ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
٭٭٭٭٭ ٭٭٭٭
TRẦN THỊ HUYỀN
ĐỘNG THÁI CỦA NHÀ NƯỚC – DÂN TỘC
VÀ TRIỂN VỌNG QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÀ NƯỚC
- DÂN TỘC TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC HÀ NỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
٭٭٭٭٭ ٭٭٭٭ TRẦN THỊ HUYỀN
nơi, giăng mắc khắp các nước, xuyên thấu vào từng bước đi của đời sống,
thẩm lậu vào mọi giai tầng trong xã hội – tóm lại là ngấm sâu vào tất cả các
yếu tố cấu thành nên đời sống toàn cầu. Những biến động như vậy đang làm
cho cái trật tự mà trên đó vốn trụ vững các quan niệm về gia đình, cộng đồng,
đất nước và thế giới nói chung trở nên mâu thuẫn và bất định” [48; 7,8]. Các
nhà nước – dân tộc mặc dù có lịch sử hình thành tương đối lâu dài (chính thức
được đánh dấu sau hòa ước Westfalen 1684), song trong cơn lốc xoáy của
toàn cầu hóa cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng dẫn đến những biến đổi
nhất định. Tuy nhiên, những biến đổi này thực sự thế nào: có thuần nhất, đơn
tuyến hay không hay đa dạng và phong phú, làm nên những xu hướng khác
nhau của cùng một đối tượng? Có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề
này và nhìn chung chưa thống nhất, bởi trên thực tế, đối tượng cũng không hề
vận động một cách thuần nhất, đơn hướng. Vậy thì, trong bối cảnh ấy, nhà
nước - dân tộc đang có những chuyển biến ra sao, vai trò của nó trong tương
lai sẽ như thế nào? Liệu rằng cùng với toàn cầu hóa, nhà nước - dân tộc sẽ dần
mất đi địa vị và vai trò vốn có trước kia của mình, nhường chỗ cho những
thiết chế mang tính siêu dân tộc, thay thế nhà nước - dân tộc trong quá khứ để
giải quyết những vấn đề chung của nhà nước, hay nó vẫn giữ lại vai trò lịch
sử trong kỉ nguyên mới và hoàn thành những chức
2
năng mới trong việc giải quyết những vấn đề sống còn do toàn cầu hóa làm
nảy sinh?
Chúng ta chỉ nhận thấy một cách khái quát rằng, nhà nước - dân tộc
thực sự đang có những biến đổi nhất định và sự biến đổi ấy đang đưa lại
những hệ quả tương ứng trong xu hướng quan hệ giữa các nhà nước - dân tộc,
giữa các nền văn minh trong kỉ nguyên mới. Nó có thể tạo dựng một mối
quan hệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia trong tương lai, song
cũng có thể xung đột và chiến tranh. Nguy cơ này không đơn thuần nằm
trong dự báo, trong tưởng tượng, mà thực chất đang bộc lộ ra trong hiện thực.
nhà nước – dân tộc thì chưa có nhiều nghiên cứu của các học giả trong nước.
Còn với các học giả nước ngoài, vấn đề này chỉ thực sự được bàn đến nhiều
trong thời gian gần đây (tập trung từ sau năm 2000).
Dự báo về xu hướng vận động của thế giới – mà hạt nhân là các nhà
nước - dân tộc, nhiều nhà khoa học nhận định rằng, thế kỷ XXI tồn tại một xu
hướng nổi bật, đó là sự phát triển đơn cực hay đa cực của thế giới.
Cùng với xu hướng đơn cực Mỹ đang có tham vọng là chủ nhân của thế
giới đó. J.Bzedinsky thừa nhận rằng, sự tập trung quyền lực vào tay một quốc
gia ngày càng đặc trưng cho nền chính trị thế giới. Do vậy, Mỹ không những
là siêu cường đầu tiên mà còn là siêu cường duy nhất và cuối cùng trên thế
giới. Trong bài “Sự hình thành trật tự thế giới mới” S.Kortunov cũng khẳng
định thêm cho điều này: sau năm 2001, trật tự thế giới cũ đã sụp đổ, chưa kể
đến sự sụp đổ của hệ thống lưỡng cực trong chiến tranh lạnh vào đầu thập kỉ
90 và hệ thống mới đang được thiết lập cũng đã sụp đổ quá nhanh. Thế giới
đang hình thành hai xu hướng đối lập: đơn cực hay đa cực? Nếu đó là thế giới
một cực, thì đó là sự thống trị hoàn toàn của nước Mỹ, còn nếu đó là đa cực,
thì nó sẽ là sự chia sẻ quyền lực giữa nhiều cường quốc có tiềm lực về kinh tế,
tài chính, quân sự trên thế giới. Không chỉ vậy, sự phát triển đơn hướng và
đơn cực này không đơn thuần thể hiện trong các lĩnh vực kinh tế, quân sự nêu
trên, mà hơn thế đó là sự nổi lên của một nền văn minh, một nền văn hóa
mang tính toàn cầu, nói cách khác, đó là tính đơn hướng trong sự phát triển
4
của văn hóa. N.N.Fedotova trong bài “Liệu có thể có một nền văn hóa thế
giới”; Thêm nữa, Anatoli Utkin trong bài “Cơ cấu địa- chính trị của thế kỷ
XXI” cũng khẳng định xu hướng này khi cho rằng, một trong năm xu hướng
đang đưa cộng đồng đến một trạng thái mới, trong đó có yếu tố sự thiết định
của trạng thái đơn cực. Đồng thời họ cũng khẳng định rằng cơ sở của tính đơn
cực là sức mạnh của Mỹ.
Tuy nhiên, khát vọng bá quyền đó thực sự không phản ánh những
viết “Trường hợp chủ quyền chia sẻ”, Stephen D.Krasner, cho rằng, cần phải
có một tổ chức nào đó, có thể là Liên hiệp Quốc, NGO, WTO, WB, v.v đứng
lên đại diện cho các nhà nước - dân tộc bằng cách mỗi quốc gia đó chia sẻ
quyền lực, tự hạn chế quyền lực của mình nhờ tuân thủ theo những quy định
chung của tổ chức đó một cách tự nguyện. Chủ quyền chia sẻ giúp cho các
thiết chế trở nên dân chủ hơn. Trong bài “Sự thành lập nhà nước và nhà nước
phi dân tộc”, Joel S.Migdal cho rằng: nhà nước - dân tộc vẫn tồn tại, nhưng
không theo đúng nghĩa khởi thủy của nó, nếu trước đây nhà nước gắn liền với
vấn đề chủ quyền và chủ quyền là thiêng liêng và bất di bất dịch, thì ngày nay
chủ quyền là một khái niệm khó nắm bắt. Điều đó có nghĩa là vai trò của nhà
nước thực sự suy giảm trong bối cảnh toàn cầu hóa. Trong khi đó, nhờ đường
biên giới ấy mà cộng đồng mới được khu biệt và được định danh bằng thuật
ngữ dân tộc. Đồng thời, xu thế toàn cầu hóa cùng với việc thành lập các thiết
chế nhà nước ở phạm vi rộng hơn không đi liền với chủ quyền quốc gia đã
được định hình, thí dụ, chủ quyền ở EU là chủ quyền đóng góp và nhà nước
không phải là nhà nước - dân tộc mà là nhà nước - phi dân tộc. Trong bài “Sự
khủng hoảng của toàn cầu hóa” J.K.GalBraith viết rằng, cuộc thử nghiệm
theo thuyết tự do mới trong kinh tế đã thất bại, sự đồng thuận Washington,
biểu tượng của niềm tin vào toàn cầu hóa đã sụp đổ. Đó là khuynh hướng tin
tưởng tuyệt đối vào sự hoạt động của thị trường mà không cần sự quản lý của
nhà nước, gạt vai trò của nhà nước ra bên ngoài nền kinh tế. Trong “Toàn cầu
hóa kinh tế và các thiết chế lãnh đạo toàn cầu” của Keith Griffin cho rằng,
toàn cầu hóa đang làm suy yếu ý nghĩa của chủ quyền quốc gia. Trong khi đó,
6
hiện nay, chúng ta đang sở hữu một nền kinh tế toàn cầu, nhưng lại thiếu
những thiết chế cần thiết cho một chính thể toàn cầu. Xét về lâu dài, chúng ta
không thể chấp nhận hoạt động đơn phương của một quốc gia là bá chủ của
tương lai. Do đó, cần bàn đến những thiết chế lãnh đạo toàn cầu. Nhưng sự
chuyển dịch đó có thể đưa đến sự hình thành nhà nước toàn cầu cùng với sự
hệ giữa các nhà nước - dân tộc trong tương lai. Việc xác định các mô hình dẫn
tới những dự báo tương ứng cho vấn đề trên của nhân loại. Do đó, dự báo về
triển vọng quan hệ của các nhà nước - dân tộc được rất nhiều các học giả quan
tâm. Tựu chung lại, có hai kịch bản cho vấn đề nêu trên là: sự hình thành trật
tự thế giới mới có thể đưa các quốc gia đến xu thế hòa bình ổn định, song
cũng có thể đưa đến một kết cục bi quan là chiến tranh và xung đột không chỉ
diễn ra trong nội bộ các dân tộc, các nền văn minh, các tôn giáo mà còn trên
quy mô toàn cầu. Trong bài viết “Chiến tranh trong trật tự quốc tế mới” dựa
trên sự tổng thuật 4 cuốn sách của 4 tác giả, Michael clarke đã đưa ra kết luận
rằng, ngày nay thế giới phương Tây đang gặp phải những vấn đề nhất định. Kỉ
nguyên hiện đại được đặc trưng bởi chiến tranh và nguy cơ chiến tranh, đó là
cuộc tranh giành giữa các quốc gia đủ sức hùng mạnh và giầu có, v.v. Trong
bài viết “Địa lý học mới về xung đột”, tác giả trên cũng khẳng định rằng, kỉ
nguyên của những xung đột, tranh giành tài nguyên vẫn chưa chấm dứt. Các
cuộc xung đột xung quanh các nguồn tài nguyên. Các tác giả khác cũng khẳng
định không những xung đột ngoài biên giới quốc gia, mà cả nội chiến, xung
đột sắc tộc và tôn giáo vẫn đang hàng ngày hàng giờ âm ỉ cháy. Trong bài viết
“Tôn giáo và xung đột sắc tộc – theo lý thuyết” của James.Kurth khẳng định
rằng, xung đột sắc tộc là một đặc điểm không thể bác bỏ được trong môi
trường chính trị - xã hội hiện nay. Đồng thời ông cũng vạch ra những xung
đột và phương thuốc chữa trị cho nó. Trong bài “Cuộc nội chiến giữa các nền
văn minh” D.Dragunskij coi đó thực chất là xung đột giữa các hệ giá trị, các
hình mẫu thế giới, các bản sắc văn hóa,v.v. cùng với sự xuất hiện của mạng
internet toàn cầu, hay gần nhất là dự báo của S. Huntington về sự đụng độ
8
giữa các nền văn minh, trong đó điển hình là 7 nền văn minh lớn trên thế
giới,v.v.
Bên cạnh những dự báo về nguy cơ chiến tranh, xung đột, vẫn tồn tại
những tư tưởng hết sức lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của nhân
việc chung sống hòa bình giữa các nền văn hóa, văn minh trong bối cảnh toàn
cầu hóa.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận
- Cơ sở lý luận: luận văn sử dụng những nguyên lý của chủ nghĩa duy
vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Phương pháp luận: Phân tích, lôgic – lịch sử, hệ thống – cấu trúc
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các nghiên cứu về động thái của nhà nước -
dân tộc và quan hệ quốc tế
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu đối tượng trong bối cảnh toàn cầu hóa
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ những biến đổi của các nhà nước – dân tộc, đặc biệt
là vai trò của nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề mới nảy sinh do
quá trình toàn cầu hóa đem lại, qua đó phân tích triển vọng trong quan hệ của
các nhà nước – dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn
gồm hai chương và 4 tiết.
10
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. ĐỘNG THÁI CỦA NHÀ NƢỚC - DÂN TỘC
thực chất là sự thống lĩnh của một quốc gia, một cường quốc có sức mạnh về
kinh tế, tài chính, quân sự nhưng không hẳn đã là một đại diện tiêu biểu cho
văn hóa nhân loại. Thứ hai, là khuynh hướng “phi nhà nước hóa” nền kinh tế
xã hội. Về thực chất, đây là hai khuynh hướng khác nhau về hình thức biểu
hiện nhưng về bản chất thì là một. Nó đều nhằm hướng đến phá bỏ vai trò của
các nhà nước - dân tộc với tư cách chỉnh thể, thay vào đó là một nhà nước phổ
biến bao trùm lên tất cả các nhà nước khác, nhà nước “siêu nhà nước”. Trên
thực tế, nhà nước này rất khó thực thi vì nhiều lí do khác nhau. Hơn thế, trong
điều kiện toàn cầu hoá, nhà nước - dân tộc vẫn chưa thể mất đi vai trò của
mình. Tuy nhiên, việc say mê công khai sự hùng mạnh như vậy là rất nguy
hiểm, vì nó tất yếu sinh ra phản ứng đáp lại của các nền văn minh và các
cường quốc thế giới khác hoàn toàn không có ý muốn chịu đựng sự khống chế
của bất kỳ một nền văn minh nào đang làm mất bá quyền của mình. Điều đó
làm tăng nguy cơ xung đột giữa các nền văn minh, góp phần tác động đến
quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc cũng như các nền văn minh trong bối
cảnh mới, đưa đến xu hướng đối đầu và đụng độ giữa các nền văn minh cũng
như trong nội bộ các nước. Sự xung đột ấy rất có thể sẽ phá hủy hoàn toàn
nền văn minh của nhân loại bởi nó sẽ là cuộc chiến tranh mang tính hủy diệt.
Điều này là không thể chấp nhận được với tất cả những người từng trải
nghiệm hai cuộc thế chiến của thế kỷ trước - hậu quả của cái gọi là chủ nghĩa
duy lý, của nền văn minh công nghiệp. Thế giới đã có nhiều thay đổi sau hai
cuộc thế chiến nhưng những trang sử đó sẽ không thể phai với những người
có lương tri.
Với tư cách một thiết chế xã hội, nhà nước ( với tư cách là các quốc gia
tiền dân tộc - Ở Châu Âu vào thế kỷ XVIII, các quốc gia phi dân tộc điển hình
thường là các đế quốc đa dân tộc (ví dụ Đế quốc Nga, Đế quốc Pháp, Đế quốc
Anh, Đế quốc Áo-Hung và Đế quốc Ottoman) và là một số quốc gia nhỏ có
quy mô "dưới" một dân tộc. Về trường hợp một đế quốc, thông thường nó
12
13
Bước tiến tiếp theo là thành lập các nhà nước hùng mạnh hay các liên
minh nhà nước trong khuôn khổ các nền văn minh thế hệ thứ nhất (Sumerơ,
Ai Cập cổ, Ấn Độ cổ, Trung Quốc cổ, v.v.), chúng thường xuyên thay đổi
biên giới của mình, tương tác và gây chiến với nhau, v.v Sau đó đã xuất
hiện một thiết chế nhà nước mới - các đế chế thế giới: Đế chế Alexander
Makedonya, Đế chế La Mã, Đế chế Vidantia - các đế chế đã chinh phục một
phần các nền văn minh khác; Xu hướng hợp nhất quyền lực chính trị và quyền
lực tôn giáo đã diễn ra ở thời Trung cổ. Các tôn giáo thế giới và đại diện của
chúng - các giáo hội, giới tăng lữ đã cố gắng khống chế bộ máy nhà nước, sử
dụng tiềm lực và khả năng của nó. Bắt đầu từ thế kỷ XVI đã xuất hiện các đế
chế thế giới thế hệ thứ hai - đầu tiên là Đế chế Tây Ban Nha, sau đó là Đế chế
Anh. Phần lớn thế kỷ XX (sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất) đã trở thành
giai đoạn hưng thịnh và suy vong ngắn ngủi của các đế chế thế giới kiểu mới,
có cơ sở là sự thống nhất về lợi ích tư tưởng và chính trị, chứ không phải là về
lợi ích tôn giáo. Trong suốt thế kỷ XX, các đế chế thế giới, cả thế hệ thứ hai,
lẫn thế hệ thứ ba, đều đã đi vào quá khứ. Hàng loạt nhà nước liên bang đã tan
rã. Số lượng nhà nước độc lập đã tăng lên nhiều lần. Các nhà nước - dân tộc
hành động trên diễn đàn quốc tế như là chủ thể chính của luật quốc tế. Xu
hướng cơ bản trên diễn đàn địa chính trị trong suốt thế kỷ XX là sự phi liên
kết làm xuất hiện những nhà nước bình quyền.
Tuy nhiên, một xu hướng đối lập đang xuất hiện ở thế kỷ XXI: sự phát
triển đơn cực hay đa cực của thế giới? Hiện nay, Mỹ đang có kỳ vọng đóng
vai trò là chủ nhân của thế giới đơn cực, J.Bzedinsky cho rằng sư tập trung
quyền lực vào tay một quốc gia là không điển hình cho nền chính trị thế giới.
Tuy nhiên, điều này thuộc về một tương lai rất xa vời, còn hiện thời ông vẫn
phải công nhận và kêu gọi Mỹ trở thành thủ lĩnh vô điều kiện và là người kiến
tạo một trật tự thế giới mới: "Mục đích chính trị của Mỹ phải tuyệt đối cấu
thành từ hai bộ phận: cần phải củng cố địa vị thống trị của mình, ít nhất là
lãnh đạo thế giới trong tiến trình vận động tới tự do và thịnh vượng. Mỹ
mang gánh nặng là người lập pháp, quan tòa và cảnh sát … Với một số người
15
nước Mỹ không chỉ đi đầu mà còn là đế chế ở tầm toàn thế giới “Pax
American”. Những năm 90, giới chức trách Washington chia thế giới làm 4
nhóm: nhóm nòng cốt (thân Mỹ), nhóm đang chuyển đổi (chuyển động theo
hướng gần Mỹ), nhóm thù địch (ngoài vòng kiểm soát), nhóm những nước
không thành công (bất ổn, nội chiến). Nhiệm vụ của Mỹ chuyển những nước
còn lại vào nhóm các nước nòng cốt. Sự kiện ngày 11/9/2001 đã thôi thúc một
cuộc thập tự chinh mới. Quan niệm về an ninh quốc gia mà người Mỹ công bố
ngày 20/9/2002 là “chúng tôi sẽ bảo vệ nước Mỹ … ở ngay tại nước Mỹ và ở
nước ngoài, phát hiện và tiêu diệt mối nguy hiểm ngay khi nó chưa đến biên
giới nước Mỹ” [3; 5]. Động cơ kinh tế tác động to lớn đến chiến lược của Mỹ,
Mỹ cần thâm nhập vào các thị trường mới, điều chính yếu là muốn đảm bảo
lâu dài sử dụng các nguồn năng lượng, do đó, tích cực xúc tiến nguyên tắc
thương mại tự do, tìm mọi cách mở rộng các nguồn năng lượng. Lực lượng
chiếm đóng chiếm lĩnh hầu hết các khu vực trên thế giới với chiến lược xóa
vùng trắng.
Trong lịch sử bản thân Mỹ cũng đã có những tư tưởng về sự bá quyền;
năm 1824 Tổng thống Jackson tuyên bố: “nước Mỹ là nước được Chúa Trời
ban cho vận mệnh mà ngay cả Hy Lạp Cổ đại và La Mã cổ đại thời hoàng kim
cũng phải ghen tỵ” [3; 5]. Trong suốt tiến trình lịch sử tiếp theo, các nhà cầm
quyền Mỹ đã luận chứng cho quyền bành trướng và quyền bá chủ của mình
bằng các lập luận về vận mệnh định trước cho nước Mỹ đưa nhân loại tới
tương lai tươi sáng, về sự cần thiết của các cuộc thập tự chinh chống lại các
lực lượng “phản động” không chấp nhận giá trị của Mỹ. Sau khi Liên Xô sụp
đổ, những tư tưởng trên lại bùng lên.
Những người biện hộ cho thế giới đơn cực cho rằng, biểu hiện chính của
tính đơn cực trong quan hệ quốc tế hiện nay là ở chỗ, Mỹ cho phép mình thực
Vậy, có phải sau chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới đã chuyển thành
một cực không? Như đã thấy điều đó đã không xảy ra. Châu Âu, Trung Quốc,
Nhật Bản, v.v., đã đứng vững và thể hiện tính độc lập. Nga (giữa những năm 50)
vươn lên ngang tầm với Mỹ. Thế giới bắt đầu nói về tính hai cực trong quan hệ
quốc tế (mặc dù vẫn kém Mỹ trong nhiều chỉ số về sức mạnh tổng lực).
17
Có rất nhiều người tin tưởng vào chủ nghĩa lạc quan. Trong nhiều thế
kỷ, tính một cực không được công nhận trong quan hệ quốc tế. Mặc dù trong
lịch sử, các quốc gia thường xuyên thực hiện tham vọng đó. Thứ nhất, Mỹ
chịu hậu quả tiêu cực từ phương thức dùng bạo lực để phổ biến các chuẩn
mực của mình. Ví dụ, Iran dưới sức cưỡng ép của Mỹ sinh ra không phải nền
dân chủ mà là chế độ Hồi giáo cứng rắn, đã 20 năm nay thách thức Mỹ. Rút
cuộc người ta nhận rõ tính vô lợi của việc Washington dùng lưỡi lê thiết lập
nền dân chủ ở các nước khác. Thứ hai, sự phản đối từ chính những người dân
Mỹ. Thứ ba, trong bối cảnh đình trệ sâu sắc, Washington buộc phải tính toán
tài chính kĩ hơn. Tiền chi cho “xuất khẩu” dân chủ và bá quyền lãnh đạo quân
sự trên phạm vi toàn cầu sẽ ngày càng ít đi. Thứ tư, nhiều vấn đề phức tạp
trong thế giới phụ thuộc lẫn nhau này chỉ có thể giải quyết được khi hợp tác
chặt chẽ và bình đẳng với các thành viên và cộng đồng thế giới – không coi
thường họ, không làm cho họ phản ứng tiêu cực và chống lại Mỹ. Ví dụ, đó là
khủng bố quốc tế, phổ biến vũ khí hạt nhân, xung đột khu vực và cục bộ, v.v.,
trong đó khả năng của Mỹ không phải là vô hạn. Như vậy, cho dù Mỹ ngày
càng muốn tiến tới bá quyền lãnh đạo, nhưng thực tế của thế giới sẽ khiến Mỹ
đi tới những chính sách hợp lý hơn.
Ý tưởng cô lập Mỹ bằng các tam giác, tứ giác càng phản tác dụng và
nguy hiểm. Nếu điều đó thành hiện thực thì không tránh khỏi đưa nhân loại
đến thảm họa toàn cầu. Thời gian gần đây, ở Nga, người ta tích cực tuyên
truyền sự phục hồi mô hình thế giới hai cực, trong đó thế giới Bắc Đại Tây
Dương do Mỹ cầm đầu sẽ đối đầu với thế giới Á - Âu do Nga cầm đầu. Lập
mặt trận thống nhất của các nền văn minh nhằm chống lại "trật tự thế giới
mới". Trung tâm của mặt trận đó là liên minh của Nga với các nước Hồi giáo
cực đoan nhất.
Theo cách trình bày như vậy, mô hình địa chính trị Á - Âu không hơn
gì một sự không tưởng phản động mà không được cho phép trở thành hiện
thực. Nó là phản động, vì nó định hướng vào việc quay về quá khứ, về thế
giới hai cực thời suy tàn của nền văn minh công nghiệp. Nó là không tưởng
19
vì, thứ nhất, ở thế kỷ XXI, không một nền văn minh nào có thể hợp nhất các
nền văn minh khác dưới ngọn cờ của mình, chỉ có thể đi theo con đường hợp
tác và cộng tác có lợi ích chung của các nền văn minh; thứ hai, vì sau khi chịu
thất bại nặng nề trong cuộc đấu tranh giữa các nền văn minh, khi có tỷ trọng
kinh tế không đáng kể và tiềm lực giảm dần, Nga không thể trở thành sức hấp
dẫn để cố kết các nền văn minh khác trong những thập niên sắp tới. Kỳ vọng
lãnh đạo thế giới chống phương Tây không căn cứ trên các lực lượng hiện
thực và thể hiện là vô căn cứ. Đúng là nước Nga cùng với nguồn trí tuệ hiện
có của nó có thể có đóng góp không nhỏ cho việc hình thành tư tưởng thế giới
đa cực, song nó không có khả năng lãnh đạo việc xây dựng một thế giới như
vậy. Cần phải thừa nhận rằng, Nga không phải là trung tâm của chu kỳ địa
chính trị lớn tiếp theo.
Như vậy, có thể nói Mỹ đóng vai trò quan trọng nhất trong đảm bảo
tiến bộ kinh tế và ổn định chính trị trên thế giới với tư cách là nước phát triển
nhất và có ảnh hưởng nhất chứ không phải với tư cách là nước bá quyền. Tất
cả chúng ta đang phụ thuộc vào Mỹ và ngược lại. Vì đó là đặc thù của thế giới
toàn cầu hóa hiện nay. Cũng đã có thời gian nước Mỹ hiểu rất rõ ưu thế của
thế giới đa cực. Tổng thống Nixon trả lời phỏng vấn rằng: “chúng ta cần phải
nhớ rằng thời kì cân bằng lực lượng là thời kì duy nhất trong lịch sử trái đất
mà chúng ta có được thế giới trong suốt một thời gian khá dài. Khi mà một
trong số các nước mạnh hơn rất nhiều so với đối thủ tiềm tàng của nó thì nguy
cách là chủ quyền trong không gian ấy mà thôi. Xét từ giác độ lịch sử, các
khái niệm nhà nước - dân tộc và chủ quyền quốc gia là những khái niệm riêng
có của nền văn minh phương Tây. Chúng chỉ mới được chia sẻ với các dân
tộc khác trên thế giới vào thế kỷ XX khi gắn với phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc của các nước thứ ba [48; 178].
Toàn cầu hóa cùng với sự bành trướng của nó như một xu thế tất yếu,
khách quan của thời hiện đại đang hàng ngày hàng giờ tác động đến những
yếu tố mà nó cuốn vào, trong đó có nhà nước – dân tộc. Hiện nay, người ta
tranh cãi nhau không phải ở chỗ toàn cầu hóa có tác động hay không tác động
21
đến nhà nước – dân tộc mà người ta bàn đến những tác động này sẽ đưa đến
những kết cục ra sao. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, chúng
ta có thể tạm khái quát thành bốn xu hướng chính như sau:
1. Nhà nước – dân tộc với chủ quyền vẫn tiếp tục tồn tại bởi sức sống
nội tại của chính chúng và bởi chính lợi ích của cộng đồng do chúng quản lý.
2. Sự tiêu vong tất yếu của nhà nước – dân tộc cùng với chủ quyền để thay
vào đó là những hình thức cai trị mới tương ứng. 3. Nhà nước và chủ quyền
có năng lực biến đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới, nhưng sự tồn tại của
chúng không còn nguyên nghĩa do phải chia sẻ quyền với những tác nhân phi
nhà nước để tạo ra các mạng quản lý phi trung tâm. 4. Xu thế phân rã của nhà
nước – dân tộc cùng với chủ quyền chỉ tỏ ra là tương hợp với các nhà nước
phương Tây. Với các nhà nước phương Đông, mô hình nhà nước dân tộc vẫn
là một phương thức cai trị không thể thay thế [48; 190, 191].
Có thể thấy, toàn cầu hóa đã và đang động chạm đến những giá trị nền
tảng mà mô hình nhà nước truyền thống vốn trụ vững trên đó: vấn đề lãnh
thổ, xã hội công dân, tổ chức chính quyền và chủ quyền. Đó là những yếu tố
tồn tại trong mối liên hệ tác động lẫn nhau. Sự biến đổi của bất kì một yếu tố
nào cũng tác động đến các yếu tố còn lại. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu
hóa, những giá trị nền tảng này đang có những biến đổi sâu sắc.
Biến dạng về xã hội công dân hay cơ cấu dân tộc trong lòng nhà nước:
khả năng nhà nước trong việc củng cố và duy trì tính gắn kết giữa các nhóm
cấu thành cộng đồng dân tộc đang suy giảm. Những mối liên hệ và những lợi
ích xuyên biên giới do toàn cầu hóa mang lại đang bào mòn cái ý niệm về một
cộng đồng dân tộc nằm trong vòng tay nhà nước [48; 198]. Thông qua phân
công lao động toàn cầu và thị trường toàn cầu, các cá nhân và các nhóm tự
định vị theo một trật tự liên kết mới mà thường không trùng với các liên kết
cộng đồng dân tộc đã tồn tại trước đó. Việc tham dự vào các hoạt động toàn
cầu quả thực đang làm xói mòn ý niệm mình thuộc về một cộng đồng dân tộc
nào đó, đồng thời tính cố kết của các dân tộc cũng dễ bị tổn thương trước làn
sóng nhập cư ngày một gia tăng. Thêm vào đó, yếu tố này có ảnh hưởng trực
23
tiếp đến việc tái phân phối của cải và thu nhập trong một xã hội. Vì việc tái
phân bổ này trong tâm thức của người dân chỉ là chia sẻ với những người có
cùng giá trị văn hóa chung với họ. Vì thế, tình hình sẽ khác đi, nếu các xã hội
bản địa bị đục thủng và tràn ngập những người nhập cư. “Việc gia tăng không
ngừng các dòng vật chất và tinh thần luân chuyển xuyên biên giới của toàn
cầu hóa đã làm cho không một nhà nước dân tộc nào trên thế giới còn giữ
được tính thuần nhất về chủng tộc và sắc tộc”[48, 198].
Tình trạng trên khiến cho khối cư dân trong lòng nhà nước dân tộc
ngày càng trở nên đa dạng và do đó, cũng làm suy giảm lực cố kết trong lòng
dân tộc. Mặt khác, vai trò quản lý của nhà nước đối với khối cư dân ấy cũng
đang gặp phải khó khăn ngày một nhiều hơn, trước tính linh động quốc tịch,
cũng như những mối liên hệ xuyên quốc gia mà những cá thể đó đem lại cho
xã hội.
Biến dạng cơ cấu quyền lực trung ương: theo dòng chảy của lịch sử,
quyền lực trung ương dần trở thành một thứ quyền lực tập trung và tối cao,
mặc dù có nhiều thời kỳ, quyền lực này phải chia sẻ. Trong bối cảnh toàn cầu
hóa hiện nay, khuynh hướng phân mảnh tiềm ẩn trong lịch sử đang gia tăng rõ