Viện khoa học xã hội việt nam
Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học
xã hội và nhân văn
Viện triết học
Đặng Minh Tiến
Nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan trong Hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp
ở nước ta hiện nay Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 80 Luận văn thạc sĩ Triết học
Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát huy 51
Nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan 51
ở các doanh nghiệp nước ta hiện nay 51
2.1. Thực trạng việc phát huy nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan ở các doanh
nghiệp Nhà nước ở nước ta hiện nay 51 2
2.1.1. Trước đổi mới ( 1986 ) 51
2.1.2. Sau đổi mới ( từ 1986 đến nay) 54
2.2. Một số nhóm giải pháp nhằm phát huy nhân tố chủ quan và nhân tố khách
quan trong các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta hiện nay 69
2.2.1. Nhóm giải pháp nhằm phát huy nhân tố khách quan 69
2.2.2. Nhóm giải pháp phát huy nhân tố chủ quan 75
Kết luận 87
nghiệp trong sự phát triển kinh tế nói riêng, của đất nước nói chung là không thể
phủ nhận. 4
Vậy thì, làm thế nào để doanh nghiệp ngày càng trở lên vững mạnh và phát
triển bền vững trong quá trình toàn cầu hoá, cũng như góp phần vào công cuộc
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hiện nay? Điều này trước hết phụ thuộc
rất lớn vào chính bản thân các doanh nghiệp trong việc phát huy nhân tố chủ quan
và nhân tố khách quan đem lại. Mặt khác, nó còn phụ thuộc vào chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế - thương mại khu
vực và quốc tế. Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, Đảng và Nhà
nước ta chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần
phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ
và định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc… Điều này được
khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Đại hội đánh dấu
quá trình đổi mới kinh tế đất nước từ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
sang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Nói cách khác, việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa đã trở thành chủ trương lớn trong đường lối, sách lược phát triển đất nước đi
lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Tại Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng
ta khẳng định: “ Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương phát triển mạnh các
thành phần kinh tế: xoá bỏ phân biệt đối xử; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh
bình đẳng minh bạch, ổn định chính sách, thông thoáng và thuận lợi hơn, bảo đảm
quyền của mọi người dân được tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà
pháp luật không cấm “ 15, tr.81*
Có thể nói, việc nhận thức và đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò của nhân tố
chủ quan và nhân tố khách quan và mối quan hệ giữa chúng, nhằm khai thác tác
động tích cực của nhân tố khách quan; đồng thời, phát huy tính chủ động, năng
của các khái niệm “chủ thể ”, “khách thể ” , “chủ quan” , “khách quan” , “nhân tố
chủ quan” , “nhân tố khách quan”. Tuy nhiên, về nội dung của các khái niệm này,
đặc biệt là các khái niệm “nhân tố chủ quan” , “nhân tố khách quan” cũng có nhiều
ý kiến chưa thống nhất hoàn toàn.
Ở Việt Nam, vấn đề nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan tuy cũng được
nghiên cứu và đề cập tới trên cả bình diện lý luận và thực tiễn nhưng chưa nhiều.
Vào những năm trước đổi mới, khi nói đến bệnh chủ quan duy ý chí thì vấn đề 6
nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan được bàn đến nhiều ở nước ta. Sau này
trên các sách báo và tạp chí lý luận cũng đã có nhiều bài viết đề cập đến việc phát
huy nhân tố chủ quan. Nghiên cứu về vấn đề này có thể kể đến một số công trình
sau: “ Vấn đề phát huy và sử dụng đúng đắn tác dụng năng động của nhân tố chủ
quan ” của Lê Hữu Tầng, trong cuốn “ Đại hội V, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
”, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1984; “ Nhân tố chủ quan trong cơ chế vận dụng
và trong hoạt động của các quy luật xã hội ” của Lương Việt Hải, Tạp chí Triết
học, số 04/1986; “ Những yếu tố cơ bản tăng cường chất lượng của nhân tố chủ
quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ” của Trần Bảo, Tạp chí Triết học, số
03/1991; “ Vị trí, vai trò của nhân tố chủ quan trong cơ chế tác động của quy luật
xã hội ” của Phạm Văn Đức, Tạp chí Triết học, số 03/1989; “ Về nhân tố chủ
quan và nhân tố khách quan: một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay
”, Luận án tiến sỹ triết học của Phạm Ngọc Minh.
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã xem xét rất nhiều khía cạnh và nội dung
khác nhau của mối quan hệ giữa nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan; giữa tác
động của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan… Tuy vậy, trong các công
trình nghiên cứu đó cũng có nhiều quan điểm chưa thống nhất.
Tóm lại, việc nghiên cứu nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan các tác
giả chỉ dừng lại ở bình diện nghiên cứu lý luận chung mà chưa nghiên cứu một
cách có hệ thống trên tất cả các lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội. Vì
quan ở các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đó là sự vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc
biệt là các quan điểm về tồn tại xã hội và ý thức xã hội; chủ thể và khách thể; nhân
tố chủ quan và nhân tố khách quan; kết hợp với các quan điểm, lý luận, đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về mối quan hệ biện chứng giữa
nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan trong hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp Nhà nước để phân tích vai trò của nhân tố chủ quan và nhân tố
khách quan trong hoạt động doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta hiện nay. 8
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với
phương pháp lôgíc; đồng thời, kết hợp với phương pháp của một số môn khoa học
khác như kinh tế học, khoa học quản lý ; qua đó, tạo ra cách tiếp cận tổng hợp để
nghiên cứu các hiện tượng xã hội cụ thể nhằm phân tích, làm rõ các nhân tố khách
quan và nhân tố chủ quan trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ở
nước ta hiện nay. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác, như
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, hệ thống hoá và khái quát hoá…
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần:
Một là, xác định vai trò của nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan trong
hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước đối với sự phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Hai là, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nhân tố chủ quan và nhân tố
khách quan ở các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của đường lối đổi mới và xây
dựng, phát triển kinh tế đất nước của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện
nay, đặc biệt là việc chú trọng và phát huy nhân tố con người trong hoạt động của
nhân tố khách quan, bao giờ cũng phải gắn với các hoạt động nói chung của con người
không chỉ ở trong hoạt động nhận thức mà ngay cả trong hoạt động thực tiễn nữa.
Cặp khái niệm nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan có liên quan đến một loạt
các cặp phạm trù khác, như: chủ thể - khách thể, khách quan - chủ quan…Vì vậy, để có
thể hiểu rõ khái niệm nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan, chúng ta cần phải làm rõ
các phạm trù chủ thể và khách thể, khách quan và chủ quan cũng như mối quan hệ giữa
các phạm trù này. 10
Chủ thể - đó là con người nhận thức và cải tạo thế giới xung quanh cũng như
chính bản thân mình. Nhìn chung, tuyệt đại đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất với
nhau về nội dung này của khái niệm chủ thể. Chỉ có sự tác động vào thế giới xung quanh
( cả giới tự nhiên và đời sống xã hội ), chỉ có thông qua hoạt động cụ thể của con người,
con người mới bộc lộ mình với tư cách là chủ thể. Mặt khác, tuỳ thuộc vào các cấp độ
xem xét mà chủ thể có thể là loài người, có thể là một giai cấp, một dân tộc, một nhóm
người hay một cá nhân nào đó…
Con người ở đây với tư cách là chủ thể, là một thực thể xã hội có quan hệ với thế
giới xung quanh. Nói cách khác, con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, đồng thời là
chủ thể sáng tạo ra hoàn cảnh. Hoạt động của con người nhằm thể hiện sức mạnh bản
chất của nó thông qua việc nắm và sử dụng được các công cụ, phương tiện của họat
động nhận thức và hoạt động thực tiễn mà các thế hệ trước để lại.
Chủ thể không phải là con người chung chung, trừu tượng, mà là con người cụ
thể gắn liền với những điều kiện xã hội, với kinh nghiệm và trình độ học vấn nhất định.
Khách thể - đó là đối tượng của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của
chủ thể. Đó là những sự vật, hiện tượng hay các quá trình cụ thể của thế giới hiện thực
tồn tại ở bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức của chủ thể và có tác động qua lại với
chủ thể. Khách thể không phải là toàn bộ thế giới hiện thực, mà chỉ là một bộ phận nhất
định của hịên thực, đã và đang tác động qua lại với chủ thể, tham gia vào mối quan hệ
với chủ thể, được đưa vào hoạt động của chủ thể. Khách thể, một mặt, được hiểu là một
người.
Khách quan là tất cả những gì tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể, không phụ
thuộc vào chủ thể, được tham gia vào hoạt động của chủ thể. Hay nói cách khác, khách
quan là tất cả những gì tồn tại ngoài chủ thể, độc lập với ý thức của chủ thể mà chủ thể
phải tính đến hay phải sử dụng vào hoạt động của mình. Trong quá trình tác động của
chủ thể vào khách thể, những phẩm chất của chủ thể được khách thể hoá. Do đó, khách
quan bao giờ cũng thuộc về khách thể ( ví dụ yếu tố tự nhiên trong xã hội ), cũng như cái
mà nó đóng vai trò là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể ( ví dụ
những sản phẩm của sản xuất vật chất ). 12
Chủ quan là tất cả những gì phụ thuộc vào năng lực và ý chí của chủ thể. Hay nói
cách khác: Chủ quan là tất cả những gì phụ thuộc vào chủ thể, hoặc được chủ thể sử
dụng như một bộ phận hữu cơ của chủ thể để tác động vào khách thể.
Để có thể phân biệt được chủ quan và khách quan, người ta có thể dựa vào các
đặc điểm của chúng. Đặc điểm của chủ quan là tính chất thuộc về chủ thể và sự lệ thuộc
vào nó; còn đặc điểm của khách quan không chỉ là sự tồn tại ngoài chủ thể, mà còn có
tính độc lập với chủ thể.
Theo cách định nghĩa trên thì những cái thuộc về khách quan trước hết là
điều kiện địa lý, phương thức sản xuất ra của cải vật chất, các quy luật của tự
nhiên và các quy luật của xã hội. Tất cả những điều kiện này đều tham gia vào
hoạt động của con người, là mặt cần thiết, tất yếu trong hoạt động của con người.
Thuộc về chủ quan là mục đích, động cơ bên trong thôi thúc hoạt động của chủ
thể. Chủ quan và khách quan có mối quan hệ chặt chẽ gắn bó mật thiết với nhau.
Nguồn gốc của chủ quan nằm ngay ở trong khách quan và chủ quan được quy định
và được thúc đẩy bởi khách quan. Như vậy, khách quan và chủ quan thống nhất
một cách biện chứng trong hoạt động của con người, nhưng đó là sự thống nhất
của các mặt đối lập. Vì vậy, giữa chúng có sự khác nhau và có giới hạn nhất định.
Dưới góc độ triết học, giữa cặp phạm trù khách quan - chủ quan và cặp phạm trù
Phạm trù chủ quan bao hàm các mặt chủ yếu là tri thức, tình cảm và ý chí và tổ
chức hành động.
Cặp phạm trù khách quan và chủ quan được cụ thể hoá bởi các cặp khái
niệm nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. Hiện nay, đang có những ý kiến
khác nhau khi sử dụng các cặp khái niệm nhân tố khách quan - nhân tố chủ quan,
điều kiện khách quan - nhân tố chủ quan. Một số ý kiến cho rằng, đồng nhất khái
niệm điều kiện khách quan và nhân tố khách quan là ngăn trở nhận thức cấu trúc
của các quá trình xã hội, vì như thế đã đặt dấu bằng giữa những hoàn cảnh phản
ánh tính quyết định hoạt động của con người và những nhân tố khách quan mà nó
thể hiện trong đó với tính cách là thực tiễn; hoặc điều kiện khách quan chỉ trở
thành nhân tố khách quan trong quá trình tác động qua lại giữa chủ thể và khách
thể bằng cách đóng vai trò những đặc trưng căn bản của chúng [Xem 33, tr.20].
Thực ra, sự phân biệt giữa “điều kiện” và “nhân tố” ở đây chỉ là tương đối. Trong 14
mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể của hoạt động, chúng đều được hiểu theo
một nghĩa giống nhau - đó là những hoàn cảnh quy định hoạt động của con người.
Vì vậy, việc sử dụng khái niệm “điều kiện khách quan” ngang bằng với khái niệm
“nhân tố khách quan” và đặt nó trong sự đối lập biện chứng với khái niệm “nhân tố
chủ quan” đều có sự hợp lý nhất định. Dựa trên cơ sở như vậy, chúng ta có thể làm
rõ các khái niệm “nhân tố khách quan” và “nhân tố chủ quan” với tư cách là các
phạm trù triết học - xã hội học.
- Nhân tố khách quan:
Xuất phát từ sự phân tích mối quan hệ chủ thể - khách thể để luận giải các
khái niệm “nhân tố khách quan” và “nhân tố chủ quan”, chúng ta có thể đưa ra
định nghĩa nhân tố khách quan như sau: Nhân tố khách quan là tất cả những gì tồn
tại bên ngoài chủ thể, không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của chủ thể và tham gia
trực tiếp vào hoạt động của chủ thể.
Thuộc về nhân tố khách quan, trước hết bao gồm: các hiện tượng, điều kiện,
đức cũ… Những hiện tượng tinh thần cũ, lạc hậu này đang là một lực cản ngăn trở
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta, chúng đang tồn tại thực tế
ngoài ý muốn của chúng ta. Để cải tạo chúng, phải có một quá trình lâu dài và
phức tạp. Như vậy, những hiện tượng tinh thần cũng có thể đóng vai trò là những
nhân tố khách quan trong chừng mực chúng độc lập với chủ thể hoạt động nhất
định và tác động đến hoạt động của chủ thể đó. Ở đây cũng không loại trừ ý thức
riêng của từng người trong chừng mực ý thức đó đóng vai trò khách thể.
Như vậy, nhân tố khách quan luôn mang tính cụ thể, là điều kiện cho tất cả
những gì tồn tại bên ngoài chủ thể, không phụ thuộc vào ý thức chủ thể, là hoạt
động cụ thể của chủ thể. Vai trò quan trọng, quyết định của nhân tố khách quan
thể hiện ở chỗ, con người trong hoạt động của mình, khi đề ra những mục đích của
mình phải lấy điều kiện khách quan, những quy luật khách quan làm cơ sở; nếu
không sẽ mắc bệnh chủ quan duy ý chí. Hơn thế nữa, khi đã có những mục đích
đúng đắn, con người phải sử dụng những lực lượng vật chất khách quan, những
biện pháp phù hợp với hiện thực khách quan thì hoạt động mới thành công.
Trên cơ sở xác định rõ mức độ tác động của nhân tố khách quan, chủ thể
hoạt động có thể quyết định tiến hành hoạt động như thế nào để đạt được kết quả 16
cao nhất, để tránh khỏi những sai lầm, và trên cơ sở đó phát huy cao nhất sức
mạnh của nhân tố chủ quan.
- Nhân tố chủ quan:
Về khái niệm nhân tố chủ quan, đã có rất nhiều quan điểm với những nội
dung và mức độ khái quát khác nhau. Sự khác nhau trong những quan điểm về
nhân tố chủ quan nói lên tính phức tạp của khái niệm này, đòi hỏi phải có sự tiếp
tục nghiên cứu.
Có ý kiến cho rằng, nhân tố chủ quan đồng nhất với hoạt động có ý thức của
con người nói chung. “Nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội là hoạt động có ý
thức của những con người, những giai cấp, những chính Đảng sáng tạo ra lịch sử”
Có quan điểm coi nhân tố chủ quan bao gồm tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, cả lĩnh vực vật chất và lĩnh vực tinh thần [Xem 33, tr.20]. Trong nhân
tố chủ quan nổi lên hai mặt rõ rệt: một mặt, là những hiện tượng thuộc lĩnh vực tác
động qua lại có tính vật chất của con người và tự nhiên; một mặt, là lĩnh vực đời
sống tinh thần. Do đó, cần phải tiếp cận nhân tố chủ quan với tính cách là sự thống
nhất biện chứng giữa vật chất và tinh thần, trong đó vật chất là cái có trước, chủ
yếu, quyết định và sinh ra tinh thần. Nếu coi nhân tố chủ quan gồm cả lĩnh vực vật
chất và lĩnh vực tinh thần như vậy thì có nghĩa là trong đời sống xã hội mọi cái
đều được bao quát bởi khái niệm này, và do đó, trên thực tế, đã không thừa nhận
các nhân tố chủ quan trong đời sống xã hội. Đây là cách giải thích quá mở rộng về
nhân tố chủ quan; vì vậy, mang lại rất ít giá trị về mặt phương pháp luận để phân
tích đời sống xã hội.
Nhận thức được hạn chế của các quan điểm trên, phần lớn các tác giả xác
định nhân tố chủ quan thông qua phạm trù hoạt động. Tuy vậy, giữa những người
có cùng quan điểm này cũng không có sự thống nhất về việc xếp hoạt động nào
vào nhân tố chủ quan.
Có ý kiến đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động tự giác của con người,
thậm chí chỉ thừa nhận hoạt động tự giác dựa trên ý thức khoa học; có ý kiến lại
đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động của con người nói chung, hoạt động đó
bao gồm cảm mặt hoạt động tự phát lẫn hoạt động tự giác…[Xem 33, tr.18]. 18
Việc xác định nhân tố chủ quan thông qua phạm trù hoạt động như trên có
những hạn chế nhất định. Quan niệm coi nhân tố chủ quan chỉ là hoạt động tự giác
có hạt nhân hợp lý là đặt hoạt động tự giác là yếu tố thực sự có ảnh hưởng mạnh
mẽ và sâu sắc hơn đến tiến trình phát triển lịch sử so với hoạt động tự phát. Song,
nó cũng có những điểm không hợp lý. Trong lịch sử, khái niệm hoạt động tự giác
thường được hiểu là một hoạt động không gắn liền với ý thức cá nhân, bởi tất cả
mọi người đều đặt ra cho mình những mục đích nhất định và theo nghĩa này, tất cả
chủ thể phụ thuộc vào ý thức của chủ thể không phải với nghĩa là chủ thể muốn
làm gì tuỳ ý, bất chấp các điều kiện khách quan, mà với nghĩa là trong các điều
kiện khách quan cụ thể nào đó thì chủ thể cần phải làm gì và tiến hành những hoạt
động đó như thế nào để đạt được kết quả cao nhất. Do vậy, sự phụ thuộc vào ý
thức ở đây là việc chủ thể ý thức được về hành động của mình và những phương
thức mà mình sẽ tiến hành hoạt động. Loại trừ sức mạnh của ý thức ra khỏi nhân
tố chủ quan cũng sai lầm như ý kiến quy toàn bộ nhân tố chủ quan về sức mạnh
của ý thức. Hoạt động thực tiễn của con người là có tính khách quan, hoạt động
thực tiễn cùng với hoạt động lý luận là hoạt động đích thực của con người. Cũng
chính vì chỉ coi hoạt động đích thực của con người là hoạt động lý luận, nên các
nhà triết học trước Mác đã chỉ “giải thích” thế giới mà không thể thấy vấn đề “cải
tạo” thế giới. Bởi vậy, hoạt động thực tiễn là hoạt động cơ bản nhất của con người,
của chủ thể và nhờ đó, con người sáng tạo nên lịch sử của mình. Việc khẳng định
hoạt động thực tiễn là nhân tố chủ quan càng khẳng định tính thống nhất biện
chứng trong hệ thống hoạt động của chủ thể. Nếu tách rời hoạt động thực tiễn khỏi
nhân tố chủ quan thì chính là đã tách rời, chia cắt hệ thống chủ thể, là sự siêu hình
hoá quá trình biện chứng của sự nhận thức chân lý, là sự tách rời giữa lý luận và
thực tiễn. Hoạt động thực tiễn không phải là cái khách quan, mà là phần cơ bản
nhất của nhân tố chủ quan, chịu sự tác động trực tiếp của những nhân tố khách
quan, và chính vì thế, nó là cơ sở hiện thực để chủ thể ngày càng hoàn thiện quá
trình nhận thức của mình.
Qua sự phân tích nêu trên, có thể sơ bộ đi đến kết luận rằng, nếu xác định
nhân tố chủ quan thông qua phạm trù hoạt động thì có thể định nghĩa nhân tố chủ 20
quan như sau: Nhân tố chủ quan là toàn bộ hoạt động của chủ thể, từ hoạt động
nhận thức đến hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện những mục đích của mình trong
những điều kiện khách quan. Nói cách khác, nhân tố chủ quan trong đời sống xã
hội là toàn bộ hoạt động của chủ thể nhằm thực hiện mục đích của mình.
vật biện chứng vẫn được biểu hiện đầy đủ trong mối quan hệ biện chứng giữa
nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
- Nhân tố khách quan có vai trò chủ đạo và quyết định đối với nhân tố chủ quan
Trong phép biện chứng của nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan thì vai
trò chủ đạo và quyết định thuộc về nhân tố khách quan. Chính nhân tố khách quan
quy định những đặc điểm và phương hướng phát triển của nhân tố chủ quan. Vai
trò đó thể hiện ở chỗ: các nhân tố khách quan bao giờ cũng là cơ sở khách quan, là
tiền đề của nhân tố chủ quan. Điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, nhân tố khách quan, một mặt, quy định nhiệm vụ lịch sử của nhân
tố chủ quan, mặt khác, nó tạo ra những tiền đề, những khả năng hiện thực để giải
quyết chúng.
Bằng hoạt động thực tiễn, nhân tố chủ quan cải tạo thế giới khách quan, quá
trình cải tạo đó lấy nhân tố khách quan làm tiền đề. Nhân tố chủ quan chỉ là sự
phản ánh và thực hiện những nhu cầu đã chín muồi của đời sống xã hội. Những
nhiệm vụ mà nhân tố chủ quan phải giải quyết là những nhiệm vụ do lịch sử đề ra
và quy định nội dung, cũng như những biện pháp giải quyết.
Nhân tố chủ quan không thể đề ra cho mình nhiệm vụ một cách tuỳ hứng,
một cách ảo tưởng và tuỳ tiện. Khi tiến hành giải quyết một nhiệm vụ thực tiễn
nào đó, nhân tố chủ quan phải xem những điều kiện vật chất khách quan cho việc
giải quyết nhiệm vụ đó đã có hay chưa, không thể giải quyết ngay nhiệm vụ đó khi
những điều kiện khách quan cần thiết chưa có. C.Mác cho rằng, những cá nhân
hành động trong những giới hạn tiền đề và điều kiện thực chất nhất định, không
phụ thuộc vào ý chí của họ.
Như vậy, mọi hoạt động của con người đều phải dựa vào những nhân tố
khách quan nhất định, không có những nhân tố khách quan cần thiết thì mọi cố
gắng chủ quan cũng không thể đem lại những hiệu quả trong hoạt động thực tiễn. 22
Con người không thể bất chấp các nhân tố khách quan, mà chỉ có thể hành động
tác động vào đối tượng lao động, gây nên những biến đổi nhất định trong hiện
thực phù hợp với nhu cầu của họ.
Tóm lại, nhân tố khách quan là cơ sở, là tiền đề của nhân tố chủ quan.
Trong quá trình hoạt động của con người, chỉ khi nào có những quan hệ vật chất
cần thiết đã phát triển chín muồi, hay đang hình thành thì mới có cơ sở khách quan
để giải quyết vấn đề. Vì vậy, mọi hoạt động của con người đều phải dựa vào
những nhân tố khách quan nhất định đem lại. Sự quy định của nhân tố khách quan
đối với nhân tố chủ quan chính là quá trình con người học tập tự nhiên để cải tạo
tự nhiên và đồng thời, cũng chính là quá trình con người cải tạo xã hội.
Như vậy, có thể quan niệm về mối quan hệ biện chứng giữa nhân tố khách
quan và nhân tố chủ quan như là tính thứ nhất và tính thứ hai của mối quan hệ biện
chứng giữa cặp phạm trù vật chất và ý thức; giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội;
trong đó, tính thứ nhất thuộc về nhân tố khách quan, tính thứ hai thuộc về nhân tố
chủ quan. Đây chính là cơ sở để xem xét giới hạn vai trò của nhân tố chủ quan,
chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí, chống tác động tùy tiện, chủ quan, ảo tưởng
trong hoạt động thực tiễn.
- Vai trò tích cực, chủ động sáng tạo của nhân tố chủ quan
Trong sự tác động, ràng buộc lẫn nhau giữa nhân tố khách quan và nhân tố
chủ quan thì nhân tố khách quan bao giờ cũng giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên,
điều đó không có nghĩa là nhân tố chủ quan chỉ có vai trò thụ động hoàn toàn và lệ
thuộc vào nhân tố khách quan. Nhân tố chủ quan có thể chuyển hoá được các nhân
tố khách quan thành nội dung hoạt động tự do sáng tạo của mình, bởi vậy nó đóng
vai trò như là lực lượng sáng tạo lịch sử.
Lịch sử loài người là một quá trình kép, bao gồm quan hệ giữa con người với
giới tự nhiên và quan hệ giữa con người với nhau, trước hết là mối quan hệ giữa
người với người trong quá trình sản xuất. Nhân tố chủ quan thể hiện vai trò của nó
trên cả hai phương diện đó. Một mặt, “thế giới không thoả mãn con người, và con
người quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của mình” [26, 29, tr.229]. Nhân
loại đã trải qua một quá trình chinh phục tự nhiên và ngày càng gia tăng quyền lực
tối đa của mình. Sự kết hợp giữa nhân tố khách quan đã chín muồi và nhân tố chủ