
liên hệ phổ biến, không phải là sự phỏng đoán trực quan (giống như các nhà
biện chứng thời cổ đại), mà là học thuyết dựa chắc trên cơ sở khoa học. Thế
giới là một bức tranh chằng chịt các mối liên hệ và tác động qua lại. Bất cứ một
sự vật, hiện tượng nào cũng có mối quan hệ với tất cả các sự vật, hiện tượng
khác. Nếu như trước kia người ta cho rằng giữa giới vô cơ và giới hữu cơ có
một ranh giới tuyệt đối, thì ngay từ đầu thế kỷ XIX, các nhà hoá học đã chứng
minh từ chất vô cơ có thể tạo ra được các hợp chất hữu cơ. Do đó, lần đầu tiên
trong lịch sử nhận thức của nhân loại, cái “hố sâu” ngăn cách giữa tự nhiên vô
cơ và giới hữu cơ bị lấp kín. Người ta đã nhận thấy bản thân sinh vật chính là
kết quả của vật chất vô cơ, nhưng đồng thời cũng lại là nguyên nhân tác động
đến vật chất vô cơ. Con người chính là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên, là
một bộ phận của tự nhiên, song, dù muốn hay không, con người vẫn luôn phải
chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác xung quanh và các yếu tố
20

ngay trong chính bản thân con người. Đồng thời, cùng với sự vận động và phát
triển của lịch sử nhân loại, để tồn tại, con người cũng có sự tác động trở lại với
những sự vật và hiện tượng đó.
Tính phổ biến
Khi phân tích thế giới khách quan, phép siêu hình đã tuyệt đối hoá tính
độc lập tương đối của sự vật, hiện tượng, coi chúng không có mối liên hệ gì với
nhau. Nó cô lập sự vật, hiện tượng ra khỏi điều kiện tồn tại của chúng, đồng
thời cắt đứt quá trình lịch sử của sự vật và hiện tượng. Nhìn vào bức tranh
chung của thế giới, phép siêu hình chỉ thấy đươc sự vật cá biệt mà không thấy
mối liên hệ giữa các sự vật ấy, chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà không thấy
được sự “sinh thành” cũng như “tiêu vong” của sự vật, chỉ thấy “cây” mà
không thấy “rừng”. Do đó, phép siêu hình đã không thể giải thích đựơc tại sao
giữa các mặt, các bộ phận, các quá trình của sự vật cũng như giữa sự vật này và
sự vật khác lại có những mối liên hệ như vậy mà không phải là mối liên hệ

chuyển hoá của chúng từ giai đoạn này, quá trình này sang giai đoạn khác, quá
trình khác. Bởi vì, trong bản thân mỗi sự vật và hiện tượng đã mang sẵn những
nhân tố có thể cấu thành sự vật và hiện tượng khác trong những điều kiện nhất
định.
Trên thực tế, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã từng gọi
phép biện chứng là khoa học về những mối liên hệ. Bởi vì, bất cứ một sự vật,
hiện tượng nào trong thế giới cũng đều có mối liên hệ với các sự vật, hiện
tượng khác, không có sự vật và hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ. Người
ta nghiên cứu thấy những cánh bướm chập chờn bay ở rừng Amazôn cũng có
sự liên quan đến một cơn bão của Hồng Kông, sự lên xuống của thuỷ triều cũng
có sự liên quan đến mặt trăng, cũng như sự xuất hiện hiện tượng sao chổi cũng
có liên quan đến những sự kiện lớn trên thế giới. Con người sống và tồn tại nhờ
vào việc khai thác giới tự nhiên, tác động vào giới tự nhiên, song ngược lại,
giới tự nhiên với tư cách là môi trường sống của con người, luôn có sự ảnh
hưởng lớn đến con người. Sự tàn phá, khai thác nhiên một cách bừa bãi của loài
người sẽ làm giới tự nhiên trả thù bằng các hiện tượng “sóng thần”, bằng bão
22

lũ, bằng hạn hán, làm cho trái đất nóng lên, đe doạ tới sự sống của con người
và tuổi thọ của trái đất…
Không chỉ có tự nhiên mà cả xã hội loài người cũng vận động theo
“nhịp” biện chứng. Trong lĩnh vực xã hội, người ta nhận thấy mối quan hệ giữa
con người với con người là tất yếu khách quan. Do nhu cầu sống và tồn tại, con
người buộc phải có mối quan hệ qua lại với nhau, tác động lẫn nhau (mà cơ sở
của mối quan hệ ấy là lợi ích).
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái kinh
tế - xã hội khác nhau. Mỗi một hình thái kinh tế - xã hội là một thể thống nhất
hữu cơ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng. Trong đó, các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, các hình
thái ý thức xã hội đồng thời cũng có sự liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau.

là mối liên hệ bên trong, còn mối liên hệ giữa xã hội với hoàn cảnh địa lý tự
nhiên được coi là mối liên hệ bên ngoài. Trong đó, mối liên hệ bên trong và
mối liên hệ bên ngoài có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau song
mối liên hệ bên trong là nhân tố chủ yếu. Nó quyết định bản chất, khả năng
biến hoá vốn có của sự vật và hiện tượng, quyết định mức độ ảnh hưởng của
điều kiện bên ngoài đối với sự vật ấy. Mối liên hệ bên ngoài, nhìn chung,
không giữ vai trò quyết định, thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới
có thể tác động đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật. Tuy nhiên,
mối liên hệ bên ngoài cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng. Đặc biệt, trong
những điều kiện nhất định, nó có thể giữ vai trò quyết định. Chẳng hạn như:
Ngày nay, sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới đang
tạo ra thời cơ, đồng thời cũng tạo ra những thách thức to lớn đối với các nước
chậm phát triển – trong đó có Việt Nam. Đất nước ta có tranh thủ được thời cơ
do cuộc cách mạng đó tạo ra hay không, trước hết và chủ yếu phụ thuộc vào sự
“tự lực cách sinh”, vào năng lực của Đảng, của nhà nước và nhân dân ta. Song,
chúng ta cũng khó có thể xây dựng được một đất nước “dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” nếu không hội nhập quốc tế, không tận
24

dụng được những thành quả của các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
mà thế giới đã đạt được.
Cũng giống như xét quan hệ giữa mối liên hệ bên trong và mối liên hệ
bên ngoài, người ta nhận thấy các cặp mối liên hệ khác cũng có mối quan hệ
biện chứng với nhau. Ở mỗi cặp mối liên hệ lại có những đặc trưng riêng. Và
trong các cặp mối liên hệ ấy, nhìn chung, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất
nhiên, mối liên hệ chủ yếu thường giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên, tùy theo
những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, cũng có những khi các mối liên hệ tương
ứng với chúng lại giữ vai trò quyết định. Nói cách khác, sự phân chia các mối
liên hệ trong từng cặp chỉ mang tính chất tương đối. Trong từng cặp mối liên
hệ, các loại mối liên hệ có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ theo phạm vi bao quát

đổi và phát triển trong thế giới. Ph. Ăngghen đã chỉ rõ hạn chế của phương
pháp siêu hình: phương pháp siêu hình truyền cho chúng ta một thói quen là
“xem xét những sự vật tự nhiên và quá trình tự nhiên trong trạng thái biệt lập
của chúng, ở bên ngoài mối liên hệ to lớn chung, và do đó không xem xét
chúng trong trạng thái vận động mà xem xét trong trạng thái tĩnh; không coi
chúng về cơ bản là biến đổi mà coi chúng là vĩnh viễn không biến đổi, không
xem xét chúng trong trạng thái trạng thái sống mà xem xét chúng trong trạng
thái chết” [1; 36]. Tuy nhiên, cũng có các nhà triết học siêu hình thừa nhận có
sự vận động, phát triển trong thế giới. Bởi trước những sự thật không thể chối
cãi được, đặc biệt là trước áp lực của các tài liệu khoa học lúc bấy giờ, các nhà
triết học siêu hình cũng khó mà phủ nhận sự phát triển. Song, khi nói về sự phát
triển, theo họ, nếu có phát triển thì phát triển chỉ là sự tăng hoặc giảm đơn
thuần về lượng mà không có sự biến đổi về chất. Nó diễn ra theo một vòng tuần
hoàn khép kín, không có những bước thăng trầm, quanh co, phức tạp. Đặc biệt,
trong con mắt của các nhà siêu hình, nguồn gốc, động lực của sự phát triển
không phải do mâu thuẫn bên trong của sự vật mà do sự tác động của những
lực lượng bên ngoài như thượng đế.
26

Trái lại, phép biện chứng duy vật, dựa trên sự khái quát những thành quả
của khoa học tự nhiên, đã chỉ ra: thế giới là một bức tranh chằng chịt các mối
liên hệ, trong đó mọi sự vật và hiện tượng không phải đứng yên một chỗ mà
chúng luôn vận động, phát triển tuân theo những quy luật nhất định.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển là một
phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.
*Tính chất của sự phát triển
Tính khách quan
Thế giới vật chất thật muôn hình muôn vẻ. Song, thế giới vẫn thống nhất
ở tính vật chất của nó. Thực tiễn cuộc sống, với những phát minh khoa học, đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status