ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN THỊ QUÝ
TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ PHƢƠNG TÂY
HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN ANH TUẤN
Hà Nội, 2012 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 12
CHƢƠNG 1. KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ PHƢƠNG TÂY
HIỆN ĐẠI 12
1.1. Khái niệm “triết học chính trị” 12
1.1.1 Các định nghĩa khác nhau về “triết học chính trị” 12
1.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của triết học chính trị 17
1.2. Khái quát về triết học chính trị phƣơng Tây hiện đại 23
1.2.1. Một số đặc điểm của triết học chính trị phương Tây hiện đại 23
1.2.2. Phân loại sơ bộ về mặt phương pháp luận của triết học chính trị
phương Tây hiện đại 28
Tiểu kết chƣơng 1 35
cầu hóa đang dƣờng nhƣ “xóa nhòa” biên giới của các quốc gia, làm thay đổi
vai trò và mối quan hệ của các nhà nƣớc dân tộc, cơ cấu xã hội, làm gia tăng
xu hƣớng cá nhân hóa, làm nảy sinh hàng loạt vấn đề mang tính toàn cầu…
Bên cạnh đó, các cuộc khủng hoảng tài chính thế giới gần đây, đặc biệt là
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới khởi nguồn từ Hoa Kỳ vào năm 2008, đã
và đang tác động mạnh mẽ tới đời sống chính trị thế giới. Triết học chính trị
chính vì thế mà cũng có sự chuyển biến đáng kể. Có những học thuyết chính
trị ở phƣơng Tây đƣợc xem là có sự liên đới hay là chất xúc tác cho cuộc
khủng hoảng kinh tế nói trên. Chính vì vậy nhiều nhà nghiên cứu triết học
chính trị đã và đang xem xét lại nền tảng triết học ẩn chứa bên dƣới các học
thuyết này. Cuộc tranh luận về triết học chính trị phƣơng Tây đƣơng đại đã
cho thấy phần nào tinh thần của thời đại cũng nhƣ sự vận động nội tại của
chính các lý luận này.
Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, với tinh thần cởi mở và trong
không khí ảnh hƣởng của bối cảnh “thế giới phẳng”, việc học tập và nghiên
cứu triết học phƣơng Tây nói chung và triết học chính trị phƣơng Tây nói
riêng ngày càng gia tăng. Những nội dung, vấn đề cụ thể của triết học chính 2
trị phƣơng Tây đã đƣợc quan tâm nghiên cứu dƣới dạng những tƣ tƣởng về
chính trị của các nhà triết học trong lịch sử triết học, đặc biệt là triết học chính
trị Mác-xít. Những tƣ tƣởng chính trị của các nhà triết học chính trị phƣơng
Tây thƣờng đƣợc phân tích và đánh giá dƣới lăng kính của triết học Mác. Tuy
nhiên, ở Việt Nam và cả phƣơng Tây, việc xem xét định nghĩa, phƣơng pháp,
chức năng của triết học chính trị nói chung vẫn chƣa có sự thống nhất. Trong
khi tại phƣơng Tây, vấn đề này đƣợc tranh luận sôi nổi thì ở Việt Nam, vấn đề
này vẫn chƣa đƣợc chú trọng đúng mức. Một thời gian dài trƣớc đây ở Việt
Nam và các nƣớc xã hội chủ nghĩa, những vấn đề của triết học chính trị
thƣờng đƣợc xem xét trong khuôn khổ của chủ nghĩa duy vật lịch sử, để phần
chỉ ra một số nội dung triết học chính trị đã đƣợc đề cập ở Việt Nam nhƣ bản
chất con ngƣời, nguồn gốc xung đột giữa con ngƣời, tiêu chí đánh giá tính
hợp lý của hệ thống chính trị, phạm vi quyền lực nhà nƣớc và một số vấn đề
thuộc nhận thức luận trong triết học chính trị.
Phải nói rằng, trong các công trình nghiên cứu về triết học chính trị ở
Việt Nam, rất hiếm có tác giả nào đƣa ra đƣợc khái niệm, phƣơng pháp, đối
tƣợng của triết học chính trị. Một trong những bài viết hiếm hoi bàn về khái
niệm triết học chính trị ở Việt Nam đó là “Triết học chính trị và các quá trình
chính trị” của tác giả Phạm Ngọc Thanh đƣợc đăng trong kỷ yếu hội thảo
quốc tế “Những vấn đề triết học phương Tây thế kỷ XX” [23]. Trong bài viết
này, tác giả đƣa ra một số gợi ý phƣơng pháp luận để hiểu về khái niệm triết
học chính trị. Theo tác giả, triết học chính trị là lĩnh vực đan xen giữa triết học
và chính trị học. Do vậy, để hiểu về triết học chính trị cần nắm rõ bản chất,
đặc điểm của triết học mà đặc điểm cơ bản nhất của triết học chính là “tìm
kiếm và làm sáng tỏ chân lý về bản chất và ý nghĩa của tồn tại”. Theo đó, triết
học chính trị “phải làm sáng tỏ những nguyên tắc còn ẩn giấu của một thế giới
chính trị trong các hiện tƣợng của nó. Nó tập trung chú ý vào những khía cạnh
bản chất, chính ngay bản chất các hiện tƣợng đặc biệt của chính trị” [23; 509].
Từ đây, triết học chính trị có nhiệm vụ làm sáng tỏ lý luận, nguyên tắc… của
thế giới chính trị và đến lƣợt nó, nhiệm vụ này lại đƣợc thể hiện thông qua
việc làm sáng tỏ bộ máy khái niệm cho khoa học chính trị. 4
Ngoài ra, ở Việt Nam cũng có rất ít những công trình bàn về triết học
chính trị và triết học chính trị phƣơng Tây đƣơng đại dƣới dạng tổng quát.
Dƣới lăng kính của chủ nghĩa Mác - Lênin, tập thể tác giả của công trình
“Triết học chính trị” [4] đã đƣa ra khái niệm, phƣơng pháp và chức năng
của triết học chính trị. Ngoài ra, trong công trình này, các tác giả cũng khái
quát một số tƣ tƣởng triết học chính trị trong lịch sử, một số trào lƣu triết
5
đi sâu nghiên cứu một số trào lƣu hay nội dung cụ thể của các xu hƣớng triết
học chính trị. Nhìn chung, các công trình triết học chính trị phƣơng Tây hiện
đại tại các nƣớc nói tiếng Anh thƣờng tập trung theo hai hƣớng: hoặc chuyên
sâu phân tích các học thuyết triết học chính trị phƣơng Tây đƣơng đại và một
số chủ đề nghiên cứu cụ thể, hoặc chú trọng tới khía cạnh thực tiễn của
nghiên cứu này. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng sự phân biệt lý thuyết
hay thực tiễn trong nghiên cứu triết học chính trị phƣơng Tây đƣơng đại chỉ
mang tính tƣơng đối.
Trong “Contemporary political philosophy – An introduction (Giới
thiệu về triết học chính trị đƣơng đại) [50], Will Kymlicka cho rằng hầu nhƣ
các học giả khi nghiên cứu về triết học chính trị đƣơng đại đều sẽ gặp nhiều
khó khăn bởi hiện nay có rất nhiều học thuyết triết học chính trị. Chính sự đa
dạng và tính phức tạp của bản thân khoa học này sẽ làm lu mờ thực tiễn mà
các nhà triết học chính trị phải chú ý đến. Tuy nhiên, với tƣ cách là ngƣời
nghiên cứu triết học chính trị, chúng ta cần ý thức rằng các học thuyết dù đa
dạng đến đâu thì cũng đều chia sẻ nhiều vấn đề chung trong đời sống chính trị
xã hội với tƣ cách là đối tƣợng nghiên cứu của chúng. Từ đó ông cho rằng các
nhà triết học chính trị đƣơng đại về đại thể chia thành hai xu hƣớng. Xu
hƣớng thứ nhất chiếm ƣu thế chủ đạo gồm những nhà triết học tán thành các
nguyên lý cơ bản của nền dân chủ tự do, họ tích cực tìm kiếm cơ sở lý luận
nhằm bảo vệ những giá trị của các nguyên lý này. Cho đến nay, xu hƣớng này
có ba trƣờng phái: thuyết vị lợi (utilitarianism), thuyết bình đẳng tự do (liberal
equality), và chủ nghĩa tự do (libertarianism). Phạm trù trung tâm của các học
thuyết thuộc trƣờng phái này liên quan tới các hƣớng tiếp cận về quyền
(rights), tự do (liberty), bình đẳng về cơ hội (equal opportunities)… Trên thực
tế, xu hƣớng này chiếm vị trí chủ đạo trong triết học chính trị phƣơng Tây đến
mức nhiều ngƣời cho rằng nó đã tạo nên thứ ngôn ngữ chính trị duy nhất có
tính thuyết phục cao về mặt đạo đức trong các lĩnh vực công. Xu hƣớng thứ
hai gồm các trƣờng phái “chống lại” nền dân chủ tự do. Những đại diện thuộc
(cosmopolitanism), thuyết nam nữ bình quyền (feminism), chủ nghĩa tự do
(liberalism), chủ nghĩaMác (Marxism), trào lƣu chính thống (fundamentalism) 7
và chủ nghĩa xã hội (socialism). Thứ hai, các bài viết phân tích về một số chủ
đề chủ đạo của triết học chính trị nhƣ: quyền tự trị (autonomy), nhà nƣớc, xã
hội công dân, dân chủ, công bằng trong phân phối, tự do, quyền con ngƣời,
chiến tranh chính nghĩa (just war).
Cũng nhƣ những công trình kể trên, trong “Contemporary political
ideologies” (Các hệ tƣ tƣởng chính trị đƣơng đại) [38] do Roger Eatwell và
Anthony Wright biên tập, các học giả đã đi sâu phân tích một số lý thuyết triết
học chính trị đƣơng đại nhằm chỉ ra tính ý thức hệ của chúng. Đó là các học
thuyết nhƣ chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa bảo thủ, chủ nghĩa xã hội dân chủ, chủ
nghĩa Mác, chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa phát xít,
thuyết nữ quyền và thuyết sinh thái. Tƣơng tự, Norman P.Barry trong công
trình “An introduction to modern political theory” (Giới thiệu về học thuyết
chính trị hiện đại) [30] đã chỉ ra những học thuyết triết học chính trị hiện đại
thông qua việc phân tích một số giá trị, trật tự chính trị.
Ngoài ra, một số học giả chú trọng nghiên cứu những chủ đề cơ bản của
triết học chính trị. Với lời kêu gọi “tham gia vào những tranh luận hợp lý về
những tiêu chuẩn cơ bản mà dựa vào đó chúng ta có thể đánh giá xã hội chính
trị hiện đại và vị trí của chúng trên thế giới”, công trình “Contemporary
debates in political philosophy” (Những tranh luận đƣơng đại về triết học
chính trị) [37] đã chỉ ra những trọng tâm nghiên cứu hiện nay của triết học
chính trị nhƣ vấn đề về bản chất của công bằng mang tính toàn cầu, vị trí của
nhà nƣớc dân tộc trong trật tự toàn cầu rộng lớn hơn, sự bất công kéo dài hàng
thế kỷ và hậu quả của những bất công đó đối với phụ nữ, cộng đồng thiểu số
hiện nay… Còn David Miller trong “Political philosophy: A very short
introduction” (Khái lƣợc về triết học chính trị) [57] thì lại nêu ra và phân tích
chung. Gerard Elfstrom chỉ ra những nhân tố làm tình hình thế giới có sự biến
chuyển. Trong các nhân tố đó, ông chú trọng tới toàn cầu hóa về kinh tế. Từ
đó, ông phân tích sự tác động của toàn cầu hóa kinh tế tới các khách thể mà
theo ông là thuộc thẩm quyền nghiên cứu của triết học chính trị, cụ thể nhƣ
nhà nƣớc dân tộc, bản sắc dân tộc, cấu trúc và vai trò của chính phủ… 9
Tƣơng tự, “The globalization of world politics: An introduction to
international relations” (Dẫn luận về quan hệ quốc tế: Toàn cầu hóa chính trị
thế giới) [31] do John Baylis và Steve Smith biên tập cũng phân tích bối cảnh
lịch sử trƣớc thời kỳ chiến tranh lạnh và bối cảnh thế giới bị chi phối bởi toàn
cầu hóa, các học thuyết chính trị thế giới và một số vấn đề toàn cầu. Công
trình này mang tính chất tổng quan, vừa chỉ ra một số vấn đề chính trị thế giới
phát sinh dƣới tác động của toàn cầu hóa, vừa khái quát ngắn gọn một số quan
niệm của các trƣờng phái chính trị đối với vấn đề đó, điển hình nhƣ quan
niệm của chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa hiện thực mới, thuyết nam nữ bình
quyền… về vai trò của nhà nƣớc trong tƣơng quan với các chủ thể khác trong
bối cảnh toàn cầu hóa.
Ở phƣơng Tây hiện nay, có nhiều công trình là tuyển tập những nghiên
cứu đƣơng đại về triết học chính trị mà đây chính là nguồn cho các công trình
chúng tôi kể trên dựa vào để phân tích. Cụ thể đó là các nghiên cứu của
những nhà triết học chính trị phƣơng Tây hiện đại nhƣ John Rawls, Robert
Nozick, Ronald Dworkin, H.L.A. Hart, Isaiah Berlin… Điển hình là công
trình “An introduction to contemporary political theory – a reader” (Hợp
tuyển giới thiệu học thuyết chính trị đƣơng đại) [41] do Colin Farrelly biên
tập và “Debates in contemporary political philosophy: An anthology” (Hợp
tuyển các cuộc tranh luận về triết học chính trị hiện nay) [57] do Derek
Matravers và John Pike biên tập. Sự đa dạng trong nghiên cứu triết học chính
trị phƣơng Tây hiện đại cho thấy tính phức tạp của lĩnh vực nghiên cứu này.
- Phạm vi nghiên cứu: các nghiên cứu về triết học chính trị phƣơng Tây
hiện đại tại Việt Nam và một số nƣớc nói tiếng Anh, chủ yếu về truyền thống
triết học chính trị Anh – Mỹ trong khoảng thời gian 30, 40 năm gần đây.
6. Đóng góp của luận văn
Góp phần tìm hiểu khái niệm triết học chính trị, làm rõ đặc điểm của
triết học chính trị phƣơng Tây hiện đại, giới thiệu một số học thuyết triết học
chính trị phƣơng Tây hiện đại và một số vấn đề nghiên cứu chủ yếu của nó. 11
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần cung cấp tri thức đầy đủ và có hệ
thống hơn về khái niệm “triết học chính trị”, đối tƣợng, nội dung, chức năng,
nhiệm vụ và phƣơng pháp nghiên cứu của nó, qua đó cũng gián tiếp làm rõ
phƣơng pháp nghiên cứu “triết học chính trị” nói chung và những vấn đề cốt
lõi của một số lý thuyết triết học chính trị phƣơng Tây hiện đại nói riêng.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
những ai nghiên cứu và học tập trong một số ngành khoa học xã hội nhân văn
nhƣ triết học xã hội, lịch sử triết học, khoa học chính trị, xã hội học…
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chƣơng và 6 tiết. 12
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. KHÁI LUẬN VỀ
TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ PHƢƠNG TÂY HIỆN ĐẠI
1.1. Khái niệm “triết học chính trị”
học chính trị. Theo Gerard Elfstrom, nếu quan niệm nhƣ trên thì thuật ngữ
triết học chính trị đã bị dùng sai trong bối cảnh hiện nay. Bởi vì nhiều chức
năng truyền thống có liên quan tới nhà nƣớc đang đƣợc đảm nhiệm bởi nhiều
tổ chức khác [xem 39; 158]. Tƣơng tự, D.P.Raphael cũng chỉ ra ranh giới giữa
triết học xã hội và triết học chính trị, từ đó cho thấy phạm vi nghiên cứu của
triết học chính trị. Ông cho rằng những nghiên cứu về xã hội có thể hiểu theo
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, nghiên cứu xã hội bao gồm nghiên
cứu về chính trị và tất cả những gì liên quan tới hoạt động của con ngƣời
trong xã hội. Theo nghĩa hẹp, nghiên cứu xã hội hay nghiên cứu có tính xã hội
đƣợc giới hạn trong những lĩnh vực không trùng với chủ đề nghiên cứu của
các bộ môn khác. Từ đây, ông khẳng định bản chất nhà nƣớc, chủ quyền,
nghĩa vụ chính trị thuộc thẩm quyền nghiên cứu của triết học chính trị. Còn tự
trị, tự do, bình đẳng, công bằng, do phạm vi ứng dụng rộng hơn nên chúng là
đối tƣợng nghiên cứu của triết học xã hội [xem 65; 15].
Sự giới hạn phạm vi nghiên cứu của triết học chính trị nhƣ trên đã dẫn
đến những quan niệm về triết học chính trị theo nghĩa hẹp. Bên cạnh đó, “triết
học chính trị còn đƣợc hiểu nhƣ là sự cụ thể hóa các luận điểm của triết học
xã hội, tìm hiểu cơ cấu, chức năng và ý nghĩa của nhà nƣớc, sự vận động và
phát triển của nó, các động lực cơ bản của xã hội, các đặc trƣng điều hành…
từ cơ sở thế giới quan, phƣơng pháp luận nhất định” [4; 15]. Quan niệm này
có vẻ đã bao quát đƣợc những khía cạnh mà cách định nghĩa hẹp trên về triết
học chính trị bỏ qua. Nhƣng quan niệm này lại mắc phải vấn đề nan giải là:
nếu quan niệm nhƣ vậy về triết học chính trị thì sự phân biệt đối tƣợng nghiên
cứu của xã hội học, chính trị học với triết học chính trị là không rõ. Bởi vì xã
hội học và chính trị học thƣờng tập trung vào cơ cấu và hoạt động của các cơ 14
chế xã hội trong khi triết học chính trị thƣờng là những suy tƣ biện minh về
mặt lý thuyết của cơ chế này. Cần lƣu ý rằng hiện nay trong triết học phƣơng
do vậy có thể bỏ qua những vấn đề luân lý trong các miêu tả của nó, nó tìm
kiếm cách phân tích thực chứng về các sự kiện/vấn đề xã hội – ví dụ, vấn đề
thể chế, hành vi bầu cử, cân bằng quyền lực, hiệu quả của các quan niệm về tƣ
pháp, v.v… Triết học chính trị sản sinh ra các quan điểm về xã hội tốt
đẹp…[77]. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu triết học chính trị lại không đồng
tình với quan niệm này. A.R.M.Murray cho rằng, ở hầu hết các trƣờng hợp
trong lịch sử, triết học chính trị liên quan tới lĩnh vực đạo đức. Điều này đúng
nhƣng không đủ. Bởi vì lịch sử triết học chính trị còn đƣợc đánh dấu bởi các
nhà triết học chính trị nhƣ Machiavelli (1469 – 1527), Thomas Hobbes (1588 –
1679) mà lý thuyết của họ dựa trên giả thuyết mang tính kinh nghiệm, thực
nghiệm, tránh đụng chạm tới lĩnh vực đạo đức [xem 59; 13].
Hiện nay, trong phần lớn các công trình nghiên cứu về triết học chính trị
phƣơng Tây hiện đại, khái niệm triết học chính trị đƣợc hiểu theo nghĩa rộng
hơn. Ở mức độ nhất định, triết học chính trị thƣờng đƣợc dùng với ngụ ý là triết
học chính trị xã hội. Trong “Social and political philosophy: A contemporary
introduction” (Dẫn luận đƣơng đại về triết học chính trị xã hội), John
Christman đƣa ra định nghĩa về triết học chính trị nhƣ sau: “Triết học chính trị
là lĩnh vực nghiên cứu về con ngƣời xã hội, đƣợc quản lý bởi các thể chế và
thực tiễn có vai trò thiết lập, cƣỡng chế và định hình cuộc sống mà xã hội đó
hƣớng tới theo nhiều cách thức” [36; 3]. Trong “Contemporary debates in
political philosophy” (Những tranh luận đƣơng đại về triết học chính trị), các
tác giả cho rằng trọng tâm nghiên cứu của triết học chính trị trong vòng 30 năm
qua đã vƣợt qua những chú trọng ban đầu đối với những nhận định về nhà nƣớc
dân tộc… Theo đó, triết học chính trị không chỉ đơn thuần là học thuyết mang
tính chuẩn tắc bàn về nhà nƣớc dân tộc mà còn là các quy tắc mà dựa vào đó
chúng ta có thể đánh giá và cải cách các thể chế kinh tế chính trị có ảnh hƣởng
rộng lớn tới đời sống chúng ta [xem 37; 1]. Trong từ điển “Triết học
Cambridge”, triết học chính trị đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Triết học chính trị
nghiên cứu bản chất và biện hộ cho các thể chế chính trị” [35; 718]. Trong đó,
17
tƣởng chính trị từ cổ đại đến bây giờ. Nhƣng mặt khác, đối với các nghiên
cứu tổng quan về triết học chính trị thì các tác giả buộc phải đƣa ra cách định
nghĩa triết học chính trị với tƣ cách là định nghĩa công cụ. Tuy nhiên, với sự
phát triển của khoa học xã hội hiện nay, đặc biệt là triết học chính trị, thì khó
có thể đƣa ra một định nghĩa hoàn toàn thuần nhất về nó. Trong luận văn này,
chúng tôi bƣớc đầu đồng tình với quan niệm của David Miller - giáo sƣ chính
trị học, Đại học Bath (Anh) rằng khái niệm “triết học chính trị” có thể đƣợc
định nghĩa nhƣ là sự suy ngẫm triết học về cách thức tốt nhất để sắp xếp cuộc
sống chung của chúng ta – các thể chế chính trị xã hội và các thực tiễn xã hội.
Các nhà triết học chính trị thƣờng thiết lập những nguyên tắc cơ bản nhằm
biện minh cho một mô hình nhà nƣớc cụ thể, chứng minh cá nhân có những
quyền không thể chuyển nhƣợng đƣợc, đề xuất các cách thức mà nguồn lực
xã hội có thể đƣợc phân chia cho các thành viên cộng đồng v.v. Để làm
những việc này, các nhà triết học chính trị thƣờng phân tích và làm sáng tỏ
những tƣ tƣởng, khái niệm về tự do, bình đẳng, dân chủ… và áp dụng chúng
theo phƣơng thức phê phán vào các thể chế chính trị xã hội hiện đang tồn tại
[xem 82].
1.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của triết học chính trị
Các tác giả trong đề tài nghiên cứu cấp bộ “Triết học chính trị” [4] đã
cho rằng triết học chính trị có chức năng vừa mang tính phổ quát nhƣ chức
năng của triết học nói chung vừa mang tính cá biệt thể hiện đặc thù của đời
sống chính trị nói riêng. Theo đó, triết học chính trị có 5 chức năng, đó là
chức năng thế giới quan, chức năng phƣơng pháp luận, chức năng dự báo,
chức năng phê phán, chức năng giá trị và cuối cùng là chức năng nhân văn.
Trong triết học chính trị phƣơng Tây hiện nay, chức năng của triết học chính
trị thƣờng đƣợc nói đến với những tên gọi khác nhƣ: chức năng hòa giải
(reconcillibation), chức năng hƣớng đạo (orientation), chức năng định hƣớng
Plato đã miêu tả về xã hội lý tƣởng. D.P.Raphael đồng tình với quan niệm cho
rằng triết học khác khoa học ở tính chuẩn tắc của nó. Tuy nhiên, tính chuẩn
tắc phải đƣợc hiểu theo nghĩa khác. Tính chuẩn tắc đƣợc nói đến ở trên theo
ông là rất “đáng ngờ” và chỉ đúng với một số nhà triết học chính trị truyền 19
thống, những nhà triết học đƣa ra lý thuyết bàn về các hình thức tổ chức xã
hội lý tƣởng. Hơn nữa, ông còn khẳng định, ngay cả đối với các nhà triết học
truyền thống này, khái niệm triết học chính trị chƣa hẳn đƣợc hiểu theo nghĩa
chuẩn tắc này. Ông cho rằng, Plato miêu tả xã hội lý tƣởng nhằm phê phán xã
hội hiện tại và thúc đẩy việc nhận thức những khái niệm mang tính xã hội nhƣ
công bằng… Từ đây, ông đã khái quát hai mục đích cơ bản của triết học chính
trị đó là làm sáng tỏ các khái niệm và đánh giá mang tính phê phán đối với
đức tin (biện minh về giá trị).
Theo ông, trong triết học chính trị truyền thống, mục đích thứ nhất
thƣờng mang tính thứ yếu và chỉ đƣợc duy trì nhƣ là sự bổ trợ cần thiết cho
mục đích thứ hai. Nhƣng hiện nay, mục đích thứ nhất (làm sáng tỏ khái niệm)
lại mang tính tối cao và tồn tại do lợi ích của chính nó [xem 65; 8].
Rõ ràng, triết học chính trị là lĩnh vực đan xen giữa triết học và chính
trị học. Mà thế giới chính trị có đặc tính là luôn vận động với tốc độ cao,
trong đó nhiều quá trình, sự kiện diễn ra quá nhanh khiến các nhà nghiên cứu
không kịp nắm bắt hết, do vậy không thể tách rời đƣợc các sự kiện mà chỉ có
thể tìm hiểu về những mối liên hệ nhân quả của quá trình tiến triển mà thôi…
Vì vậy, triết học chính trị có nhiệm vụ làm sáng tỏ những nguyên tắc còn ẩn
giấu của thế giới chính trị trong các hiện tƣợng của nó bằng cách tập trung
vào khía cạnh bản chất của các hiện tƣợng chính trị đặc biệt. Và nhiệm vụ này
chỉ có thể đƣợc làm sáng tỏ thông qua bộ máy khái niệm [xem 23; 508]. Hơn
thế, bản thân các khái niệm của triết học chính trị thƣờng là khái niệm tập hợp
với nội hàm phong phú và phức tạp. Do đó, xác minh khái niệm là nhiệm vụ
phân biệt tính chủ quan và khách quan của giá trị luận nên đƣợc hiểu khác với
chủ nghĩa hoài nghi trong triết học chính trị. Trong “An introduction to
political philosophy” (Giới thiệu về triết học chính trị) [34], Colin Bird cho
rằng, sự phân biệt tính khách quan và chủ quan đơn giản của chủ nghĩa hoài
nghi trong triết học chính trị khiến triết học chính trị đƣợc xem là lĩnh vực đầy
rẫy sự thiên vị mang tính duy lý và phản ứng đầy cảm tính, cũng tựa nhƣ khi
bạn thƣởng thức nhiều loại kem với khẩu vị khác nhau từ ngƣời này sang 21
ngƣời khác. Nhƣng “tính chủ quan” trong khi thƣởng thức kem lại khác với
tính chủ quan trong việc biện minh giá trị của triết học chính trị. Việc biện
minh giá trị nhằm thuyết phục ngƣời khác gửi gắm niềm tin vào giá trị đó đòi
hỏi giá trị đó phải “nặng trĩu” bởi những nền tảng nhận thức sâu sắc. Colin
Bird khẳng định: “tôi cho rằng chế độ nô lệ là sự bất công và điều đó dựa trên
những hiểu biết của tôi về công bằng. Tối thiểu về mặt nguyên tắc, để làm cho
nhận thức về công bằng trở nên rõ ràng, chúng ta phải đƣa ra những nghiên
cứu kỹ lƣỡng mang tính phê bình và xác định liệu những nhận định về vấn đề
đó có thể biện hộ đƣợc hay không, đánh giá của tôi rằng chế độ nô lệ là bất
công kỳ thực là có những hàm ý trên” [34; 16].
Hai nhiệm vụ nói trên của triết học chính trị chính là sự cụ thể hóa các
chức năng cơ bản của nó. Trong đó, chức năng đầu tiên và quan trọng nhất
của triết học chính trị chính là chức năng thế giới quan. Triết học chính trị
phƣơng Tây trƣớc thời kỳ chiến tranh lạnh đƣợc phân hóa thành hai trục gắn
với giá trị công bằng và tự do. Sự khác biệt hay mâu thuẫn giữa hai giá trị
chính trị này tạo ra những mâu thuẫn về định chế chính trị. Vì thế, sự phân
loại các học thuyết triết học chính trị thƣờng đƣợc thực hiện trên trục hai giá
trị này. Và chức năng thế giới quan của triết học chính trị cũng đƣợc thể hiện
thông qua trục này. Tuy nhiên, triết học chính trị phƣơng Tây hiện nay cho
thấy một lý tƣởng rõ ràng, đó là mỗi trƣờng phái triết học chính trị đều có
chính trị, có rất nhiều tác phẩm cho thấy “các triết gia bày tỏ mối bận tâm về
việc thực hành và các thể chế chính trị, xã hội, kinh tế bằng cách dựa vào và
đƣa ra các nguyên lý và lý tƣởng không quá chú trọng đến tranh luận hay
phân tích” [9; 869], điển hình nhƣ các tác phẩm: “Rights of man” (Các quyền
của con ngƣời) của Thomas Paine (1737 – 1809), “Communist manifesto”
(Tuyên ngôn Đảng cộng sản) của Karl Marx (1818 – 1883) và Friedrich
Engels (1820 – 1895), “The subjection of women” (Sự khuất phục của phụ
nữ) của John Stuart Mill (1806 – 1873), “A road to serfdom” (Con đƣờng dẫn
tới chế độ nông nô) của Friedrich August Hayek (1899 – 1992), “Inequality
reexamined” (Sự bất bình đẳng cần xét lại) của Amartya Sen (1933 – )…