Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Hưng Yên - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NGUYỄN THU PHƢƠNG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở TỈNH HƢNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Đoàn Thị Minh Oanh
Hà Nội - 2013
1
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ VÀ YÊU CẦU
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Ở
TỈNH HƢNG YÊN THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA 8
1.1. Khái niệm và đặc điểm nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 8
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực 8

1.1.2. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ và
các nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực KH&CN 24

1.2. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực
khoa học và công nghệ ở tỉnh Hưng Yên 28
1.2.1. Một số vấn đề về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Hưng Yên 28

1.2.2. Vai trò và những yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực khoa
học và công nghệ của tỉnh Hưng Yên 32

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CĐ : Cao đẳng
ĐH : Đại họcGD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

KH&CN : Khoa học và công nghệ
MTTQ : Mặt trận Tổ quốc

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

UBND : Ủy ban nhân dân

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Sơ đồ 1.1: Nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội 15

Sơ đồ 1.2: Quá trình hình thành và phát triển nguồn nhân lực khoa học và
công nghệ 22

Sơ đồ 1.3: Các yếu tố của quản lý nguồn nhân lực 26

Sơ đồ 1.4: Mối quan hệ giữa KH&CN với sự phát triển kinh tế - xã hội 34

thực hiện rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong số các nguồn
lực cần thiết cho sự thành công của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH thì nguồn
nhân lực KH&CN là yếu tố quyết định. Đây là đội ngũ nhân lực khoa học và
công nhân lành nghề có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực nghiên cứu và
hoạt động sản xuất.
Hưng Yên đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp. Quá trình này đặt ra
yêu cầu khách quan phải coi trọng nguồn nhân lực KH&CN. Từ một tỉnh chủ
yếu sản xuất nông nghiệp là chính, do có sự chú trọng đầu tư vào nguồn lực
con người cho phát triển, 10 năm trở lại đây (2001 - 2010) Hưng Yên trở thành
một tỉnh trọng điểm của đồng bằng sông Hồng về phát triển công nghiệp, dịch
vụ và các sản phẩm làng nghề truyền thống khác. Để có được những thành tựu
như ngày nay, việc sử dụng và phát huy nguồn lực con người, đặc biệt là phát
triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ để phát triển sản xuất, sáng tạo ra
những phương tiện, kỹ thuật có chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp công
2
nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh là hết sức quan trọng, trực tiếp và thiết thực.
Bởi nó không đơn thuần đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế địa phương mà
còn hướng vào đáp ứng yêu cầu phát triển con người, xây dựng xã hội tiến bộ,
dân chủ, công bằng, văn minh.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hưng Yên vừa qua, đội
ngũ những người hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ đã có nhiều
đóng góp quan trọng, khẳng định vai trò to lớn của mình vào sự phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, trong thực hiện vai trò, nguồn nhân lực này còn
nhiều hạn chế, đặc biệt, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, đang nảy sinh
những bất cập đòi hỏi phải giải quyết. Vì vậy, việc quan tâm nghiên cứu một
cách sâu sắc, thực tế và khoa học để đánh giá thực trạng, tìm ra nguyên nhân
hạn chế, trên cơ sở đó xác định quan điểm chỉ đạo, đề xuất giải pháp cơ bản
góp phần phát triển đội ngũ làm công tác trên lĩnh vực khoa học và công nghệ,
đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới tỉnh Hưng Yên đang là một vấn đề cấp

Mạnh Quân, Nguyễn Văn Học. “Đổi mới cơ chế chính sách tạo động lực cho
khoa học và công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước” (2000) của tác giả Nguyễn Thanh Thịnh…
b) Các bài báo, tạp chí và công trình khoa học
Một số bài báo và tạp chí cũng giới thiệu đến vấn đề nguồn nhân lực
khoa học và công nghệ tiêu biểu là tác giả Nguyễn Thanh Long với bài “Phát
triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,
4
hiện đại hoá đất nước” trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5/2003 và còn một số
bài trên tạp chí Nghiên cứu chính sách khoa học và công nghệ thuộc Viện
Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ.
Một số luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ cũng đề cập đến phát triển
nguồn nhân lực KH&CN, như: “Vai trò của trường đại học trong việc phát
triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của đất nước” của tác giả Nguyễn
Thị Mùi đã đưa ra thực trạng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ dưới góc
độ giáo dục và đào tạo và lấy Đại học Quốc gia Hà Nội làm đối tượng khảo sát,
đồng thời đưa ra những chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN. Luận
án tiến sĩ kinh tế của tác giả Phạm Văn Quý với đề tài “Giải pháp phát triển
nguồn nhân lực KH&CN đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Việt Nam hiện nay”.
Năm 2003 - 2004, Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Hải
Dương đã phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ và Cục Thống kê tỉnh Hải
Dương nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Thực trạng, giải pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng nguồn nhân lực khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa tỉnh Hải Dương” (Lương Đức Trụ - chủ nhiệm đề tài). Đề tài đã đi
sâu phân tích thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân
lực khoa học công nghệ và được nhân rộng trong phạm vi toàn tỉnh.
c) Các tài liệu có liên quan của tỉnh Hưng Yên
Ở tỉnh Hưng Yên, năm 2011 có một số đề tài gần đây đề cập đến phát
triển nguồn nhân lực KH&CN như nhóm đề tài phối hợp nghiên cứu của Viện

triển nguồn nhân lực KH&CN trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực KH&CN trong quá
trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở Hưng Yên hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực KH&CN
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về vấn đề phát triển nguồn
nhân lực khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực
khoa học và công nghệ trên hai lĩnh vực căn bản là giáo dục - đào tạo và nghiên
cứu - triển khai (R&D) trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 1998 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn
đề con người, nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực khoa học và công
nghệ. Đồng thời luận văn cũng kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình
có liên quan đến đề tài.
- Cơ sở thực tiễn: Luận văn dựa vào những số liệu, đánh giá của các báo
cáo tổng kết thực tiễn và tình hình thực tế phát triển nguồn nhân lực KH&CN
của tỉnh Hưng Yên.
7
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận biện
chứng duy vật và các phương pháp: phân tích và tổng hợp, hệ thống hoá, so
sánh và một số phương pháp của xã hội học như thu thập và xử lý số liệu.
6. Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần tạo thêm cơ sở để thực hiện
việc kết hợp giữa phát triển nguồn nhân lực KH&CN với phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh trong thời kỳ mới. Đồng thời, luận văn cung cấp các luận cứ
để Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và các sở, ban, ngành hữu quan của tỉnh Hưng Yên

chiến lược phát triển nguồn nhân lực của mình. Báo cáo chính trị của Ban
chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội IX đã khẳng định: “Nguồn lực con
người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững” [18, tr. 109]. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục
khẳng định “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hoá đầu
đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề” [21, tr. 217]. Để nhìn nhận
đầy đủ và sâu sắc về vấn đề nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực
khoa học và công nghệ nói riêng một cách toàn diện thì cần phải xem xét
những khái niệm cơ bản và cơ sở có liên quan tới nó.
Nhân tố con người: Nguồn nhân lực là một vấn đề rộng, có liên quan
đến nhiều yếu tố khác nhau. Trước tiên phải kể đến yếu tố “con người”. Bởi
chính con người có vai trò quyết định đến mọi quá trình phát triển kinh tế - xã
hội. C.Mác đã quan niệm rằng, con người không chỉ là chủ thể của quá trình
hoạt động sản xuất vật chất, là yếu tố hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định
trong lực lượng sản xuất của xã hội mà hơn nữa nó còn đóng vai trò là chủ thể
9
hoạt động của quá trình lịch sử. Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con
người tạo ra lịch sử của chính mình, lịch sử của xã hội loài người.
Về bản chất con người: C. Mác đã khẳng định: “Trong tính hiện thực
của nó, bản chất của con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” [33, tr.
11]. Quan hệ xã hội tạo nên “tính người”, chi phối mọi chức năng hoạt động
và hành vi của con người. Trong lao động sản xuất, với tư cách là chủ thể, con
người không chỉ tác động vào tự nhiên mà còn tác động lẫn nhau giữa người
với người trong các mối quan hệ giao tiếp, từ đó hình thành nên quan hệ xã
hội. Trong xã hội thì cá nhân mới biểu hiện phẩm chất và tài năng của mình.
Xã hội là môi trường, là phương tiện để phát triển tài năng, tu dưỡng phẩm
chất cho mỗi người.
Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, là yếu
tố hàng đầu, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất

Hai là, nhân tố con người được hiểu là những chỉ tiêu về số lượng, chất
lượng nói lên khả năng của con người của cộng đồng người như là một tiềm
năng cần khai thác và phát huy trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội, đó
là số lượng lao động, tình trạng sức khoẻ, trình độ học vấn…
Ba là, nhân tố con người được hiểu là nhân cách. Với tư cách này, nhân
tố con người bao gồm nội dung: thái độ lao động, ý thức trách nhiệm trước
công việc, trước cộng đồng, tinh thần tập thể, ý thức dân tộc, ý thức giai cấp,
ý thức chính trị xã hội, truyền thống dân tộc, gia đình dòng họ…
Nói một cách khác, nhân tố con người được hiểu toàn diện là bao gồm
tất cả những yếu tố, tiêu chí về nhân cách, về chức năng xã hội của con người
khai thác phát huy trong quá trình cải tạo thế giới. Trong sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội, việc phát huy nhân tố con người phải tính đến một cách đầy
đủ tất cả các yếu tố hợp thành nhân tố con người và tạo mọi điều kiện để khơi
dậy, phát huy các yếu tố đó.
11
Vai trò quyết định của nhân tố con người được các nhà sáng lập chủ
nghĩa xã hội khoa học luận chứng và khẳng định: con người không chỉ là sản
phẩm của sự phát triển tự nhiên và xã hội mà còn là chủ thể tích cực cải biến
tự nhiên và xã hội; con người là điểm khởi đầu và điểm kết thúc của mọi quá
trình lịch sử, con người là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất:
“lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người
lao động” [31, tr. 130]. Nhân tố con người có tính chất lịch sử xã hội, nó là
tiềm năng, năng lực nguồn lực của sự phát triển. Quan niệm mácxít về nhân tố
con người và về vai trò của con người với tư cách là người sáng tạo có ý thức,
là chủ thể sáng tạo ra lịch sử. Như vậy, xuất phát từ quan niệm duy vật lịch
sử, nội dung nhân tố con người tập trung vào hai điểm sau: xét nhân tố con
người trong tính hiện thực và cụ thể của nó và trong những điều kiện kinh tế -
xã hội xác định; nhân tố con người với tư cách là người lao động được giải
phóng và là chủ thể của quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới.
Đồng thời xem xét con người không chỉ đơn thuần là từ góc độ kinh tế như

văn hoá, xã hội… Quan hệ sản xuất này lại phụ thuộc vào sự phát triển của
lực lượng sản xuất. Mỗi khi lực lượng sản xuất phát triển sẽ kéo theo sự phát
triển của quan hệ sản xuất và cùng với nó là sự tiến bộ của các quan hệ chính
trị, đạo đức, pháp luật… ngày càng hoàn thiện qua các thời kỳ lịch sử.
Mặt khác, con người với trí tuệ của mình và sức mạnh cải tạo tự nhiên,
xã hội và cải tạo chính bản thân con người, là nguồn lực không bao giờ cạn
kiệt, có khả năng phục hồi và tự tái sinh ra chính nó. Tính vô hạn của trí tuệ
con người biểu hiện ở chỗ nó có khả năng không chỉ tự tái sinh về mặt sinh
học mà còn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất. Nếu chăm sóc, bồi
dưỡng và khai thác nguồn lực con người một cách hợp lý có hiệu quả bởi tri
thức con người có tính vô hạn. Chính vì vậy, mà con người là nguồn lực quý
nhất, quyết định nhất.
13
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ như một xu thế chính
xuyên qua mọi quốc gia. Thông tin, tri thức, tay nghề cùng với trí sáng tạo,
tưởng tượng, tài năng quản lý, văn hoá, nhân phẩm… đã từng bước trở thành
nhân tố quan trọng đối với sự phát triển. Con người và tri thức ngày càng trở
thành một nguồn lực rất cơ bản, quyết định sự đi lên hay thụt lùi của mỗi quốc
gia. Khoa học và công nghệ đã tác động đáng kể đến xã hội thông tin mà đặc
điểm nổi bật của xã hội thông tin là sự phát triển của xã hội không còn dựa
chủ yếu vào các nguồn lực dự trữ tự nhiên như trong xã hội công nghiệp mà
chủ yếu dựa vào nguồn lực có yếu tố tri thức, có khả năng tái tạo, tự sản sinh
và không bao giờ cạn.
Nói đến yếu tố con người là nói đến vai trò của con người và những tác
động tới con người trong quá trình hoạt động sản xuất. Con người ở đây phải
hiểu là những cá nhân chủ thể của lao động trong một hệ thống sản xuất, còn
được gọi là nhân lực. Giáo sư Edward
1
đã định nghĩa về nhân tố con người
như sau: “Nhân tố con người là mối quan hệ giữa việc tối ưu hoá nhân sự và

trưng chủ yếu nói lên năng lực của con người trong quan hệ với tự nhiên.
Như vậy, con người với những năng lực, trí tuệ, kỹ năng, kinh nghiệm
lao động nhất định và tư liệu sản xuất là yếu tố trung tâm trong lực lượng sản
xuất. Yếu tố con người ngày nay đang được quan tâm một cách đặc biệt vì chỉ
có con người mới phát huy và khơi dậy các tiềm năng khác phục vụ cho sự
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong xu thế hội nhập kinh tế quốc
tế như hiện nay.
Nguồn nhân lực: Trong quá trình vận động của nền kinh tế - xã hội,
việc xem xét nhân tố con người với tư cách là một nguồn lực xã hội của sự
phát triển đã dẫn đến việc hình thành khái niệm mới là nguồn lực con người
hay nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:
Theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực (Human Resources) là tổng thể các
tiềm năng (lao động) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một
địa phương đã được chuẩn bị ở một mức độ nào đó có khả năng huy động vào
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (hoặc một vùng, một địa
phương cụ thể). Nguồn nhân lực được tiếp cận ở góc độ này như là một bộ
phận cấu thành các nguồn lực của quốc gia như nguồn lực vật chất (trừ con
người), nguồn lực tài chính, nguồn lực trí tuệ (chất xám)… Những nguồn lực
này có thể được huy động một cách tối ưu để phát triển kinh - tế xã hội theo
sơ đồ sau:
15
Sơ đồ 1.1: Nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội

Nguồn: [47, tr. 23]
Nguồn nhân lực được nghiên cứu trên giác độ số lượng và chất lượng.
Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc
độ phát triển dân số. Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao
gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí tuệ, kỹ năng, phong cách
đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực. Trong đó, trình độ học vấn
là quan trọng nhất vì nó không chỉ là cơ sở để đào tạo kỹ năng nghề nghiệp

lĩnh vực khoa học và công nghệ, quản lý hành chính công, quản lý doanh
nghiệp và lao động thuộc các ngành kinh tế - xã hội.
Ngoài ra, nguồn nhân lực còn một số khái niệm có liên quan như đội
ngũ lao động, vốn nhân lực…
Đội ngũ lao động: là những người lao động trong nguồn nhân lực đang
làm việc trong nền kinh tế quốc dân. Đây là bộ phận quan trọng nhất đối với
nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng
trưởng và phát triển kinh tế nói riêng. Vì vậy, vấn đề mở rộng và nâng cao
chất lượng đội ngũ lao động luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
Vốn nhân lực: Đây là khái niệm tương đối mới, là công cụ để phân tích
kinh tế - xã hội. Vốn nhân lực được hiểu là tiềm năng và khả năng phát huy
tiềm năng về sức khoẻ, kiến thức của các cá nhân và là cái mang lợi ích trong
tương lai, cao hơn và lớn hơn lợi ích hiện tại. Khái niệm “vốn” được hiểu là
giá trị lợi ích (kinh tế - xã hội) để chỉ ra tầm quan trọng việc đầu tư vào phát
triển con người nhằm tạo ra những người lao động có tri thức, có khả năng
nhận thức và tiếp thu kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp và có sức khoẻ đáp
ứng được đòi hỏi ngày càng cao của công việc.
Nguồn lực có tính chất quyết định nhất đến sự phát triển kinh tế xã hội
ngày nay không còn là nguồn tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, vốn
17
tiền bạc (vật lực, tài lực) mà là vốn con người (Human capital) là nguồn lực
con người, nguồn nhân lực (Human resources).
Theo cách tiếp cận con người về nguồn nhân lực, các nhà kinh tế hiện
đại đã cho rằng: phát triển con người là sự mở rộng các khả năng của con
người, tạo cho con người có cơ hội tiếp cận tới nền giáo dục tốt, dịch vụ y tế,
có việc làm ý nghĩa hơn, tăng cường năng lực, trước hết là nâng cao kiến thức,
kỹ năng, kinh nghiệm làm việc của họ. Nếu như tiếp cận con người ở khía cạnh
mục tiêu của sự phát triển thì phát triển nguồn nhân lực được tiếp cận ở khía
cạnh nguồn vốn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động (đầu tư)
nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu

KH&CN từng bước được đổi mới theo hướng mở rộng liên kết giữa nghiên
cứu với sản xuất kinh doanh. Nhờ đó nâng cao được hiệu quả hoạt động
KH&CN, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh
của nền kinh tế.
Thông thường người ta đồng nhất nguồn nhân lực khoa học và công
nghệ với toàn bộ lực lượng lao động xã hội đã qua đào tạo, từ công nhân đến
kỹ thuật viên, kỹ sư, tới những người có trình độ đào tạo cao hơn (thạc sĩ, tiến
sĩ). Đây là cách tiếp cận theo trình độ đào tạo.
UNESCO đưa ra khái niệm liên quan đến nhân lực trong lĩnh vực
KH&CN là: “Tổng số nhân lực có trình độ” và “số nhân lực có trình độ hiện
đang công tác”. Quan điểm của UNESCO về hai khái niệm này là: “Tổng số
nhân lực có trình độ” cần phải được xem xét như một đại lượng đo bởi qua đó
có thể biết được tổng số những người được đào tạo để có năng lực trở thành
nhà khoa học và kỹ sư bất kể hiện tại họ có làm việc theo năng lực này hay
không. Nói cách khác, đại lượng này thể hiện cho tiềm năng của một quốc gia
về nhân lực KH&CN.
Nhân lực R&D theo các tài liệu của OECD liên quan đến thống kê
KH&CN có định nghĩa: nhân lực R&D là tất cả những người được tuyển
dụng cho hoạt động R&D, cũng như những cung cấp dịch vụ trực tiếp như các
19
nhà quản lý R&D, cán bộ nhân viên hành chính và văn phòng (“Khuyến nghị
tiêu chuẩn thực tiễn cho điều tra nghiên cứu và phát triển” – Tài liệu hướng
dẫn FRASCATI 2002, OECD, tr104).
Theo định nghĩa của tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD),
trong cuốn “Cẩm nang về đo lường nguồn nhân lực khoa học và công nghệ”,
xuất bản năm 1995 tại Pari thì: “Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ bao
gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây [7, tr. 61]:
- Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng về một lĩnh vực khoa học và công nghệ.
- Tuy chưa đạt được điều kiện nêu trên nhưng làm việc trong một lĩnh
vực khoa học và công nghệ đòi hỏi có trình độ tương đương.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status