MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN
Chương 1. KINH TẾ TRI THỨC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP
ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
Ở VIỆT NAM
1.1. Kinh tế tri thức và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
1.2. Quan niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Chương 2. THỰC CHẤT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ QUY ĐỊNH
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM
2.1. Thực chất đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
2.2. Những nhân tố quy định đào tạo nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Chương 3. TÌNH HÌNH VÀ NHẬN DIỆN CÁC MÂU THUẪN
TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP
ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI
THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Tình hình đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay
90
90
109
120
120
128
138
154
156
157
167
5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài luận án“Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay” được tác giả ấp ủ trong nhiều năm
giảng dạy, nghiên cứu khoa học với sự quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu các
công trình khoa học, nhất là những công trình liên quan trực tiếp đến đào
tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực.
Trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới ở nước ta, yêu cầu
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đang đặt ra rất cấp bách. Để tránh
tụt hậu, việc sử dụng hiệu quả tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, nâng
cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền
vững các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; đưa tri thức khoa học,
công nghệ vào đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc lại nền kinh tế, ổn
định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản
đúng xu thế phát triển tất yếu khách quan của hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri
thức, Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, trên cơ sở ổn định
kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao chất
lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển
nhanh và bền vững đất nước. Chúng ta lựa chọn con đường phát triển đất nước dựa
vào khoa học và công nghệ, giáo dục, đào tạo gắn chặt với sản xuất, kinh doanh. Vấn
đề then chốt có ý nghĩa quyết định là nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, xuất phát từ thực trạng còn nhiều hạn chế, bất cập trong đào tạo
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam. Lý luận và
thực tế chỉ ra rằng, nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở
Việt Nam phải là nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong đó, nhân tài được xem là
nhân tố hàng đầu quyết định sự thành công hay thất bại của Việt Nam trong quá
7
trình phát triển kinh tế tri thức. Điều đó, đòi hỏi Đảng, Nhà nước, các cấp, các
ngành, địa phương phải chú trọng và ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay và những năm tới.
Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta. Hiện nay, Việt Nam là một quốc
gia có tỷ trọng kinh tế nông nghiệp khá lớn, kinh tế công nghiệp và dịch vụ đang
phát triển nhưng chưa chiếm ưu thế để chuyển nước ta thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Những thành tựu mà Việt Nam đạt được qua 30
năm đổi mới chủ yếu dựa vào khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, vốn đầu
tư và lao động trình độ thấp, giá rẻ. Cách thức phát triển của nền kinh tế “nâu”
chưa phát huy tốt vai trò của tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao, làm cho
nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế ngày càng rõ. Thách thức không chỉ ở sự tụt
hậu xa hơn về kinh tế mà còn tụt hậu về văn hóa, phát triển con người. Sự tụt
hậu về kinh tế tạo ra những thách thức về chính trị mà Việt Nam phải đối mặt là
ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Bản chất quá trình đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt
Nam là vấn đề lớn, phạm vi, quy mô rộng. Với điều kiện cho phép, luận án tập
trung vào đào tạo nguồn nhân lực ở trình độ đại học.
Tài liệu, tư liệu phục vụ nghiên cứu luận án chủ yếu từ khi Đảng Cộng sản
Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, tập trung vào
nhóm tài liệu, chủ yếu 10 năm gần đây (từ 2006 đến nay).
Các đơn vị điều tra khảo sát thực tế, phục vụ đánh giá thực trạng luận án
là một số trường đại học ở khu vực Hà Nội và các khu công nghiệp ở các tỉnh
9
phía Bắc.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án
5.1. Cơ sở lý luận
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về phát triển kinh tế tri
thức, hội nhập kinh tế quốc tế, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, đặc biệt
là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và phát triển, lý luận về hình thái kinh tế - xã
hội, vấn đề con người, bản chất con người và phát triển con người. Đồng thời, kế
thừa, vận dụng lý thuyết khoa học liên ngành có liên quan đến đề tài luận án để
luận giải, làm sáng tỏ mục đích, nhiệm vụ, nội dung của luận án.
5.2. Cơ sở thực tiễn
Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri
thức ở Việt Nam hiện nay, chủ yếu dựa vào báo cáo tổng kết năm, giai đoạn,
8. Kết cấu của luận án
Ngoài mở đầu, kết luận, tổng quan tình hình nghiên cứu, danh mục tài liệu
tham khảo, danh mục các bài báo của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài
luận án và một số phụ lục, luận án gồm 4 chương, 9 tiết.
11
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Những công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về kinh tế tri thức
và phát triển kinh tế tri thức
1.1. Những công trình nghiên cứu về kinh tế tri thức
Trong những năm gần đây, kinh tế tri thức là một chủ đề được các nhà
quản lý và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau.
Dale Neef (chủ biên) “Nền kinh tế tri thức” [134], đã trình bày các khía
cạnh khác nhau về nhận thức và thực tiễn của nền kinh tế tri thức ở nhiều nước
trên thế giới, ông phác thảo một bức tranh toàn cảnh về sự xuất hiện và hiệu quả
của kinh tế tri thức đối với con người, chỗ làm việc, các doanh nghiệp, nền kinh
tế và toàn bộ xã hội. Tác giả đã chỉ ra các nguồn lực truyền thống đang giảm dần
tầm quan trọng và bị ảnh hưởng; tri thức, khoa học, công nghệ đang trở thành nhân
tố quyết định sự cạnh tranh của mỗi quốc gia, dân tộc. Theo ông, đặc trưng nổi bật
của kinh tế tri thức là tri thức khoa học đã vượt qua các nhân tố sản xuất truyền
thống. Từ đó, Dale Neef đã đặt ra câu hỏi tại sao chúng ta lại cho rằng, ngày nay sự
tập trung của các dịch vụ tri thức và công nghệ cao sẽ tạo ra sự thay đổi sâu sắc
trong các nguyên tắc kinh tế so với thay đổi mà sự phát kiến ra Penicillin hoặc việc
chia nguyên tử trước đây đã tạo ra? Và câu trả lời là chúng ta đang có nhiều công
nhân tri thức hơn bao giờ hết, cũng như có các công cụ và kết cấu hạ tầng công
nghệ cao hơn và chính nó đã và đang lan tỏa các tri thức rất nhanh chóng…Theo
lập luận của tác giả thì có một lý thuyết kinh tế mới - lý thuyết về nền kinh tế dựa
trên cơ sở tri thức sẽ hoàn toàn khác với lý thuyết hiện hành.
thành tựu ban đầu. Trong đó, tác giả khẳng định: cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại là tiền đề cho sự ra đời và phát triển kinh tế tri thức. Đồng thời,
thống nhất với quan niệm về kinh tế tri thức của OECD và APEC; Kinh tế tri thức
là nền kinh tế, trong đó sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ
13
yếu của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngành kinh tế.
Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng: kinh tế tri thức là cơ hội lớn để nước ta rút ngắn
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững đất nước; là cơ hội để
Việt Nam tăng cường năng lực nội sinh, chủ động hội nhập quốc tế. Tác giả đưa ra
một số định hướng và giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, trong đó
nhấn mạnh: phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài, tạo nền tảng vững chắc và động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế
tri thức.
Tác giả Phạm Tất Dong “Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng” [19],
đã nêu một số quan niệm về trí thức, trí thức Việt Nam; phân tích đặc điểm, sự
hình thành và phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam; chỉ ra triển vọng và giải
pháp phát triển đội ngũ này trong thời kỳ mới.
Tác giả Đặng Mộng Lân “Kinh tế tri thức - Những khái niệm và vấn đề cơ
bản”[65], đã phân tích một số khái niệm có liên quan và đưa ra quan niệm của,
tác giả về kinh tế tri thức. Tác giả cho rằng, có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt
khác nhau về khái niệm kinh tế tri thức. Bởi lẽ, bản thân hiện tượng còn đang
trong quá trình phát triển nên những nhận xét, nghiện cứu về nó cần phải bám
sát thực tiễn. Trong đó, cần phải chú ý đến những tiến bộ của khoa học công
nghệ và thông tin, tác động của chúng đến sản xuất, phân phối và sử dụng kiến
thức. Trong công trình này, tác giả đã khẳng định rằng: Kinh tế tri thức đã, đang
và sẽ làm xuất hiện nhiều vấn đề mà chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu.
Tác giả Vũ Trọng Lâm (chủ biên) “Kinh tế tri thức ở Việt Nam: Quan
điểm và giải pháp phát triển” [66], đã đề cập đến vấn đề quan trọng liên quan
nghệ để nâng cao hàm lượng kinh tế tri thức, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh;
sự ảnh hưởng của khoa học và công nghệ với việc tăng tưởng kinh tế và hàm lượng tri
thức khoa học của Việt Nam. Từ đó, tác giả chỉ rõ những vấn đề đặt ra đối với phát
triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay, đồng thời khẳng định, kết quả phát triển kinh
15
tế tri thức gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Để đẩy
mạnh phát triển kinh tế tri thức ở nước ta trong thời gian tới cần tiến hành đồng bộ
nhiều giải pháp: thu hút đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ; tăng cường đầu tư công nghệ trong quá trình tái cơ cấu lại nền
kinh tế; đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nhằm tăng
cường đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh…
Các công trình nghiên cứu về bản chất kinh tế tri thức và phát triển kinh tế
tri thức ở Việt Nam bước đầu đã đạt được một số kết quả quan trọng như đưa ra
các khái niệm, đặc trưng của kinh tế tri thức; các mô hình, kinh nghiệm của một
số quốc gia trên thế giới về phát triển kinh tế tri thức; yêu cầu, con đường, điều
kiện và giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Nhìn chung, các công trình về cơ bản đều thống nhất: Kinh tế tri thức là giai
đoạn phát triển mới sau kinh tế công nghiệp. Do vậy, tri thức giữ vai trò quan
trọng nhất trong việc tạo ra của cải và nâng cao chất lượng cuộc sống. Các tác
giả đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức. Mặc dù còn nhiều ý
kiến khác nhau nhưng về cơ bản, các tác giả đều có quan điểm chung là khi nêu
ra một số đặc trưng như tri thức là yếu tố quan trọng nhất của sản xuất, kinh tế
tri thức mang tính toàn cầu, kinh tế tri thức bảo đảm cho phát triển bền vững
kinh tế - xã hội tạo ra xã hội học tập.
Một trong những kết quả quan trọng của các công trình nêu trên là phân tích,
làm rõ tính tất yếu khách quan của con đường phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Với tư cách là sự phát triển tất yếu khách quan, kinh tế tri thức ra đời đã và đang tác
động mạnh tới sự phát triển của Việt Nam. Vì vậy, vận dụng phát triển kinh tế tri thức
mới”. Tác giả có cách tiếp cận mới khi đặt câu hỏi: Làm thế nào để mở rộng sự lựa
chọn nghề nghiệp và viễn cảnh cuộc sống dân cư nông thôn - những người đang nắm
giữ những nguồn lực to lớn nhất và chưa được phát huy. Làm cách nào để họ nhận
được sự quan tâm đặc biệt của những nhà hoạch định chính sách và nhà tài trợ? Tác
giả A phân tích 3 vấn đề để tìm câu trả lời:
17
1) Về phạm vi giáo dục, đào tạo nghề. Tác giả khẳng định nền văn hoá Việt
Nam luôn có truyền thống tôn trọng học vấn. Trước thời kỳ đổi mới, mặc dù gặp
nhiều khó khăn, Việt Nam vẫn đạt được mức độ cao về biết chữ và bình đẳng giới,
nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường (KTTT) thì tỷ lệ bỏ học cao ở cấp
trung học. Theo tác giả lập luận: mức học phí, sự thiếu hụt giáo viên, tiền lương thấp
so với các ngành nghề khác đã và đang làm hạn chế chất lượng đào tạo nguồn nhân
lực Việt Nam.
2) Về sử dụng lực lượng lao động và mở rộng sự lựa chọn nghề nghiệp.
Theo tác giả, mặc dù tỷ trọng GDP tương đối của ngành nông nghiệp giảm so
với công nghiệp và dịch vụ nhưng sự thay đổi cơ cấu trong sử dụng lao động
hầu như không biến động về mặt việc làm. Vì vậy, cần thực hiện cải cách
chương trình đào tạo và cải cách giáo dục như tăng số lượng phòng học, tăng số
lượng và chất lượng giáo viên, giảng viên, nâng cấp trang thiết bị phục vụ giảng
dạy, tăng tiền lương...
3) Về cơ cấu ngành nghề, lựa chọn công nghệ và sở hữu doanh nghiệp.
Tác giả cho rằng, đối với một nước mới thực hiện công nghiệp hóa như Việt
Nam nên phát triển ngành chế tạo, chế biến và các dịch vụ đi kèm, đồng thời
không chỉ lựa chọn công nghệ cao mà còn phải lựa chọn công nghệ phù hợp như
công nghệ phần mềm, nghiên cứu cơ bản...
William J.Rothwell, Robert K.Prescott và Maria W.Taylor, “Chuyển hoá
nguồn nhân lực: Thể hiện tầm lãnh đạo chiến lược nhằm thích ứng với các xu
hướng tương lai” [146], giới thiệu những vấn đề về quá trình chuyển hoá nguồn
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” [68] đã phân tích,
làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa nguồn nhân lực chất lượng cao với quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phân tích thực trạng
nguồn nhân lực chất lượng cao và xu hướng phát triển nguồn nhân lực này ở
Việt Nam hiện nay. Từ đó, đề xuất những quan điểm và giải pháp phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
19
đại hóa đất nước. Qua đó, tác giả đã làm rõ quan niệm về nguồn nhân lực chất
lượng cao, đặc điểm, cấu trúc của nó. Đồng thời, làm rõ vai trò quyết định của
nguồn nhân lực chất lượng cao trong công cuộc đổi mới đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân
lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay ở các góc độ: số lượng, chất lượng, cơ cấu,
nhu cầu sử dụng, chế độ đãi ngộ nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, chỉ ra
nguyên nhân chủ quan, khách quan của mặt ưu điểm, hạn chế; xu hướng và những
điều kiện cơ bản để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước. Công trình khoa học giúp nghiên cứu sinh kế thừa
những giá trị khoa học và hướng tiếp cận nghiên cứu để triển khai nghiên cứu đề tài
luận án đã xác định.
Tác giả Nguyễn Thị Giáng Hương“Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ
chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” [52], đã làm rõ quan niệm về nguồn nhân
lực nữ trên cơ sở đề ra những tiêu chí cơ bản của nguồn nhân lực nữ chất lượng
cao; phân tích, luận giải mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan và
nhân tố chủ quan trong phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao; xác định
tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao và phân
tích những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan tác động đến phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam. Đồng thời, khảo sát, đánh giá thực
trạng nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay, khái quát những
mâu thuẫn trong phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam và đề
tạo, bồi dưỡng, sử dụng các nguồn nhân lực cho hợp lý, hiệu quả, thiết thực.
Hằng năm, Nhà nước cần tổng kết thực tiễn và lý luận về nguồn nhân lực ở Việt
Nam, đánh giá đúng mức mặt được, mặt chưa được, kịp thời rút ra những kinh
nghiệm, xây dựng, hoàn thiện chính sách mới và điều chỉnh chính sách đã có về
nguồn nhân lực ở Việt Nam... Cần có chính sách, biện pháp kết hợp chặt chẽ
giữa đào tạo và sử dụng trong tổng thể phát triển kinh tế của đất nước, đáp ứng
21
có hiệu quả nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
tri thức.
Tác giả Nguyễn Văn Phán “Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay” [88], đã đánh
giá thực trạng giảng viên đại học, cao đẳng - một bộ phận của nguồn nhân lực chất
lượng cao ở nước ta hiện nay. Theo tác giả, ở các trường đại học, cao đẳng thì việc
xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên là khâu then chốt. Tác giả đề xuất giải pháp
và cho rằng, các giải pháp đó cần thực hiện thống nhất để nâng cao chất lượng đội
ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực bậc cao phục vụ thiết thực
cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ mới.
2.2. Những công trình nghiên cứu tiêu biểu về đào tạo nguồn nhân lực
Nguyễn Như Diệm dịch thuật công trình khoa học của Thẩm Vinh Hoa Ngô Quốc Diệu “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài kế lớn trăm năm chấn
hưng đất nước” [135], công trình đã đề cập nhiều nội dung quan trọng về “Tổng
công trình của công cuộc cải cách, mở cửa và xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ
nghĩa của Trung Quốc”. Trong đó, các tác giả công trình đã làm nổi bật tư tưởng
của Đặng Tiểu Bình về những vấn đề rất cơ bản, như nhân tài là then chốt của
phát triển; đường lối tổ chức và việc xây dựng đội ngũ cán bộ; tư tưởng chiến
lược về bồi dưỡng và giáo dục nhân tài; về tuyển chọn nhân tài ưu tú; về sử
dụng và bố trí nhân tài; về tạo môi trường cho nhân tài phát triển; về cải cách
chế độ nhân sự trong việc sử dụng nhân tài… Với những nội dung trên, cuốn
sách đã phác họa bức tranh mang tính tổng thể về tư tưởng của Đặng Tiểu Bình
Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước.
Tác giả Tạ Ngọc Tấn “Phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân
lực, nhân tài, một số kinh nghiệm của thế giới” [108], đã phân tích những
vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực, nhân tài và phát triển đào tạo nguồn
nhân lực, nhân tài của một số nước trên thế giới, rút ra những kinh
nghiệm bổ ích đối với Việt Nam trong thực hiện đổi mới căn bản, toàn
23
diện giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạo,
bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Tác giả Phạm Minh Hạc “Nghiên cứu con người và nguồn lực đi vào
công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [33], đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn thực
hiện chiến lược con người với tư tưởng coi nhân tố con người, phát triển con
người, nguồn lực con người có ý nghĩa quyết định đối với việc sáng tạo vật chất
và tinh thần. Qua đó, tác giả trình bày mối quan hệ giữa giáo dục và đào tạo, sử
dụng, tạo việc làm với phát triển nguồn nhân lực đất nước. Từ đó, xác định trách
nhiệm quản lý giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực phục
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tác giả Lương Đình Hải “Trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực trong
điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” [40], đã nghiên cứu các
vấn đề cơ bản và khá toàn diện về con người, về nguồn nhân lực; phân tích, làm
rõ khái niệm, những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực;
những vấn đề cơ bản về giáo dục và đào tạo, quản lý nguồn nhân lực ở Việt
Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Qua đó, tác giả
kiến nghị một số vấn đề cơ bản để phát triển văn hóa, xây dựng con người, phát
triển nguồn nhân lực trong những thập kỷ tiếp theo của thế kỷ XXI.
Tác giả Nguyễn Đắc Hưng “Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước”
[51], đã bàn đến lực lượng “đầu tàu” trong nguồn nhân lực chất lượng cao; trình
bày một số khái niệm cơ bản như: tiềm năng, năng lực, năng khiếu, tài năng, nhân
nguồn nhân lực nước ta trong thế kỷ XXI. Từ đó, đề xuất một số giải pháp, đổi
mới giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
đất nước trong thế kỷ XXI.
Tác giả Lương Công Lý “Giáo dục và đào tạo với việc phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” [68], đã lý giải rõ hơn vai trò của
giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt
Nam hiện nay. Từ những thành tựu, hạn chế và một số vấn đề đặt ra từ thực trạng,
25
đề xuất một số phương hướng, giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của giáo dục và
đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay.
2.3. Những công trình khoa học tiêu biểu bàn về mối quan hệ giữa đào
tạo nguồn nhân lực và phát triển kinh tế tri thức
Stivastava M/PHuman resource planning “Aproach needs assessments
and priorities in manpower planing” [144], đã tiếp cận dưới góc độ kinh tế phát
triển và cho rằng, nguồn nhân lực là toàn bộ vốn nhân lực; vốn nhân lực là con
người được nhìn nhận dưới dạng một nguồn vốn đặc biệt của quá trình sản xuất,
là một dạng của cải có thể làm gia tăng sự giàu có của kinh tế; nguồn vốn nhân
lực bao gồm những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm mà người đó tích luỹ được
nhờ quá trình lao động sản xuất; các chi phí về giáo dục, đào tạo, y tế... được
xem như là những chi phí đầu vào của sản xuất nhằm nâng cao, năng lực sản
xuất của nguồn nhân lực. Từ cách tiếp cận như vậy, tác giả đã chỉ ra các lợi ích
thiết thực của nguồn nhân lực nếu chúng ta biết đầu tư và quý trọng nó, đó là:
1) Vốn nhân lực là loại vốn đặc biệt, có khả năng sản sinh ra các nguồn
thu nhập trong tương lai, cho nên đầu tư vào nguồn nhân lực sẽ có tỷ lệ thu hồi
vốn cao, hơn nữa khi nguồn vốn này càng được sử dụng nhiều thì giá trị gia
tăng càng lớn, càng tạo ra nhiều của cải, mang đến sự phồn vinh, thịnh vượng
cho xã hội.
2) Khác với các nguồn vốn khác, vốn, nhân lực không mang đặc điểm
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Tác giả Lê Quang Hùng “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung” [50], đã tiếp cận dưới góc độ kinh tế, việc phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; đánh giá thực
trạng, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong đào tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao nơi đây. Qua đó, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm ở miền Trung, đặc biệt
nhấn mạnh đến phát triển giáo dục và đào tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ.
27
Tác giả Đặng Hữu “Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài theo yêu cầu
phát triển kinh tế tri thức” [54], đã nêu các điều kiện để phát triển kinh tế tri
thức, đó là: phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực khoa học và
công nghệ quốc gia đủ mạnh, có hạ tầng thông tin phát triển, có bộ máy quản lý
nhà nước trong sạch, vững mạnh. Tác giả so sánh kinh tế công nghiệp khác với
kinh tế tri thức, từ đó khẳng định trong nền kinh tế tri thức, vốn tri thức trở
thành nguồn lực quan trọng nhất của sản xuất và sức sáng tạo, đổi mới trở thành
động lực trực tiếp của sự phát triển. Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng, để phát triển
kinh tế tri thức, rút ngắn quá trình CNH, HĐH ở nước ta thì tiền đề quan trọng
nhất là đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay bằng cách: Nhà
nước cần có chính sách trọng dụng nhân tài; đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục; tiến
hành cải cách giáo dục theo quan điểm định hướng giáo dục mới …
Tác giả Nguyễn Ngọc Phú “Thực trạng nguồn nhân lực, nhân tài của đất
nước hiện nay: Những vấn đề đặt ra - Giải pháp” [93], đã tập hợp nhiều bài viết
của nhiều tác giả, như: Nguyễn Ngọc Phú, Trịnh Thị Kim Ngọc, Nguyễn Phương
Ngọc, Trịnh Quang Từ, Hà Thế Truyền... Hầu hết các bài viết tập trung phân tích
nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao như: Phát triển nguồn nhân lực có
kỹ năng, đặc trưng của nguồn nhân lực chất lượng cao; đào tạo nhân tài trong các
lực chủ yếu tiếp cận, phát triển kinh tế tri thức. Đồng thời, khẳng định nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức là yêu cầu cần thiết. Để làm
sáng rõ vấn đề này, tác giả đã phân tích kinh nghiệm nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực của Trung Quốc, Hàn Quốc, đã phân tích thực trạng chất lượng nguồn
nhân lực và việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức ở
Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2003 trên các mặt về biến đổi chất lượng nguồn
nhân lực, về các nhân tố tác động trực tiếp tới việc nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả khẳng định: nguồn nhân lực ở nước ta dồi
dào về số lượng, đã đạt được ở mức nhất định về chất lượng. Tuy nhiên, để đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, theo tác giả còn nhiều hạn chế,