ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
LÊ THỊ SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC HƯỚNG
TỚI KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Thị Lan
HÀ NỘI – 9/2009 CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN KTTT: Kinh tế tri thức
NLCN: Nguồn lực con người
2.1.1. Khái quát việc phát triển nguồn lực con người Việt Nam thời
gian qua 49
2.1.2. Đánh giá về nguồn lực con người Việt Nam trước yêu cầu của kinh
tế tri thức 56
2.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực con người
Việt Nam đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức 72
2.2.1. Nhóm giải pháp giáo dục- đào tạo 72
2.2.2. Nhóm giải pháp kinh tế 80
2.2.3. Nhóm giải pháp chính trị 82
2.2.4. Nhóm giải pháp văn hoá - xã hội 88
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kinh tế tri thức - là một khái niệm dù mới nhưng đang dần trở nên quen
thuuộc trong thế giới hiện đại. Nó được hiểu như một giai đoạn phát triển
mới, cao hơn của nền kinh tế nhân loại. Trên thế giới, nền kinh tế tri thức còn
được gọi với những tên khác như nền kinh tế mạng, kinh tế số, kinh tế thông
tin…Mặc dù tên gọi khác nhau, song có thể thấy nền kinh tế này là một xu thế
tất yếu, dựa trên công nghệ cao, trong đó vốn con người là yếu tố quyết định.
Cho đến nay, khi nhận định về nền kinh tế tri thức vẫn còn nhiều ý kiến
khác nhau: có người ủng hộ nhiệt tình cho xu thế này, nhưng cũng không ít
những người tỏ ra hoài nghi trước viễn cảnh của nó. Song nhìn chung, các ý
kiến lại tương đối thống nhất khi cho rằng: nền kinh tế tri thức chỉ thực sự
được phát triển khi dựa trên một lực lượng sản xuất tiến bộ mà nòng cốt là
công nghệ thông tin và các công nghệ cao, lấy tri thức làm thước đo giá trị sản
phẩm; và đều phải thừa nhận rằng kinh tế tri thức đang làm cho diện mạo và
hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, là cơ sở, là ngọn nguồn của nhau. Có thể nói,
con người là hạt nhân, là mục đích của hoạt động tri thức, hoạt động kinh tế.
Như vậy, con người là nguồn vốn quý giá nhất, tài nguyên lớn nhất trong tất
cả các nguồn lực để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Phát triển nguồn
lực con người sẽ phát huy được lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng
để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, từng bước phát triển kinh tế tri thức , phát
huy vai trò của mình. Vấn đề là làm thế nào phát triển nguồn lực con người
Việt Nam bằng sức mạnh con người Việt Nam, đưa Việt Nam bước đi vào
kinh tế tri thức? Đó là một vấn đề cần được giải đáp thấu đáo cả về mặt lý
luận và thực tiễn.
Chính vì những lý do đó, tác giả chọn đề tài “Phát triển nguồn lực con
người hướng tới kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình. Tác giả mong muốn đề tài sẽ góp một phần nhỏ cho việc
3
nghiên cứu cũng như thực hiện vấn đề phát triển con người Việt Nam để xây
dựng đất nước trong thời đại mới - thời đại kinh tế tri thức.
2. Tình hình nghiên cứu
Kinh tế tri thức xuất hiện đang trở thành một xu hướng ngày càng rõ rệt
trong xu thế phát triển của thế giới. Việt Nam chúng ta cũng không nằm ngoài
quỹ đạo đó, chúng ta lựa chọn việc phát triển kinh tế tri thức như là một chiến
lược phát triển hữu hiệu để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa
đất nước. Đảng, Nhà nước ta đã nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế tri
thức, đồng thời cũng đã xác định yếu tố nguồn lực con người là yếu tố quan
trọng nhất quyết định sự phát triển của đất nước nói chung và phát triển kinh
tế tri thức nói riêng; sự xuất hiện của nền kinh tế mới này là đề tài thu hút các
nhà khoa học và các tổ chức trên khắp thế giới cũng như trong nước nghiên
cứu, đặc biệt trong thập niên 90 của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ
XXI này. Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có hàng loạt các công
trình nghiên cứu, các hội thảo khoa học được xây dựng xoay quanh vấn đề
công trình bằng tiếng Việt của các tác giả trong nước còn đặt ra những vấn
đề lớn đối với sự phát triển của Việt Nam.
- Một hướng nghiên cứu khác đó là nghiên cứu về vấn đề con người,
vấn đề nguồn nhân lực đối với sự phát triển của Việt Nam. Các công trình tiêu
biểu có thể kể đến là Phạm Minh Hạc với Vấn đề con người trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước (1996), Phát triển văn hóa và xây
dựng con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa (2003), Con người Việt
Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển (2004), Phát triển văn hóa con
người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa (2007);
Phạm Văn Đức với Mấy suy nghĩ về vai trò của nguồn lực con người trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa (Luận án tiến sĩ), Hồ Sĩ Quý với Con
người và phát triển con người (2006); cùng rất nhiều các bài báo đăng trên
các tạp chí Triết học, Tạp chí Khoa học Xã hội, Tạp chí Nghiên cứu Lý luận
chính trị, Tạp chí Lao động & Xã hội,… nghiên cứu về vấn đề nguồn nhân
5
lực Việt Nam hiện nay. Hầu hết các công trình này đã đi sâu nghiên cứu vấn
đề con người nói chung và vấn đề nguồn nhân lực Việt Nam nói riêng, trong
đó, xu hướng nghiên cứu về thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam và các giải
pháp phát triển là xu hướng chiếm nhiều nhất.
- Hướng nghiên cứu thứ ba đi vào nghiên cứu vấn đề con người và
nguồn nhân lực Việt Nam trước yêu cầu phát triển mới. Có thể kể đến các
công trình của: Trần Văn Tùng với Kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo
dục Việt Nam (2001), Bùi Thị Ngọc Lan với Nguồn lực trí tuệ trong sự
nghiệp đổi mới ở Việt Nam (2002), Phạm Thị Hồng Điệp với bài tạp chí
Nguồn lực con người và phát triển bền vững kinh tế tri thức (Tạp chí Khoa
học Xã hội, số 1 - 2008), Nguyễn Đình Hòa với Mối quan hệ giữa phát triển
nguồn nhân lực và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa (Tạp chí Triết
học, số 1 - 2004), Đặng Hữu với Phát triển bền vững dựa trên tri thức (Tạp
chí Lý luận chính trị, số 11 – 2004); Đào tạo nhân lực cho sự nghiệp công
nhóm đề tài thứ ba – nhóm đề tài về mối quan hệ giữa nguồn lực con người
với kinh tế tri thức thì các tác giả lại chưa phân tích một cách tổng quan cả
các vấn đề về kinh tế tri thức, về khái niệm nguồn lực con người lẫn hệ thống
các giải pháp, vì thế chưa thấy được một cách hệ thống về mối quan hệ giữa
các vấn đề này để từ đó có giải pháp phát triển phù hợp để phát triển nguồn
lực con người Việt Nam đáp ứng được yêu cầu mà kinh tế tri thức đặt ra trong
thế kỷ XXI.
Nền kinh tế tri thức đang hình thành, phát triển và tác động ngày càng
mạnh mẽ làm cho nền kinh tế đang thay đổi nhanh chóng từng ngày đòi hỏi
phải có sự nghiên cứu, bổ sung không ngừng về mặt lý luận. Trong khuôn khổ
của luận văn này, chúng tôi cố gắng khái quát lại những đặc trưng tiêu biểu
của nền kinh tế tri thức, đồng thời bổ sung thêm những nghiên cứu mới về
nguồn lực con người về mặt khái niệm, hiện trạng, và những giải pháp để phát
triển nguồn lực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức.
7
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Trên cơ sở phân tích các vấn đề của kinh tế tri thức, yêu cầu của phát triển
kinh tế tri thức đối với việc phát triển nguồn lực con người, luận văn đề ra
một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực con người Việt Nam
hướng tới kinh tế tri thức.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ lý luận cơ bản về kinh tế tri thức, về vai trò nguồn lực con
người trong phát triển kinh tế tri thức.
- Sự cần thiết của việc từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
và những yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển nguồn lực con người Việt
Nam.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương và 5 tiết.
9
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. KINH TẾ TRI THỨC VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI
VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và đặc trưng của kinh tế tri thức
1.1.1. Khái niệm kinh tế tri thức
* Sự xuất hiện và phát triển của kinh tế tri thức
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại là tiền đề cho sự hình
thành và phát triển nền KTTT. Với ba phát minh vĩ đại của trí tuệ nhân loại
nửa đầu thế kỷ XX: Thuyết tương đối của Anhxtanh, Thuyết lượng tử của
nói chung, giúp nhân lên sức mạnh trí óc của con người. Ngày nay, nhịp độ
tăng trưởng GDP, tốc độ tăng việc làm do công nghệ thông tin tạo ra nhanh
hơn từ 14 đến 16 lần so với toàn bộ các ngành kinh tế còn lại.
Sự ra đời của cuộc cách mạng lần thứ tư này đã làm cho cơ cấu giá trị
trong một sản phẩm thay đổi. 70% - 80%, thậm chí có những sản phẩm chiếm
đến 90% giá trị của sản phẩm là do các yếu tố về công nghệ, trí tuệ tạo ra;
hàm lượng của các yếu tố vật chất như nguyên liệu, nhiên liệu, thiết bị, và
năng lượng trong một sản phẩm đã bị giảm đi nhiều, chỉ chiếm từ 20 – 30%
giá trị sản phẩm. Như vậy, nền kinh tế mới của các quốc gia ngày nay chủ yếu
là dựa vào yếu tố trí tuệ, chất xám, công nghệ cao mà không còn là dựa vào
các yếu tố truyến thống của sản xuất như trước đây nữa.
Hơn nữa, khoa học công nghệ hiện đại đã thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra nhiều ngành nghề
mới, việc làm mới, nhất là trong công nghiệp và dịch vụ. Tỷ lệ nông nghiệp
trong GDP ngày càng giảm mặc dù giá trị sản lượng nông nghiệp không
ngừng tăng. Hiện nay, dịch vụ - khu vực sản xuất phi vật chất, đang ngày
càng trở thành ngành sản xuất chủ yếu, bởi khu vực này tạo ra giá trị gia tăng
nhiều nhất, nó chủ yếu dựa vào xử lý thông tin và tạo ra thông tin, tri thức.
Dịch vụ hiện nay chiếm đến 61% trong tổng sản phẩm xã hội của toàn thế
11
giới. Trong nền kinh tế mới, giá trị gia tăng được tạo ra bởi những yếu tố vô
hình như sáng chế, phát minh, thiết kế mẫu mã, tiếp thị, dịch vụ tài chính,
quản trị kinh doanh…
Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại cũng đem lại sự biến đổi trong
cơ cấu xã hội. Trước đây ở các nước, nông dân chiếm đa số. Nhưng ngày nay,
công nhân mới là lực lượng chủ yếu, trong đó công nhân tri thức là lực lượng
chủ yếu tạo ra của cải xã hội, tiêu biểu cho lực lượng sản xuất mới. Mặt khác,
giữa công nhân và nhà khoa học cũng không còn khoảng cách, một người
công nhân đồng thời là một nhà khoa học và ngược lại. Chính vì thế, việc đào
mọi người); “Kinh tế dựa vào tri thức”, “kinh tế dẫn dắt bởi tri thức”, “kinh tế
tri thức” (nói lên vai trò quyết định của tri thức và công nghệ đối với phát
triển kinh tế).
Trong số các tên gọi trên, “kinh tế tri thức” là tên gọi thường được
dùng nhất. Tổ chức OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) chính
thức dùng từ năm 1996. Cách gọi này nói lên được nội dung của nền kinh
tế mới xuất hiện này.
Và định nghĩa mà tổ chức này đưa ra năm 1996, có sự điều chỉnh lại
năm 2000 cũng là định nghĩa được nhiều người chấp nhận nhất. KTTT được
định nghĩa là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri
thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo việc làm
trong tất cả các ngành kinh tế [28; 98].
Một định nghĩa khác cũng được nhiều người sử dụng là định nghĩa của
Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh Quốc năm 1998, cho rằng “nền kinh tế
được dẫn dắt bởi tri thức là nền kinh tế mà việc sản sinh, khai thác tri thức có
một vai trò nổi trội trong quá trình tạo ra của cải” [45; 12].
Ngoài ra còn có nhiều cách hiểu khác nhau về nền kinh tế mới này.
Tuy nhiên, tất cả cách tiếp cận đó đều xoay quanh định nghĩa khái quát của tổ
chức OECD đưa ra trong báo cáo “kinh tế dựa trên tri thức” năm 1996: KTTT
là những nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri
13
thức, thông tin. Tức là việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức giữ vai trò
quyết định trong phát triển kinh tế, tạo ra của cải vật chất, nâng cao chất
lượng cuộc sống.
Như vậy, trong nền KTTT, vấn đề không chỉ là tạo ra tri thức mà còn
bao gồm cả thu nhận, sử dụng và truyền bá tri thức. Hơn thế nữa, KTTT
không chỉ bao hàm duy nhất các lĩnh vực hoạt động công nghệ cao, sử dụng
lao động trí thức và lao động có kỹ năng cao là chính mà còn là quá trình tri
thức xâm nhập và chi phối tất cả mọi hoạt động kinh tế. Nói cách khác, tất cả
hệ sản xuất và thể chế quản lý là những mặt không thể tách rời lực lượng sản
xuất trong vận động, khi lực lượng sản xuất phát triển thì sẽ kéo theo sự phát
triển của quan hệ sản xuất đồng thời thể chế quản lý. Có như vậy, KTTT tồn
tại dưới dạng một cơ cấu kinh tế có khả năng vận động tái sản xuất được,
những chính sách phát triển đưa ra mới đảm bảo được tính toàn diện đối với
sự phát triển của xã hội.
1.1.2. Đặc trưng của kinh tế tri thức
Lịch sử văn minh nhân loại đến nay, nhìn từ góc độ tiến bộ kỹ thuật và
lực lượng sản xuất phát triển có thể chia thành ba giai đoạn: Giai đoạn kinh tế
sức lao động, giai đoạn kinh tế tài nguyên và giai đoạn KTTT. Mỗi một giai
đoạn đều có những đặc trưng riêng phản ánh bản chất phát triển của chúng.
Hiện nay, khi nhận định về đặc trưng của KTTT, các ý kiến phần lớn là giống
nhau, chỉ khác nhau ở số lượng các đặc trưng. Dưới đây, chúng tôi xin trình
bày một số đặc trưng chủ yếu của nền KTTT như sau:
1. Đặc trưng cơ bản nhất của kinh tế tri thức đó là nền kinh tế dựa chủ
yếu vào tri thức hay tri thức trở thành nguồn lực có ý nghĩa quyết định nhất
đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Khác với các nền kinh tế đã có trong lịch sử
(nền kinh tế nông nghiệp, nền kinh tế công nghiệp), tri thức là nguồn lực có vị
trí quyết định nhất của sản xuất, là động lực quan trọng nhất cho sự phát triển
kinh tế trong nền KTTT.
Trong nền KTTT, tri thức tham gia vào quá trình quản lý, điều khiển
sản xuất, đồng thời trực tiếp là một thành tố trong các sản phẩm cũng như
15
nguyên liệu sản xuất. Ngày nay, đúng như dự báo của C.Mác: Tri thức trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Xu hướng này ngày càng được thấy rõ, có
hơn 50% GDP hàng năm của các nước OECD có nguồn gốc từ tri thức, có tới
60% công nhân Mỹ là công nhân tri thức, trong cơ cấu giá trị các sản phẩm,
giá trị của nó được cấu thành từ tri thức chiếm 70% – 80%, thậm chí có
những sản phẩm còn cao hơn.
giá trị xã hội. Ai hay quốc gia dân tộc nào “chiếm hữu” hoặc sáng tạo được
nhiều tri thức thì sẽ có nhiều ưu thế trong cuộc cạnh tranh gay gắt này. Vì
vậy, việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản tri thức là yêu cầu cấp thiết, là động lực
đảm bảo cho sự sáng tạo và khai thác tài nguyên trí tuệ. Thế nhưng, nếu bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ đến mức hạn chế sự phổ biến tri thức thì lại kiềm chế
sự phát triển.
2. Nền kinh tế tri thức là mang tính chất toàn cầu. Quá trình phát triển
khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và truyền thông, phát triển
KTTT, cùng với quá trình phát triển thương mại, thị trường và quá trình toàn
cầu hóa, nhất thể hóa các nền kinh tế là những quá trình đi liền nhau, gắn
quyện với nhau, tác động qua lại, thúc đẩy nhau phát triển. Ngày nay, sự sản
sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức không còn nằm trong phạm vi biên giới
một quốc gia. Nền KTTT ra đời trong điều kiện nền kinh tế thế giới toàn cầu
hóa; bất cứ ngành sản xuất nào, dịch vụ nào cũng đều dựa vào nguồn cung
ứng từ nhiều nước và được tiêu thụ trên toàn thế giới. Người ta thường gọi
nền KTTT là nền kinh tế toàn cầu hóa nối mạng, hay là nền kinh tế toàn cầu
dựa vào tri thức.
Thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, mà trực tiếp
nhất là công nghệ thông tin là một trong những nguyên nhân dẫn đến xu thế
toàn cầu hóa. Đây là xu thế khách quan của lịch sử phát triển xã hội. Không
gian điện tử - các hoạt động mạng (chủ yếu là internet) là bộ phận quan trọng
của hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu đã giúp rút ngắn thời
gian, giảm khoảng cách không gian, biên giới địa lý ngày càng mất dần ý
17
nghĩa, đảm bảo những điều kiện thuận lợi nhất và cần thiết nhất để mọi người
cùng tham gia vừa để hợp tác, vừa để cạnh tranh, cùng tồn tại và phát triển.
Nền KTTT dựa vào đầu tư vốn trí tuệ, thực hiện sự phát triển bền vững
trong nền kinh tế toàn cầu. Người ta nhận thấy rằng, trong nền KTTT, nguồn
tài nguyên tiêu hao không nhiều nhưng sự tăng trưởng kinh tế của một số
mới. Cụ thể là đào tạo cơ bản để tạo thêm việc làm và tiếp tục đào tạo, đồng
thời vừa đào tạo vừa làm việc. Như thế được gọi là học tập suốt đời. Xã hội
học tập phải tạo điều kiện thuận lợi nhất, đảm bảo cho mọi thành viên trong
xã hội có cơ hội học tập tốt nhất, bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu.
UNESCO (tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp
quốc) đã nêu lên bốn trụ cột của giáo dục, coi đó như một chìa khóa để
bước vào thế kỷ XXI là: Học để biết, học để lao động, học cách chung sống
và học cách tồn tại.
Việc học tập suốt đời trong nền KTTT chẳng những giúp ta vượt qua
thách thức của một thế giới đầy biến động, đang thay đổi nhanh chóng, mà
còn mở ra nhiều cơ hội thích nghi, tiếp cận trong không gian và thời gian hiện
đại. Đồng thời, việc học tập suốt đời còn bao hàm cả việc hình thành nên nhân
cách, năng lực, khả năng đánh giá và hành động của mỗi cá nhân.
4. Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bền vững, rất nhạy cảm
và thân thiện với môi trường. Trong nền sản xuất trước đây, với tiêu chí là lợi
nhuận, các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế luôn muốn vận dụng một cách
tối đa các máy móc hiện đại hiện thời để khai thác mọt cách triệt để tài
nguyên thiên nhiên; và để chi phí sản xuất trở nên tối giản nhất họ bỏ qua các
khâu về xử lý chất thải. Vì thế tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, môi trường
bị ô nhiễm nghiêm trọng. Còn trong nền KTTT, sự phát triển của nó là dựa
trên cơ sở kinh tế công nghệ cao, sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả các
nguồn tài nguyên và không gây ô nhiễm môi trường sống của con người, đồng
thời khai phá nguồn tài nguyên thiên nhiên còn chưa được tận dụng hết để
thay thế nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm đang gần cạn kiệt. Ví dụ, hiện
19
nay nguồn năng lượng hóa thạch đang gây ô nhiễm nặng nề, với mối đe dọa
về sự cạn kiệt dầu khí (giá dầu hiện nay có lúc đã lên đến hơn 100USD/thùng)
đang là nguy cơ đối với tính bền vững, thì nhờ hệ thống công nghệ cao, nền
KTTT có thể chuyển sang hệ năng lượng mới rẻ tiền và phân phối đồng đều
Trong xã hội xuất hiện các cộng đồng dân cư kiểu mới. Đó là các tổ
hợp vừa sản xuất, vừa nghiên cứu, học tập, các làng khoa học, các công viên
khoa học, các vườn ươm khoa học, …được xây dựng. Ở đây, người ta tạo ra
các nhân tài, các chuyên gia, kỹ thuật viên bậc cao chuyên sản xuất ra tri thức
có tính năng hoàn toàn mới. Đó cũng chính là thế mạnh của một dân tộc, một
quốc gia hay một nhóm quốc gia trong cuộc cạnh tranh.
Kèm theo sự thay đổi đó là sự thay đổi về thang giá trị. Trước đây trong
nền kinh tế công nghiệp tư bản chủ nghĩa, số vốn hữu hình (bằng tiền) quyết
định bậc thang giá trị. Nền kinh tế ngày nay đang dần chuyển sang bậc thang
giá trị mới được quyết định bởi vốn vô hình (nhân tài sản sinh ra tri thức có
giá trị cao, công nghệ có hiệu quả lớn…).
Sự thay đổi của thang giá trị còn thể hiện ở chỗ quan điểm thích “làm
quan” chuyển sang thích làm doanh nhân cạnh tranh thắng bại trong thị
trường. Trong nền KTTT, chỉ có các quyết sách dựa trên tri thức tiên tiến thì
mới có thể chỉ ra hướng đi đúng. Việc ra quyết định trong điều chỉnh vĩ mô
trong nền KTTT càng phải được tri thức hóa cùng với sự hỗ trợ của các công
cụ tối tân của công nghiệp công nghệ thông tin và công nghệ tri thức, tức là
vận dụng công nghệ quản lý.
Có thể khái quát những điểm khác biệt giữa các nền kinh tế như sau:
21
Bảng so sánh đặc điểm ba nền kinh tế:
Yếu tố
Nền kinh tế
nông nghiệp
Nền kinh tế công
nghiệp
Nền KTTT
Đầu vào của sản
Cơ giới hóa, hóa học
hóa, điện khí hóa,
chuyên môn hóa
Công nghệ cao, điều
khiển, sáng tạo
Cơ cấu xã hội
Nông dân là
chủ yếu
Công nhân là chủ
yếu
Công nhân tri thức là chủ
yếu
Đầu tư cho R&D
<0.3% GDP
1% - 2% GDP
>3% GDP
Tỷ lệ đóng góp của
khoa học – công
nghệ cho tăng
trưởng
30%
70%
Đầu tư cho giáo dục
<1% GDP
2% - 4% GDP
6% GDP
Tầm quan trọng của
giáo dục
Thấp
thì ra đời KTTT.
Đã gọi là xu thế khách quan thì không thể quay lưng lại hay từ chối nó
mà có thể phát triển được. Nhờ sớm biết sử dụng tri thức để phát triển mà nền
kinh tế của các nước phát triển đã vượt xa các nước đang phát triển cả về trình
độ và tốc độ phát triển. Do tính linh hoạt, hiệu quả cao, các sáng kiến, phát
minh khoa học xuất hiện ngày càng nhiều và điều quan trọng hơn là chúng
được phổ biến cực nhanh trên diện rộng thông qua mạng internet siêu cao tốc
đã tạo ra sự bứt phá nhanh trong tăng trưởng kinh tế. Theo tính toán của giới
chuyên môn, chỉ tính riêng quá trình chuyển giao công nghệ được rút ngắn, có
thể đẩy mức tăng trưởng kinh tế thế giới lên đến 1% hằng năm, tương đương
với 300 tỷ USD và còn cao gấp bội theo mức gia tăng của tổng sản phẩm thế
giới trong thế kỷ 21. Thành quả của KTTT là rất to lớn; bởi vậy, việc nắm bắt
được xu thế phát triển của nền KTTT, đưa ra được những đối sách thích hợp
trong chiến lược phát triển kinh tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với triển
vọng phát triển của mỗi quốc gia hiện nay.