Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong quan niệm trước đây ở nước ta về quá trình công nghiệp hóa,vai
trò của con người mặc dù đã được đề cao ở mức độ đáng kể,song con người
với tất cả tiềm năng,hiện trạng và sức mạnh của mình thì lại chưa được
nhìn nhận như là một nguồn lực của bản thân quá trình công nghiệp.Do
vậy,trên thực tế trong một thời gian tương đối dài con người đã vô tình bị
đặt ra ngoài hệ thống các nguồn lực nội tại của sự phát triển.Đây là một
trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho quá trình phát triển kinh tế xã
hội nước ta trước đây thiếu động lực và đạt kết quả rất hạn chế.
Ngày nay,do sự tác động chi phối bởi những đặc điểm mới của thời
đại và do những nhu cầu của sự phát triển đất nước,cũng với những bài học
rút ra từ thực tiễn và qua kinh nghiệm của nhiều nước,trong thực tiễn cũng
như trong lý luận,đã có sự thay đổi đáng kể về nội dung và giải pháp.Vị trí
và đặc điểm của nguồn nhân lực cũng được nhìn nhận lại,trong đó con
người được coi vừa là nguồn lực nội tại,cơ bản,quyết định sự nghiệp phát
triển đất nước.Mặt khác,với thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện
nay,việc khai thác sử dụng và phát triển nguồn lực đó sao cho có hiệu quả
nhất,đáp ứng được các yêu cầu phát triển cũng đang là những vấn đề bức
xúc mà sự nhận thức và giải quyết tốt những vấn đề đó sẽ là điều kiện tiên
quyết,bảo đảm cho sự phát triển mạnh mẽ nền kinh tế Việt Nam.
Nhằm góp phần vào việc phát huy yếu tố con người và đặc biệt quan
tâm đến chất lượng nguồn nhân lực,em đã lựa chọn đề tài:"Nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã
hội".
Mục đích nghiên cứu là làm rõ thực trạng chất lượng nguồn nhân lực
hiện nay và đưa ra những quan điểm và biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.Tuy nhiên
chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề có nội dung rộng lớn,phức tạp và liên
quan đến nhiều ngành,nhiều lĩnh vực khác nhau,do vậy đề tài không tránh
khỏi thiếu sót hạn chế,em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy
chuyên môn nghiệp vụ,trình độ học vấn,trình độ phát triển trí tuệ,năng lực
sáng tạo,khả năng thích nghi,kỹ năng lao động,văn hóa lao động,các khía
cạnh tâm lý,ý thức, đạo đức,tư tưởng tình cảm,tính cách,lối sống..trong đó
trí lực,thể lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất,quyết định chất
lượng và sức mạnh của nguồn lực con người.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
•Có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố nội tại trong nguồn
nhân lực,sự tác động qua lại giữa con người và tự nhiên,môi trường sống và
các nguồn lực khác.Mặt khác,nó cũng nói lên sự biến đổi về số lượng,chất
lượng,cơ cấu dân cư và lực lượng lao động.
•Con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực,nguồn lực nội
tại,cơ bản trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội.Mặt
khác,không chỉ là chủ thể quyết định sự vận động và phát triển của xã
hội,mà còn là khách thể của các quá trình kinh tế-xã hội,là đối tượng mà
chính sự phát triển xã hội phải hướng vào phục vụ.
Vì vậy,khi xem xét nguồn nhân lực đòi hỏi phải có quan điểm toàn
diện,phải nhìn nhận con người với tất cả hiện trạng,tiềm năng, đặc điểm và
sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội ở cả phương diên chủ thể lẫn
phương diện khách thể.
1.1.2.Vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế-xã hội.
a) Con người là động lực của sự phát triển.
Từ thời kỳ xa xưa con người bằng công cụ lao động thủ công và
nguồn lực do chính bản thân mình tạo ra để sản xuất ra sản phẩm thỏa mãn
nhu cầu của bản thân.Sản xuất ngày càng phát triển,phân công lao động
ngỳa càng chi tiết,hợp tác ngày càng chặt chẽ tạo cơ hội để chuyển dần
hoạt động cuả con người cho máy móc thiết bị thực hiện(các động cơ phát
lực),làm thay đổi tính chất của lao động từ lao động thủ công sang lao động
cơ khí và lao động trí tuệ.Nhưng ngay cả trong điều kiện đạt được khoa học
kỹ thuật hiện đại như hiện nay thì cũng không thể tách rời nguồn lực con
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh rằng trải qua quá
trình lao động hàng triệu năm mới trở thành con người ngày nay và trong
quá trình đó,mỗi giai đoạn phát triển của con người lại làm tăng thêm sức
mạnh chế ngự tự nhiên,tăng thêm động lực cho sự phát triển.
Như vậy động lực.mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát
triển tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người.
Điều đó lý giải tại sao con người được coi là nhân tố năng động nhất,quyết
định nhất của sự phát triển.
1.1.3.Phân loại nguồn nhân lực.
a) Nguồn nhân lực sẵn có trong dân số.
Bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động,có khả
năng lao động,không kể đến trạng thái có làm việc hay không làm việc.
Độ tuổi lao động là giới hạn về những điều kiện cơ thể tâm lý-sinh lý xã
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hội mà con người tham gia vào quá trình lao động.Giới hạn độ tuổi lao
động được quy định tùy thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội của từng nước
và trong từng thời kỳ.Giới hạn độ tuổi lao động bao gồm:
-Giới hạn dưới: quy định số tuổi thanh niên bước vào độ tuổi lao
động, ơ nước ta hiện nay là 15 tuổi.
-Giới hạn trên: quy định độ tuổi về hưu, ở nước ta quy định độ tuổi
này là 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam.
Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư chiếm một tỷ lệ tương đối lớn
trong dân số,thường từ 50% hoặc hơn nữa,tùy theo đặc điểm dân số và
nhân lực của từng nước.
b) Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế.
Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế hay còn gọi là dân số
hoạt động kinh tế. Đây là lực lượng bao gồm những người từ đủ 15 tuổi trở
lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc
làm.Như vậy giữa nguồn nhân lực sẵn có trong dân số và dân số hoạt động
• Nguồn nhân lực đã đến tuổi lao động,chưa học hết trung học phổ
thông,không tiếp tục học nữa,muốn tìm việc làm.
• Nguồn nhân lực ở đọ tuổi lao động đã tốt nghiệp ở các trường
chuyên nghiệp(trung cấp,cao đẳng, đại học)thuộc các chuyên môn khác
nhau tìm việc làm.
-Những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự cũng thuộc nguồn nhân
lực dự trữ,có khả năng tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội.Số người
thuộc nguồn nhân lực dự trữ này cũng cần phân loại để biết rõ có nghề hay
không có nghề,trình độ văn hóa,sức khỏe,...từ đó tạo công việc làm thích
hợp.
-Những người trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp(có nghề
hoặc không có nghề)muốn tìm việc làm,cũng là nguồn nhân lực dự trữ,sẵn
sàng tham gia vào hoạt động kinh tế.
1.2.Chất lượng nguồn nhân lực.
1.2.1.Khái niệm.
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực
thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của
nguồn nhân lực.Chất lượng nguồn nhân lực không những chỉ là chỉ tiêu
phản ánh trình độ phát triển kinh tế,mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ
phát triển về mặt đời sống xã hội,bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực của
sự phát triển,mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định.
1.2.2.Vai trò.
Nhu cầu về lao động là nhu cầu dẫn xuất do nhu cầu sản xuất sản
phẩm nhất định;nhu cầu sản xuất sản phẩm lại xuất phát từ nhu cầu tiêu
dùng của con người.Cùng với sự phát triển của nền sản xuất,nhu cầu của
con người ngày càng đa dạng,sản phẩm sản xuất ra càng nhiều hơn và chất
lượng càng cao hơn. Điều đó chỉ có thể có được do loại lao động có trình
• Tai mũi họng.
• Răng hàm mặt.
• Nội khoa.
• Ngoại khoa.
• Thần kinh tâm thần.
• Da liễu
Căn cứ chỉ tiêu trên để chia thnàh 6 loại:rất tốt,tốt,khá,trung bình,kém
và rất kém.
Bên cạnh việc đánh gía trạng thái sức khỏe của người lao động người
ta còn nêu ra các chỉ tiêu đánh giá sức khỏe của quốc gia thông qua:
• Tỷ lệ sinh thô,tỷ lệ chết thô,tỷ lệ tăng tự nhiên.
• Tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi.
• Tỷ lệ sinh thấp cân ở trẻ em.
• Tỷ lệ dừng mức sinh.
• Tuổi thọ trung bình.
• Tỷ lệ GDP/Đầu người.
• Cơ cấu giới tính,tuổi tác...
b) Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hóa của người lao động.
Trình độ văn hóa của người lao động là sự hiểu biết của người lao
động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội.Trong chừng
mực nhất định,trình độ văn hóa của dân số biểu hiện mặt bằng dân trí của
quốc gia đó.Trình độ văn hóa được biểu hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ
như:
• Số lượng người biết chữ và chưa biết chữ.
• Số người có trình độ tiểu học.
• Số người có trình độ phổ thông cơ sở(cấp II)
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
• Số người có trình độ phổ thông trung học(cấp III).
• Số người có trình độ đại học và trên đại học...
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chỉ số này được tính bởi 3 chỉ tiêu chủ yếu:
• Tuổi thọ bình quân.
• Thu nhập bình quân đầu người(GDP/người).
• Trình độ học vấn(tỷ lệ biết chữ và số năm đi học trung
bình của dân cư)
Như vậy,chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về
mặt kinh tế,mà còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng
tiến bộ xã hội.
e)Ngoài những chỉ tiêu có thể lượng hóa được như trên người ta còn
xem xét chỉ tiêu năng lực phẩm chất của người lao động.Chỉ tiêu này phản
ánh mặt định tính mà khó có thể định lượng được.Nội dung của chỉ tiêu này
được xem xét thông qua các mặt:
• Truyền thống dân tộc bảo vệ Tổ quốc.
• Truyền thống về văn hóa văn minh dân tộc.
• Phong tục tập quán,lối sống...
Nhìn chung chỉ tiêu này nhấn mạnh đến ý chí,năng lực tinh thần của
người lao động.
1.2.4.Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực.
a) Tuyển dụng
Tuyển dụng nhân lực là một tiến trình nhằm thu hút những người có
khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến nộp đơn và xin việc làm.Để có
hiệu quả,quá trình tuyển dụng nên theo sát các chiến lược và kế hoạch
nguồn nhân lực chỉ ra số lượng nhân lực còn thiếu để đáp ứng kế hoạch mở
rộng của tổ chức.Nguồn thông tin này đóng vai trò quan trọng trong việc xã
định mức tuyển mộ của tổ chức đó.Để tiết kiệm thời gian và chi phí,các nỗ
lực tuyển dụng chỉ nên tập trung vào những người nộp đơn xin việc có
những điều kiện cơ bản tối thiểu.Các điều kiện cơ bản này phải được xác
địn nhờ vào kỹ thuật phân tích xác định các yêu cầu và đặc điểm công việc
kém chi phí do học viên không được hoặc chỉ được sử dụng dụng cụ giả và
không gây thiệt hại tài sản cho tổ chức.Tuy nhiên phương pháp đào tạo này
không gắn liền với thực tế công việc do đó hiệu quả đào tạo không cao.
c) Đãi ngộ
Đây là hình thức mang lại lợi ích cho người lao động,các chỉ tiêu được
đặt ra với các mức thưởng phạt khác nhau giúp cho người lao động có được
sự say mê trong công việc.Bao gồm hình thức trả công,khen thưởng thỏa
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đáng,các chính sách mở cho người lao động giúp họ yên tâm hơn trong
công việc,làm hết mình để đạt được hiệu quả cao nhất có thể.Công cụ làm
việc cũng là một phần yếu tố quan trọng giúp cho việc nâng cao chất
lượng,nâng cao năng suất lao động,kể cả lao động quản lý.Chất lượng hoạt
động không chỉ phụ thuộc vào trình độ,năng lực mà còn cả phương tiện kỹ
thuật.Vì vậy trang bị đủ và đúng phương tiện làm việc cho cán bộ quản lý
là một đòi hỏi để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Lợi ích luôn là động lực cho các hoạt động của con người.Hoạt động
công vụ có đặc điểm là không vụ lợi,điều đó không có nghĩa tiền
lương,khen thưởng và kỹ luật không ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân
lực quản lý và các hoạt động của họ.Ảnh hưởng của tiền lương đến chất
lượng nguồn nhân lực là quá rõ ràng,không thể đòi hỏi cao về cả năng lực
và phẩm chất trong khi tiền lương và thu nhập lại không tương xứng.Tiền
lương phải phản ánh được hoạt động của cán bộ quản lý về cả chất lượng
và số lượng,tạo ra động lực phấn đấu vươn lên về mọi mặt đối với cán bộ
quản lý.
d) Đánh giá
Đánh giá là quá trình so sánh,phân tích mức độ đạt được của quá trình
phấn đấu,rèn luyện và thực hiện công việc của người cán bộ theo yêu
cầu,tiêu chuẩn đề ra cho công việc được giao theo chức danh.Công tác
đánh giá là hết sức quan trọng vì những mục đích cũng như những ảnh
triển và gấp 1,5 lần nhịp tăng dân số.
Năm 1997 dân số trong độ tuổi lao động cả nước có gần 42,5 triệu
người,tăng 8,5 triệu người so với năm 1990: Ước tính năm 2000 có 45,2
triệu người,tăng 11,5 triệu người so với năm 1990.Bình quân mỗi năm tăng
thêm gần 1,15 triệu người(3,0%/năm).Trong đó nữ chiếm 52%.
Bảng 1 . Số người trong độ tuổi lao động
Năm
Dân số trong tuổi
lao động
(ngàn người)
% so với
tổng số dân
Mức tăng bình
quân mỗi năm
(ngàn người)
Tốc độ tăng bình
quân /năm
(%)
1990 33.728 50,8 845,6 3,55
1995 38.955 52,6 1045,4 2,92
2000 45.175 55,5 1244,0 3,00
2010 57.772 60,8 1260,0 2,49
2020 68.000 64,7 1023,0 1,65
(Nguồn:Giáo trình Chính sách kinh tế xã hội trang 384)
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đến năm 2010 sẽ có gần 57,8 triệu và 2020 sẽ có 68 triệu người trong
độ tuổi lao động,chiếm 60,9% dân số 2010 và 63,8% dân số năm 2020.
Số người vào độ tuổi lao động tăng nhanh,số người ra khỏi tuổi lao
động thấp và tăng chậm nên mức gia tăng của dân số trong độ tuổi lao động
nguồn nhân lực cũng tập trung tại 3 vùng này.Tây Nguyên và Tây Bắc là 2
vùng có diện tích lớn nhưng quy mô nguồn nhân lực lại nhỏ nhất(Tây Bắc
1,1 triệu,Tây Nguyên hơn 1,1 triệu).Nguồn nhân lực tăng nhanh ở các vùng
Tây Nguyên, Đông Nam Bộ còn do di dân có tổ chức và di dân tự do nên
ngoài tác động tích cực là tăng thêm lao động cho phát triển kinh tế-xã hội
nhưng cũng đang gây ra những tác động tiêu cực về xã hội và môi
trường.Nhu cầu giải quyết việc làm trên các vùng đến năm 2010 đều rất
cao.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bảng 3.Dân số trong tuổi lao động(1000 người)
Năm
Khu vực
1995 2000 2005 2010
Nhịp tăng
BQ
2001-2010
Cả nước 38.954,5 45.175,0 51.607,0 57.771,8 2,50
1. Đông Bắc 5.568,2 6.480,8 7.496,0 8.352,7 2,6
2.Tây Bắc 1.253,3 1.253,3 1.504,5 1.753,4 3,45
3. ĐB Sông Hồng
-ĐBTĐ Bắc Bộ
7.822,8
4.225,0
8.945,9
4.778,4
10.071,1
5.329,4
10.952,4
5.793,4
Nguyên nhân :Sự phát triển của dân số 15 năm trước đã tác động đến
số lượng và chất lượng nguồn nhân lực hiện nay và thực trạng hiện nay đã
tác động cho 15 năm sau.Số người trong độ tuổi lao động đến năm 2010 đã
được sinh ra, đang được nuôi dạy trên đất nước ta hiện nay...
Dân số cả nước năm 1997 là 76.709 nghìn người, ước tính năm 2000
là 80,5-81 triệu người.Tỷ lệ phát triển dân số kể từ năm 1990 đến nay đã
giảm đáng kể từ 2,4%(1992) xuống còn 1,68%(1997) đến năm 2000 là
1,75.Vượt chỉ tiêu Đại hội VIII đề ra.Tỷ lệ sinh giảm nhanh,từ 31,3% năm
1988 xuống còn khoảng 22,8%(1996).Tổn tỷ suất sinh(số con trung bình
của nữ trong độ tuổi sinh đẻ)giảm từ3,88(1988),2,7 (1997) đến năm 2000 là
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2,55.Tỷ lệ áp dụng các biện pháp tránh thai tăng khá nhanh từ 53% năm
1988 lên 68,3 năm 1996. Điều đó tạo tiền đề cho việc tiếp tục giảm tỷ lệ
sinh và theo đó là tốc độ tăng dân số trong những năm tới.Tuy nhiên, điều
đáng lưu ý là tỷ lêj sinh ở các vùng nghèo và các nhóm dân cư có thu nhập
thấp còn khá cao,tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn nhiều,gây ra các tác động
tiêu cực về chất lượng dân số do phần lớn số trẻ em đó không có điều kiện
nuôi dưỡng,chăm sóc và giáo dục tốt và sự nghèo đói ngày càng trầm trọng
hơn.
Do đó,cùng với đầu tư lớn hơn cho công tác dân số-kế hoạch hóa gia
đình giảm sinh ổn định tiến tới ngừng tăng dân số,cần tập trung đầu tư và
nâng cao chất lượng dân số.Khu vực nông thôn và các vùng miền núi Bắc
Bộ,Bắc Trung Bộ,Duyên hải Nam Trung Bộ,Tây Nguyên và đồng bằng
Sông Cửu Long, đặc biệt là đối tượng dân cư nghèo và có hoàn cảnh khó
khăn ở vùng sâu vùng xa nhằm xóa đói giảm ngheo,tạo ra những chuyển
biến tích cực giảm nhanh tỷ lệ sinh chung,nâng cao chất lượng dân số và
nguồn nhân lực.
Nhịp độ tăng dân số bình quân hằng năm khác biệt giữa các vùng cao
nhất là Tây Nguyên (3,99%),Tây Bắc (3,3%),đồng bằng sôngCửu
(Nguồn :2006-2010,Tạp chí Lý luận chính trị,Số 4-2004 Trang 70)
Theo số liệu thống kê ở trên,cơ cấu dân cư và lao động ở nước ta đã
có sự chuyển biến tích cực.Tỷ trọng lao động trong ngành nông-lâm-ngư
nghiệp có xu hướng giảm dần,lao động trong công nghiệp xây dựng và dịch
vụ tăng,mặc dù tốc độ còn chậm.Nếu như trước đây,lao động trong sản
xuất nông nghiệp chiếm tới 73%,trong khi đó lao động trong sản xuất công
nghiệp và dịch vụ mới chỉ có 27%,thì hiện nay cơ cấu lao động đã có
chuyển biến như bảng trên.Tuy nhiên,so với chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấu
kinh tế mà Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra(nông -lâm-ngư nghiệp:20-
21%;công nghiệp và xây dựng:38-39%;các ngành dịch vụ:41-42%)thì tốc
độ chuyển dịch cơ cấu lao động còn quá chậm,dẫn đến khoảng cách khá xa
giữa cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế.Nhưng điều đáng lưu ý hơn là cơ
cấu lao động đã được đào tạo giữa các ngành,các khu vực sản xuất,các
vùng,các dạng lao động và giữa các trình độ rất bất hợp lý.Nông thôn
chiếm gần 75% dân số và lao động nhưng chỉ chiếm 47,38 lực lượng lao
động được đào tạo cả nước, đặc biệt trong gần 60% lao động làm việc ở
lĩnh vực nông,lâm,ngư nghiệp,số được đào tạo mới chỉ chiếm 7%.Đây thực
sự là trở ngại lớn nhất khi tiến hành công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông
nghiệp và nông thôn.
-Cơ cấu trình độ lực lượng động, đến cuối năm 2003 tỷ lệ lao động
qua đào tào dậy nghề trong lực lượng lao động là 17,5%.Cụ thể có khoảng
4,9 triệu lao động có trình độ sơ cấp hoặc có chính chỉ dạy nghề,1,47 triệu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp,khoảng 1,3 triệu lao động có
trình độ cao đẳng, đại học,hơn 10 ngàn thạc sỹ.Riêng tiến sỹ,phó giáo sư và
giáo sư đến tháng 5-2002 có khoảng 13.500 người.Nghĩa là,tỷ lệ đại học-
trung học chuyên nghiệp-công nhân kỹ thuật là 1-1,75-2,3.Tỷ lệ này nói lên
sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu trình độ lao động.Chúng ta thiếu
cả cán bộ trên đại học, đại học,trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ
a)Về thể lực.
Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX,tầm vóc và thể lực của con người
Việt Nam đang được cải thiện về chiều cao và cân nặng,tỷ lệ suy dinh
dưỡng và tuổi thọ.Chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam đã tăng từ
1,56m năm 1994 lên 1,58m năm 2000.Tuổi thọ trung bình tăng từ 65 tuổi
năm 1989 lên 68,5 tuổi năm 2000.Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
đã giảm từ 44,9% năm 1995 xuống còn 33,1% năm 2000 và 30,1% năm
2002,nhưng tỷ lệ như thế này là vẫn còn rất cao.Thể lực của người Việt
Nam vẫn còn kém hơn nhiều so với một số nước trong khu vực và so với
yêu cầu nguồn lực con người cần có ở nước ta.Hiện tai nước ta nằm trong
số các nước có mức sống thấp nhất thế giới(GDP tính theo đầu người là
410USD năm2001).Theo số liệu thống kê năm 2002 của Chương trình phát
triển Liên hiệp quốc(UNDP),thu nhập quốc dân bình quân đầu người của
nước ta đứng thứ 165/208 nước và vùng lãnh thổ.Theo phân loại của Ngân
hàng thế giới,các nước có thu nhập thấp là dưới 745USD/người năm
2001.Trên thế giới,dân số của các nước thu nhập thấp như vậy có tổng 2,5
ty người,bình quân thu nhập đầu người năm 2001 của những nước này là
430 USD.Vậy là chỉ số này của Việt Nam còn thấp hơn mức trung bình của
các nước có thu nhập thấp và thấp hưn 12 lần thu nhập bình quân đầu
người của thế giới(5150). Đến cuối năm 2003,Việt Nam vẫn còn 29% dân
số sống dưới mức thu nhập 1USD/ngày và 50% dân số sống dưới thu nhập
2USD/ngày,12% hộ nghèo và chỉ có 55% dân số nông thôn có nước sạch.
Mức thu nhập thấp như vậy mà tốc độ tăng dân số vẫn còn cao,trình
độ hiểu biết về dinh dưỡng và sức khỏe của nhân dân lại thấp,nên đã ảnh
hưởng trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng sống,trong đó có vấn đề giáo
dục,chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Điều kiện lao động trong nhiều cơ sở các
ngành sản xuất cũng như ở các cơ quan hành chính sự nghiệp của nước ta
còn kém,thậm chí có nơi còn rất khắc nghiệt,môi trường lao động bị ô
nhiễm nghiêm trọng,các yếu tố nguy hiểm và độc hại vượt quá ngưỡng giới
hạn cho phép nhiều lần, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có chiều