LỊCH SỬ HỌC THUYẾT CHÍNH
TRỊ PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI
NHÓM THỰC HIỆN:
1. Đoàn Văn Lân
2. Nguyễn Thị Kim Điệp
3. Nguyễn Thị Hà
4. Phan Thị Huyền Trang
5. Phan Thị Thuận
6. Trần Văn Thành
7. Lê Thị Trang
8. Võ Thị Yến Trinh
9. Nguyễn Thị Thẩm
10. Bùi Thị Vịnh
11. Mai Thị Lý
MSSV: 0669066
MSSV: 0669027
MSSV: 0669032
MSSV: 0669158
MSSV: 0669137
MSSV: 0669123
MSSV: 0669156
MSSV: 0669165
MSSV: 0669127
MSSV: 0669185
MSSV: 0669080
MỤC LỤC:
- Vào thế kỷ XI đến thế kỷ thứ IX trước CN, các nhân tố giai cấp và
nhà nước bắt đầu xuất hiện, mặc dù thương mại chưa phát triển rực
rỡ nhưng nhân tố đặc biệt- tức là tầng lớp nô lệ thì đã xuất hiện.
- Tù binh là nguồn nô lệ chủ yếu. Điều đó đã trở thành một trong
những mục đích chính của chiến tranh. Cũng như nhiều loại sản vật
khác, nô lệ đã biến thành một món hàng để mua bán. Ví dụ: một nô
lệ có giá ngang từ 4 đến 20 con bò.
- Mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ và cuộc đấu tranh
giữa hai giai cấp ấy gắn liền với cuộc đấu tranh của tầng lớp nhân
dân khác chống các thế lực quý tộc bảo thủ là nguyên nhân chủ yếu
làm cho các quốc gia thành thị Hy Lạp đi đến suy vong và dẫn tới
sự phát triển tiến bộ của xã hội Hy Lạp cổ đại. Những cuộc đấu
tranh ấy là mảnh đất hiện thực làm nảy sinh những mầm mống tư
tưởng XHCN hoặc CSCN ban đầu đơn sơ tuy còn rất thô thiển,
nhưng những nhân tố tư tưởng XHCN ấy đã lấp lánh như những
hạt kim loại hiếm trong khối quặng.
- Có rất nhiều phong trào đấu tranh trong thời kì này
nhưng tất cả đều có một nét chung là diễn ra cục bộ chứ
chưa có phong trào nào quan tâm thật sự đến số phận
những người nô lệ.
→ Những điều kiện tự nhiên và xã hội với hệ thống nhà
nước và pháp luật gắn liền với chế độ chiếm hữu nô lệ
của nền văn minh Hi Lạp cổ đại đã có ảnh hưởng rất
lớn đến việc hình thành các học thuyết chính trị phương
Tây.
→ Các học thuyết chính trị phương Tây cổ đại với những
hết phải là một công dân, có đức hạnh công dân vừa là một
người có đức hạnh con người nói chung
- Tiêu chuẩn xây dựng hình thức nhà nước kiểu mẫu là khả
-
-
năng phụng sự lợi ích chung, đi tìm hạnh phúc cho xã hội.
Aristotle cho nhà nước là hình thức chung sống của công dân.
Ông đã phân biệt được trong thể chế chính trị có 3 bộ phận: cơ
quan lập pháp, hành pháp và tòa án. Nó được gọi là tam quyền
phân lập
Theo Aristotle có 6 loại hình thể chế chính trị. Trong đó có 3
loại hình thể chế chính trị đúng là: quân chủ, quý tộc và cộng
hòa. 3 thể chế sai là: bạo chúa, tập đoàn chính trị và dân chủ.
Aristotle phân chia nhà nước theo số đông, chất lượng và sức
mạnh.
Ông đã sai khi cho rằng địa vị xã hội của con người là bẩm sinh, do
đó con người sinh ra đã là nô lệ hoặc là chủ nô. Ông có tư tưởng
dân tộc khi muốn giải phóng tất cả những người Hy Lạp khỏi nô
lệ.
→ Về tư tưởng chính trị- xã hội của ông có nhiều đóng
góp lớn cho nhân loại. Hậu thế đã kế thừa tư tưởng về
tam quyền phân lập trong thể chế chính trị của ông.
Sau này, Montesquier đã nghiên cứu nó một cách hoàn
- Đưa ra quan niệm về nhà nước lý tưởng trong đó sự tồn tại và phát
triển của nhà nước dựa trên sự phát triển của sự vật vật chất, sự
phân công hài hòa các ngành nghề và giải pháp mâu thuẩn giữa
các nhu cầu xã hội.
- Ông đã đề xướng một chế độ cộng sản triệt để: tài sản chung,
vợ chung, con chung… nếu như không theo kiểu chế độ vợ
con chung thì ít nhất luật pháp cũng đặt ra những quy tắc cho
những cuộc hôn nhân mà theo đó những cặp hôn phối buộc
với nhau lỏng lẻo hơn.
- Trong xã hội lý tưởng chia làm 3 giai cấp:
+ giai cấp thống trị.
+ Bọn võ sĩ được huấn luyện.
+ Những người làm nghề nông và công thương, phải lao động để
nuôi giai cấp thống trị và bọn võ sĩ.
- Nô lệ thì không được xếp hạng trong xã hội.
II.3. Nội dung, tư tưởng triết huyết chính trị của
Democritus
- Democritus(460-370 TCN) sinh ra ở Apde- 1 thành phố
-
thương mại lớn ở vùng Tơraxo.
Là một nhà triết học duy vật lỗi lạc theo đường lối nguyên tử
luận ở Hy Lạp cổ đại. Người được C.Mác coi là “ một bộ óc
bách khoa đầu tiên trong những người Hy Lạp cổ đại”
Ông hiểu biết sâu rộng về nhiều mặt, là đại biểu xuất sắc nhất
4. Nghệ thuật quyền lực của học thuyết chính trị
phương tây cổ đại.
- Trong học thuyết chính trị phương tây cổ đại vấn đề được
-
quan tâm đó là nghệ thuật quyền lực. Quyền lực ở đây có thể
hiểu là quyền lực chính trị, biểu hiện ai là người phù hợp nhất
để lãnh đạo vận hành các công việc của nhà nước.
Quyền lực là cái được biểu hiện trong xã hội, trong một quan
hệ nhất định mà một người hay một nhóm người có thể để
buộc người khác phục tùng.
Quyền lực là cái mà đó sở hữu nó thì có thể điều khiển hành vi
của người khác vì lợi ích của họ.
- Quyền lực chính trị thể hiện ở mục đích trực tiếp là việc
giành vị thế chính trị( có trở thành giai cấp cầm quyền
không) và mục đích cơ bản là lợi ích kinh tế giữa các
giai cấp
- Để thực hiện mục tiêu nắm quyền lực chính trị, các giai
cấp đã sử dụng mọi phương tiện, vô số phương pháp,
tạo nhiều thủ đoạn, sách lược, chiến lược. Tính đa dạng
của biểu hiện quyền lực chính trị và sức mạnh của nó
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có các đặc trưng
kinh tế, vị trí, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
của khoa học công nghệ, đạo đức người cầm quyền.
Học thuyết chính trị phương Tây cổ đại với những đại diện
tiêu biểu như Platon, Aristotle, Democritus đã có góp phần
làm phong phú đa dạng hơn vào hệ thống học thuyết chính trị
của thế giới.
Bối cảnh đương thời đã đẩy việc đi tìm những câu trả lời cho
những vấn đề then chốt của chính trị xã hội phương Tây cổ đại
đã thúc đẩy học thuyết nhà nước và pháp quyền của nhân loại
đi lên. những luận điểm mà các nhà tư tưởng đưa ra rất quý
báu, sáng suốt và quan trọng trong quá trình phát triển của xã
hội loài người ( về sự nảy sinh và bản chất của các thiết chế
nhà nước-pháp quyền, về các hình thức nhà nước, về việc tổ
chức điều hành trong xã hội có giai cấp…mà cái nổi bật nhất
là nghệ thuật quyền lực)