K22 – Quản trị kinh doanh – Đêm 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đề tài tiểu luận triết học:
TRÀO LƯU TRIẾT HỌC KHOA HỌC VÀ SỰ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NHẬN THỨC KHOA HỌC TRONG
XÃ HỘI PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI
HỌC VIÊN THỰC HIỆN: PHAN KHÁNH SƠN - STT: 84
NHÓM 2 - LỚP ĐÊM 1- KHÓA 22
GIẢNG VIÊN PHỤ TRÁCH: TS. BÙI VĂN MƯA
TP.HCM, tháng 12 năm 2012
K22 – Quản trị kinh doanh – Đêm 1
TRÀO LƯU TRIẾT HỌC KHOA HỌC VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA
NÓ ĐẾN NHẬN THỨC KHOA HỌC TRONG XÃ HỘI PHƯƠNG TÂY
HIỆN ĐẠI
Lời mở đầu:
Trong thế giới toàn cầu hóa hiện nay, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập tổ
chức thương mại thế giới WTO, xu hướng giao lưu hội nhập quốc tế ngày càng
cấp bách và là tất yếu cho quá trình đổi mới và phát triển của đất nước. Điều đó
đòi hỏi chúng ta cần chủ động nghiên cứu không chỉ các trào lưu triết học
phương Đông mà còn cả các trào lưu triết học phương Tây. Việc nghiên cứu đề
tài “các trào lưu triết học khoa học và sự ảnh hưởng của nó đến nhận thức
khoa học trong xã hội phương Tây hiện đại” giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về
thế giới quan, lối tư duy, phương pháp nghiên cứu khoa học,đặc biệt là nhận thức
khoa học trong xã hội phương Tây hiện đại đã giúp họ đạt được những thành
tựu to lớn về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, phương pháp luận Đây thực
sự là một phần cầu nối về tri thức trong quá trình hội nhập Đông - Tây. Bài tiểu
luận được viết dựa trên nguồn tài liệu chính từ giáo trình của TS.Bùi Văn Mưa -
Trưởng Tiểu ban Triết học Trường Đại học kinh tế TPHCM. Ngoài ra còn tham
học và đến nhận thức khoa học.
Ra đời vào những năm 30-40 của thế kỷ XIX ở Pháp, sau đó ở Anh với khẩu
hiệu Bản thân khoa học đã là triết học; Tri thức về thế giới là đặc quyền của khoa
học thực chứng Các triết gia thực chứng cho rằng, triết học không nên nghiên
cứu những vấn đề như bản chất của sự vật, các quy luật chung của thế giới mà
cần phải đi tìm những phương pháp hiệu quả và đáng tin cậy nhất để có được tri
Giảng viên: TS. Bùi Văn Mưa 2
K22 – Quản trị kinh doanh – Đêm 1
thức khoa học thực chứng. Chủ nghĩa thực chứng đã phát triển qua 3 giai
đoạn:Giai đoạn thực chứng cổ điển xuất hiện vào thập niên 30 của thế kỷ XIX,
với những đại biểu là Côngtơ (Comte) ở Pháp, Spenxơ (Spencer), Minlơ (Mill) ở
Anh. Giai đoạn kinh nghiệm phê phán xuất hiện vào thập niên 70 - 90 thế kỷ
XIX. Đại biểu của giai đoạn này là Makhơ (Mach) và Avênariút (Avenarius).Giai
đoạn thực chứng mới ra đời sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và phát triển cao
vào những năm 50 với nhiều chi phái như chủ nghĩa nguyên tử lôgích xuất hiện từ
1920 với đại biểu là Rútxen (Russell) và Vítgenxtanh (Wittgenstein);chủ nghĩa
thực chứng lôgích và triết học phân tích với đại biểu chính là Cácnáp (Camap), Slích
(Shelich)
Khi mới ra đời, chủ nghĩa thực chứng đã đáp ứng được nhu cầu củng cố và
phát triển khoa học nên được giai cấp tư sản khuyến khích và tuyên truyền rộng
rãi. Mặc dù chủ nghĩa thực chứng có vai trò tích cực giúp một số ngành khoa học
tự nhiên thoát khỏi một số tình trang bế tắc và thúc đẩy sự phát triển của tri thức
khoa học,nhưng do coi thường tư duy lý luận nên nó không thể thúc đẩy sự phát
triển của khoa học tự nhiên hiện đại ngày càng mang tính lý luận được.
II.2 - Trào lưu hậu thực chứng:
Như đã trình bày ở trên, những thành tựu của chủ nghĩa thực chứng trong xây
dựng lý thuyết khoa học đã có ảnh hưởng đến sự phát triển khoa học trong xã
hội hiện đại. Nhiều lý thuyết khoa học của nhiều ngành khoa học ra đời như lý
thuyết toán học. lý thuyết cơ học, vật lý học, hoá học, sinh học, xã hội học, kinh
tế học, tâm lý học v.v Tuy nhiên, với sự phát triển ngày càng nhanh của khoa
matters) như tâm lý, xã hội, thiên nhiên mà chỉ có các vấn đề (problems) và ước
muốn của chúng ta để giải thích chúng. Đối với Popper, câu hỏi then chốt là: làm
sao chúng ta có thể xác định một lý thuyết là khoa học hay không khoa học (mà
ông gọi là ngụy khoa học).
Nếu chủ nghĩa thực chứng lôgích trước đó coi khoa học là cái gì có thể kiểm
chứng được, bằng quan sát, dữ liệu, theo một số quy luật và những gì không thể
kiểm chứng được một cách lôgích là siêu hình học, hay "ngụy khoa học". Điều
Giảng viên: TS. Bùi Văn Mưa 4
K22 – Quản trị kinh doanh – Đêm 1
này đã bộc lộ nhiều giới hạn như lắm khi một lý thuyết (thí dụ như thuyết nguyên
tử với các điện tử) dù không quan sát được với kỹ thuật đương thời nhưng rồi đã
được kiểm nghiệm với kỹ thuật tiến bộ hơn thì với Karl Popper,ông đã đưa ra
quan điểm mới tốt hơn triết lý thực chứng lôgích. Theo ông, để phân biệt "khoa
học thật" sự với "ngụy khoa học" và siêu hình học, ta cần tiêu chuẩn: một lý
thuyết chỉ mang tính khoa học khi nó có thể chứng nghiệm là sai. Đây là tính
phản nghiệm (falsification) nổi tiếng của Popper, có nhiều ảnh hưởng vào thập
niên 1970. Chủ nghĩa phủ chứng của Karl Popper cho rằng, một lý luận được gọi
là khả phủ chứng nếu từ nó rút ra ít nhất một trần thuật có thể xung đột với một
vài sự kiện nào đó. Một lý thuyết khoa học mới chỉ xứng đáng thay thế một lý
thuyết đang có khi lý thuyết mới ấy tổng quát hơn, giải thích được hết những gì
lý thuyết cũ có khả năng giải thích, và hơn nữa, giải thích được nhiều trường hợp
mà lý thuyết cũ đã bị phản nghiệm. Rồi, bản thân lý thuyết mới ấy tự nó phải cho
nhiều cơ hội phản nghiệm. Và sau cùng, khoa học "thực sự" phải có những tiên
đoán về các hiện tượng chưa quan sát nhưng sẽ xảy ra, và có thể kiểm chứng.
Theo ông, lý luận được bác bỏ càng nhanh càng tốt, càng làm cho tính tinh
xác và tính phổ quát của các trần thuật lý luận ngày càng cao.
Pốppơ đã nâng khái niệm phủ chứng lên thành nguyên tắc phủ chứng mang
tinh thần lý tính phê phán.
Theo Pôppơ, khoa học là một sự nghiệp mang tính thể nghiệm nên sai lầm
khó tránh khỏi. Nhà khoa học không phải chỉ biết phủ định lý luận của người
chứng thô sơ Pốppơ là quá đề cao tính phủ chứng của kinh nghiệm, Lacatốt đã
khắc phục nó bằng chủ nghĩa phủ chứng tinh tế.
Triết gia này kết hợp quan điểm của Kuhn với phương pháp phản nghiệm (có
cải tiến) của Popper, cho rằng khoa học là một chuỗi những chương trình nghiên
cứu, từng bước tiến lên từ một vấn đề này đến vấn đề khác. Quan điểm của
Lakatos có vẻ hợp lý nhất đối với đa số các ngành khoa học hiện đại (kể cả các
ngành khoa học xã hội).
Lakatos cho thấy thêm những khuyết điểm của thuyết phản nghiệm Popper:
một lý thuyết bị phản nghiệm là sai (do bằng chứng) vẫn có thể được giữ lại nếu
có sự thay đổi về các giả định đằng sau bằng chứng ấy. Ông chỉ trích thuyết
Giảng viên: TS. Bùi Văn Mưa 6
K22 – Quản trị kinh doanh – Đêm 1
Popper vì theo thuyết này thì chỉ cần một phản nghiệm duy nhất có tính quyết
định là phải vứt bỏ ngay một giả thuyết khoa học. Ông cho rằng, tính chất cơ bản
của lý luận khoa học không phải là tính khả phủ chứng mà là tính mềm dẻo chịu
đựng và tính phụ thuộc lẫn nhau. Nếu biết điều chỉnh thích đáng tri thức bối cảnh
thì lý luận khoa học có thể sống sót từ sự phản bác kinh nghiệm. Ông kết luận:
Sự thật kinh nghiệm không thể xác chứng hay phủ chứng một trần thuật lý luận nào.
Khi xung đột với sự thật kinh nghiệm, lý luận không nhất thiết phải bị đào
thải mà đòi hỏi phải điều chỉnh lại để cứu vãn nó.Muốn đánh giá đúng một lý
luận nào đó cần phải đặt nó trong mối liên hệ với những lý luận khác hay với
những giả thuyết phụ trợ của nó, phải đặt nó trong điều kiện, hoàn cảnh mà nó
xuất hiện, nghĩa là phải có quan điểm toàn diện, lịch sử - cụ thể.
Lacatôt cho rằng, tính khoa học chỉ là thuộc tính của một hệ nhiều lý luận
liên kết chặt chẽ với nhau mà ông gọi là “Cương lĩnh nghiên cứu khoa học” được
tạo thành từ bốn yếu tố là: hạt cứng, dây bảo hộ, quy tắc gợi ý phản diện và quy
tắc gợi ý chính diện. Một cương lĩnh nghiên cứu chỉ bị phủ chứng khi xuất hiện
một cương lĩnh nghiên cứu mới T’ tiến bộ hơn.
Nói tóm lại, phản nghiệm kiểu Lakatos là dựa vào sự liên hệ giữa các thuyết
khoa học, trong khi phản nghiệm kiểu Popper chỉ xem xét một lý thuyết nào đó
toàn khác nhau, do đó chúng không thể so sánh được.
Ngày nay khái niệm kiểu mẫu mực được sử dụng khá rộng rãi trong hầu
khắp các lĩnh vực, đặc biệt ở các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, với cách
hiểu hoặc trùng khớp hoặc không xa lắm với cách hiểu của Thomas Kuhn và có
thể nói chính Cun là cha đẻ của khái niệm đó.
Thomas Kuhn đặt khoa học trong diễn trình phát triển năng động hơn là
trong một sơ đồ tĩnh tại. Chính kích thước lịch sử của khoa học giúp ta đến gần
hơn với thực tiễn nghiên cứu.Theo Kuhn, việc nghiên cứu lịch sử khoa học
không chỉ nhằm giải thích sự năng động của các khoa học dưới góc độ nhận
thức mà còn phải xét đến các nhân tố xã hội. Tuy không phải là người đầu tiên
đứng trên lập trường này (trước đó, vào những năm l920 và 1930, đã có những
cố gắng của các nhà triết học maxist như Nicolai Bukharin, Boris Hesen và John
D. Bernal nhằm phát triển một quan điểm lụy ngoại [externalist] về lịch sử khoa
học, nhấn mạnh vào các yếu tố quyết định của xã hội và của hệ tư tưởng đối với
Giảng viên: TS. Bùi Văn Mưa 8
K22 – Quản trị kinh doanh – Đêm 1
các sản phẩm tri thức), nhưng Thomas Kuhn nhìn chung được mọi người coi
như người sáng lập đích thực của cách tiếp cận mới.
Cun không chỉ liên kết kiểu mẫu mực với cộng đồng khoa học mà còn cố
gắng kết hợp lịch sử bên trong với lịch sử bên ngoài của khoa học, cố gắng kết
hợp lịch sử khoa học với xã hội học và tâm lý học khoa học nhằm vạch ra và
khảo sát các yếu tố chi phối sự phát triển khoa học. Do tình hình phát triển khoa
học vào thập niên 50 thế kỷ XX đòi hỏi phải tổng hợp tri thức khoa học chuyên
ngành, đòi hỏi phải làm rõ tính chỉnh thể thống nhất, của khoa học hiện đại, và
do hoạt động của nhà khoa học luôn chịu sự chi phối bởi một kiểu quan điểm,
một loại nguyên tắc, một kiểu khuôn mẫu nào đó nhất định mà định hướng
nghiên cứu đúng đắn này của Cun đã được giới khoa học phương Tây nhiệt
thành hưởng ứng.
Cun coi khoa học là kết quả hoạt động của các khối cộng đồng khác nhau, có
sử dụng các kiểu mẫu mực không giống nhau nhưng luôn thay đổi để hoàn thiện
Tuy nhiên, bên cạnh thành công và những đóng góp có giá trị không thể chối
bỏ, những phê phán cho rằng dường như ông đã gán cho khoa học quá nhiều
màu sắc chủ quan và phi duy lý, quan niệm về khoa học theo chiều hướng tương
đối luận. Các nhà tư tưởng hậu hiện đại và hậu cấu trúc cho rằng Cun đã cố
chứng minh cho sự phụ thuộc thái quá của tri thức khoa học vào văn hóa và
hoàn cảnh lịch sử của cộng đồng khoa học, mà quên đi khía cạnh nhận thức và
phương pháp.
III.4- Paul Feyarabend với Phương pháp luận đa nguyên (Phâyeraban):
Tiếp tục phát triển Chủ nghĩa lịch sử trong “Phương pháp luận đa nguyên” .
Trong tác phẩm nổi tiếng "Against method" ("Chống phương pháp"),
Feyerabend cho rằng không có một phương pháp khoa học nào là thích hợp cho
mọi trường hợp, và hô hào "dân chủ" trong nghiên cứu khoa học. Ông định nghĩa
"khoa học là cái gì mà các nhà khoa học làm"! Feyarabend kêu gọi phân chia,
tách rời ảnh hưởng khoa học ra khỏi xã hội, giống như tách rời tôn giáo và nhà
nước, để tránh sự độc tôn của một chủ thuyết khoa học trong việc vận hành xã
hội.
Giảng viên: TS. Bùi Văn Mưa 10
K22 – Quản trị kinh doanh – Đêm 1
Đề cao phương pháp lựa chọn, Phâyeraban cho rằng: Nhà khoa học năng
động sáng tạo là người biết sử dụng phương pháp này để thu hút, kết hợp các
kiến giải khác với kiến giải của mình, biết so sánh tư tưởng của mình với tư
tưởng của người mà không nhất thiết phải đối chiếu với kinh nghiệm; mỗi cá
nhân đều có thể và cần phải đóng góp càng nhiều, càng tốt vào sự nghiệp văn hóa
chung của nhân loại.
Ông cho rằng không một phương pháp hay phương thức nào có thể gọi là
chuẩn để tuân theo trong nghiên cứu khoa học. Nói cách khác, không nên loại bỏ
phương pháp nào. Kết quả của các nhà khoa học dựa vào các phương pháp không
phải lúc nào cũng thành công. Ta chỉ có thể đánh giá thành tựu sau kết quả của
nghiên cứu, và không thể tiên đoán chắc chắn về sự thành công của các phương
pháp. Về điểm này, Feyerabend, trong tư duy khoa học, dường như chia sẻ cùng
sọt rác của lịch sử cả.
Với phương pháp phi lý tính, ông coi lý tưởng thời hiện đại, điều kiện xã hội,
tâm lý quần chúng, lợi ích giai - tầng, sự nhạy bén của cá tính cá nhân, bối cảnh
tri thức và sự tuyên truyền của khoa học là những yếu tố phi lý tính thúc đẩy sự
tiến bộ của khoa học. Khoa học và các hình thức phi khoa học như thần thoại, tôn
giáo, siêu hình học không cô lập mà là thẩm thấu vào nhau, cùng thúc đẩy nhau
phát triển.
Khoa học phải được dân chủ hoá và những khoa học gia thiểu số có ý kiến,
phương thức khác với đa số phải được bảo vệ. Bằng nguyên tắc “thế nào cũng
được", ông chủ trương tạo ra một bầu không khí thật dân chủ tự do để khai thác
triệt để tính năng động sáng tạo của giới khoa học.
Feyerabend tiếp tục phát triển chủ nghĩa lịch sử của Cun trong “phương pháp
luận đa nguyên”. Nó là định hướng để ông xây dựng lý luận về khoa học tự do
trong một xã hội tự do. Trong xã hội tự do, không có một tiêu chuẩn tuyệt đối
nào để phân giới khoa học và các hình thái ý thức phi khoa học, mà chúng đan
xen xâm nhập vào nhau, vì vậy không nên dành cho khoa học một quyền uy
trước các hình thái ý thức khác. Hơn nữa, mục tiêu của khoa học cũng không
phải là mục tiêu quan trọng nhất và khoa học không chi phối mọi sinh hoạt của
con người, mà mỗi con người đều có một điều kiện để sống, một niềm tin để theo
đuổi,một cơ hội để sáng tạo. Từ đây,ông khẳng định chủ nghĩa sôvanh khoa học
Giảng viên: TS. Bùi Văn Mưa 12
K22 – Quản trị kinh doanh – Đêm 1
không củng cố sức mạnh và ưu thế cho khoa học mà là trói buộc tính sáng tạo và
tự do lựa chọn của nó. Vì vậy, cần phải phấn đấu xây dựng khoa học tự do trong
một xã hội tự do.
Kết luận:
Xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển từ sau chiến tranh thế
giới thứ II của trào lưu hậu thực chứng phương Tây, đi từ Karl Popper -người
đặt nền móng cho chủ nghĩa hậu thực chứng với Chủ nghĩa phủ chứng, rồi đến
Chủ nghĩa phủ chứng tinh tế của Lakatos, Chủ nghĩa lịch sử của Thomas Kuhn,
Giảng viên: TS. Bùi Văn Mưa 15
K22 – Quản trị kinh doanh – Đêm 1
Mục lục:
Lời mở đầu: 1
I-Hoàn cảnh ra đời: 2
II-Khái quát các trào lưu: 2
II.2 - Trào lưu hậu thực chứng: 3
III- Trào lưu hậu thực chứng và sự ảnh hưởng của nó đến nhận thức khoa học trong xã hội
phương Tây hiện đại: 4
III.1-Chủ nghĩa phủ chứng của Karl Popper (Pốppơ): 4
III.2- Chủ nghĩa phủ chứng tinh tế của Lakatos (Lacatốt): 6
III.4- Paul Feyarabend với Phương pháp luận đa nguyên (Phâyeraban): 10
Tài liệu tham khảo: 14