Lý luận nhận thức của Chủ nghĩa duy vật biện chứng - Pdf 25

Mục Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài…………………………………… 01
2 Tình hình nghiên cứu………………………………………….02
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………….……… 10
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu…………………… 10
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu………………… 10
6 Đóng góp mới về khoa học………………………… 10
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn….……………… 11
8 Kết cấu của luận văn………………………………………… 11
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1
Sự hình thành và phát triển lý luận nhận thức của
C.Mác và Ph.Ăngghen
1.1 Tiền đề lịch sử của sự hình thành lý luận nhận thức của Mác
và Ăngghen
1.1.1 Tiền đề triết học………………………………………………13
1.1.2 Tiền đề khoa học tự nhiên ………………………………… 18
1.2 Sự hình thành những quan điểm về nhận thức của Mác và
Ăngghen (giai đoạn 1843-1846)……………….…………………………….20
1.3 Mác và Ăngghen phát triển lý luận nhận thức
1.3.1 Mác và Ăngghen phát triển lý luận nhận thức trong nghiên
cứu kinh tế chính trị học……………………………………………………30
1.3.2 Ph.Ăngghen phát triển nhận thức luận mácxít trong nghiên
cứu khoa học tự nhiên………………………………………………………43
1.3.3 C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển học thuyết về nhận thức
trong một số tác phẩm khác………………………………………………49
Chương 2
V.I Lênin phát triển lý luận nhận thức của
chủ nghĩa duy vật biện chứng


nhận thức hướng tới nắm bắt, phản ánh, nó nằm trong phạm vi tác động của
hoạt động nhận thức. Do vậy, khách thể nhận thức không đồng nhất hoàn toàn
với hiện thực khách quan, phạm vi của khách thể được mở rộng đến đâu là
tùy theo sự phát triển của nhận thức, của khoa học, trước hết là của thực tiễn.
Vai trò của nhận thức luận không chỉ thể hiện đối với mỗi cá nhân mà còn với
tập thể, với cả cộng đồng xã hội. Nhận thức với trình độ cao là nhận thức lý
luận sẽ đem lại các tri thức lý luận hay hệ thống lý luận và có tác động to lớn,
tối quan trọng đối với hoạt động thực tiễn của con người. Do tính phổ biến, lý
luận có thể dẫn đường cho hoạt động thực tiễn của cả giai cấp xã hội; nhưng
khi lạc hậu, do tính phổ biến, lý luận có sự kìm hãm lớn trên diện rộng, cả xã
hội có thể mất phương hướng.
Cùng với phép biện chứng, lôgíc học, nhận thức luận mácxít có vai trò
đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng, khái quát và giải thích đúng đắn

2
những thành tựu mới của khoa học. Ngày nay khi khoa học tự nhiên đang ra
sức tìm kiếm một lý luận khái quát mới, những tư tưởng mới thì việc chú ý
đến những vấn đề phương pháp luận là đặc biệt quan trọng. Đó là khả năng
tổng hợp ở trình độ cao, khả năng nắm bắt và vận dụng nhuần nhuyễn, linh
hoạt, sáng tạo các nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng với tư
cách phương pháp luận và nguyên tắc chung mà tư duy phải tuân theo trong
nhận thức và giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
Trong thời đại phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công
nghệ và kinh tế tri thức, vai trò của nhận thức luận đã tăng lên hơn bao giờ
hết. Việc hiểu đúng và nắm vững lý luận nhận thức mácxít là một điều kiện
cần thiết để xem xét bản chất của đối tượng, đạt được những hiểu biết khái
niệm, lý luận khoa học về đối tượng, góp phần giải quyết được những vấn đề
của thực tiễn. Thiết nghĩ việc quay trở về với lịch sử phát triển tư tưởng của
các nhà kinh điển về nhận thức là một điều cần thiết đối với những ai đã và
đang tham gia vào hoạt động lý luận. Chính vì lý do đó mà chúng tôi đã chọn

năng động. Tính khách quan và tính năng động của hoạt động thực tiễn luôn
thống nhất biện chứng với nhau.
Hoạt động thực tiễn của con người vừa có tính khách quan, vừa có tính
năng động. Hoạt động thực tiễn là sự thống nhất giữa tính quy luật và tính
mục đích, giữa tính khách quan và tính năng động. Nghiên cứu tính khách
quan và tính năng động cùng mối quan hệ giữa chúng sẽ giúp chúng ta lý giải
chính xác tính chủ thể, từ đó tiến thêm một bước trong việc tăng cường vai trò
tích cực cũng như ngăn ngừa tác động tiêu cực của tính chủ thể trong thực
tiễn, khiến cho tính chủ thể của thực tiễn được đặt trên nền tảng khoa học,
đồng thời được phát huy một cách đầy đủ nhất. Xét trên ý nghĩa đó, việc
nghiên cứu mối quan hệ giữa tính khách quan và tính năng động không chỉ
cần thiết về mặt lý luận, mà còn có giá trị thực tiễn.
Nhìn từ góc độ nhận thức luận về triết học thì tất cả hoạt động sáng tạo
của con người đều bắt nguồn từ sự thay đổi, đổi mới và tối ưu hoá. Do vậy,
phương thức tư duy (cả lôgíc hình thức và lôgíc biện chứng) cũng được

4
nghiên cứu để phát huy tốt hơn năng lực nhận thức. Đó là bài viết của các tác
giả
1) Trần Trung Lập “Tăng cường phương thức tư duy, phát huy năng lực
sáng tạo triết học” (Tạp chí Triết học, số 10/ 2008)
2)“ Vai trò của các nguyên tắc, phạm trù lôgíc biện chứng đối với việc
rèn luyện năng lực tư duy biện chứng” của Trần Viết Quang (Tạp chí Triết
học, số 12/2006)
3) Edgar Morin với “ Nhập môn tư duy phức hợp” NXB Tri Thức, Hà
Nội 2009; “ Phương pháp ba: Tri thức về tri thức, nhân học về tri thức NXB
Đại học quốc gia Hà Nội 2009”
Tác giả Phạm Văn Dương trong bài viết “Về sự thống nhất giữa phép
biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học” (Tạp chí Triết học, số 5/1997) đã
nghiên cứu tư tưởng của Lênin trong “Bút ký triết học” khi ông viết “Trong

cải tạo nên trên cơ sở duy vật khoa học khiến cho nguyên tắc biện chứng rất
quan trọng này mang một sắc thái có tính bản chất hoàn toàn mới và được
chính các nhà kinh điển áp dụng triệt để trong các nghiên cứu về chủ nghĩa tư
bản và chủ nghĩa đế quốc.
2) “Sự hình thành mối tương quan giữa lôgíc và lịch sử trong lịch sử
triết học” (Tạp chí Triết học, số 4/1995) khảo sát mối tương quan giữa lôgíc
và lịch sử là sự phản ánh tính thống nhất giữa bản thân sự phát triển hiện thực
với sự phát triển của nhận thức lý luận về hiện thực đó. Nhận thức lý luận,
theo tác giả, triển khai trình tự lôgíc phản ánh khách thể trong sự nhất trí với
lịch sử phát triển của khách thể ấy, tạo thành các “vòng tròn” vận động. Mỗi
bước lùi sâu vào lịch sử đều được chuyển thành một bước tiến đến sự hiểu
biết đầy đủ và sâu sắc hơn cái bản chất hiện tại; mỗi thao tác phân tích từng
bộ phận của chỉnh thể hiện tại cũng đồng thời là sự tổng hợp nó theo quy trình
mà lịch sử đã làm. Dưới ánh sáng của nguyên tắc lịch sử, quá trình sinh thành
mối tương quan giữa lôgíc và lịch sử được phổ biến như quá trình tích hợp
các tri thức lịch sử cấu thành nội dung hiện tại, phù hợp với các bậc thang
phát triển cơ bản của lịch sử triết học. Tác giả khẳng định, theo quan điểm

6
mácxít, lịch sử trước hết là lịch sử của các sự vật, hiện tượng khách quan, và
sau đó mới là lịch sử tư tưởng phản ánh hiện thực ấy bởi con người. Do đó,
cái lịch sử luôn là nguyên mẫu của lôgíc, còn cái lôgíc chẳng qua chỉ là “sự
phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thức trừu tượng và nhất quán về lý
luận”.
Bàn về một số khía cạnh của nhận thức luận là bài viết của tác giả
Nguyễn Gia Thơ “Về một số khía cạnh nhận thức luận của lôgíc quy nạp
trong triết học cổ đại Hy Lạp” (Tạp chí Triết học, số 2/1994). Tác giả cho
rằng, nếu như diễn dịch là một phương pháp tư duy thuần túy lý tính, thì quy
nạp luôn luôn bằng cách này hay cách khác gắn với tri thức kinh nghiệm.
Nhưng khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quy nạp, chúng ta luôn thấy

động vật chất có tư duy chỉ đạo do vậy hoạt động vật chất của con người khác
với hoạt động vật chất của con vật. Bàn đến các hình thức của thực tiễn các
tác giả cho rằng bên cạnh 3 hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất;
hoạt động chính trị- xã hội; hoạt động thực nghiệm khoa học thì thực tiễn còn
có một hình thức nữa là các hoạt động vật chất của con người như ăn, mặc, ở,
đi lại, quan sát, sinh con đẻ cái. Thêm vào đó, bài viết còn cho rằng, hiểu vai
trò của thực tiễn với tính cách là tiêu chuẩn của chân lý tức là cần phải hiểu,
kết quả của thực tiễn mới là tiêu chuẩn của chân lý, chứ không cho rằng tiêu
chuẩn của chân lý nằm ở quá trình hoạt động thực tiễn như một số ý kiến.
Tác giả Phạm Văn Chung với bài viết “Về những đặc trưng cơ bản của
tri thức” (Tạp chí Triết học, số 9/2010) cũng đã đề cập đến một trong những
yếu tố đặc trưng của nhận thức luận là tri thức. Tác giả đã đưa ra và phân tích
một số đặc trưng cơ bản của tri thức. Đó là, tri thức là một dạng thái tinh thần;
tri thức là hình thức cao nhất của sự tiến hóa các hình thức phản ánh; tri thức
là kết quả của nhận thức; tri thức với tư cách là thông tin; tri thức là sự biểu
hiện, khẳng định bản chất con người. Những đặc trưng đó tuy chưa nói hết
được những thuộc tính, những mặt của tri thức, song chúng cũng đã cho thấy
tính chất nhiều chiều, đa dạng của tri thức – một đối tượng nghiên cứu hết sức
phức tạp thuộc về phạm vi nhận thức.

8
Sau nữa là các công trình nghiên cứu bàn đến những nội dung cơ bản
của lý luận nhận thức. Cuốn “Lôgíc học đại cương” của hai tác giả Nguyễn
Anh Tuấn và Nguyễn Thúy Vân, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội- 2003
nghiên cứu vai trò của lôgíc trong nhận thức về mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội. Cụ thể là những hình thức tư duy chung, một số vấn đề cơ bản của lôgíc
hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận và chứng minh để đạt đến nhận
thức cho đúng.
Ấn phẩm mới xuất bản của tác giả Phạm Văn Chung “Giáo trình lịch sử
triết học. Sự hình thành và phát triển triết học Mác, giai đoạn C.Mác,

T.S Đỗ Minh Hợp dịch và hiệu đính đã trình bày một cách có hệ thống, bao
hàm đầy đủ các yếu tố cơ bản và hoàn cảnh ra đời của phép biện chứng trong
lịch sử tư tưởng nhân loại; cho thấy lịch sử phép biện chứng hình thành, phát
triển từ khi triết học ra đời, mà đỉnh cao của nó là phép biện chứng mácxít.
Và cuốn “Triết học Mác, sự phát sinh và phát triển của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử thời kỳ Mác và Ăngghen” của
Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô, NXB Sự Thật Hà Nội- 1962 cho thấy triết
học Mác về lịch sử và phép biện chứng duy vật có một quá trình hình thành
và phát triển thông qua những tác phẩm tiểu biểu. Ở đây các ông đã thể hiện
đầy đủ và rõ ràng quan điểm của mình ở trong từng luận điểm, từng yếu tố
cũng như ở những đặc trưng mang tính hệ thống của chúng. Tuy nhiên với hai
cuốn sách trên các tác giả cũng mới quan tâm đến một trong những nội dung
quan trọng của triết học Mác, hoặc là về phép biện chứng duy vật hoặc là về
chủ nghĩa duy vật lịch sử chứ chưa quan tâm sâu sắc đến mặt nhận thức luận
của triết học Mác.
Có thể nói, tất cả những công trình, những bài viết mà chúng tôi vừa
nêu ít nhiều cũng đã bàn đến những nội dung của lý luận nhận thức, tuy nhiên
vẫn bộc lộ sự chưa chặt chẽ, chưa rõ ràng, đặc biệt chưa đi sâu nghiên cứu để
chỉ ra được lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác có một quá trình hình thành
và phát triển được thể hiện thông qua các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen
và V.I.Lênin. Bên cạnh đó, cho đến nay ở Việt Nam về cơ bản lý luận nhận

10
thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng chưa được nghiên cứu một cách có hệ
thống, vì vậy để đáp ứng thực tiễn này chúng tôi chọn đề tài “Lý luận nhận
thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng” làm đề tài nghiên cứu của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: sự hình thành và phát triển lý luận
nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Phạm vi nghiên cứu là nhận thức luận do C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin

phần kết luận và lịch sử các tài liệu tham khảo 12
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG 1
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN NHẬN
THỨC CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN

Đóng góp đáng kể của hai nhà triết học người Đức đối với lịch sử hình
thành và phát triển lý luận nhận thức mácxít là ở những vấn đề về nhiệm vụ
của triết học lý luận (đối với Cantơ đó là nhận thức luận); nghiên cứu các hình
thức, khả năng và giới hạn nhận thức của con người; và đặc biệt là vai trò của
phép biện chứng trong triết học Hêghen biểu hiện ra là lý luận nhận thức và là
hình thức cao nhất của lôgíc học, của tư duy lôgíc trước Mác.
Immanuel Kant (1724 - 1804), người sáng lập lên nền triết học cổ điển
Đức. Ông hướng đến mục đích xây dựng một nền tảng thế giới quan mới cho
con người, xác định đối tượng và giới hạn của tri thức con người trong lí luận
nhận thức và lôgíc học. Trước tiên Cantơ thừa nhận sự tồn tại khách quan của
thế giới các “vật tự nó” ở bên ngoài con người không nhận thức được, mọi tri
thức của con người không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan tức “vật
tự nó”. Ở đây, mặc dù Cantơ đã đặt giới hạn nhận thức của con người trước
“vật tự nó” nhưng quan điểm này của ông lại chứa đựng một ý nghĩa nhất
định, nó đã đặt ra vấn đề về tính phức tạp, đầy nghịch lý của quá trình con
người nhận thức thế giới cũng như mối quan hệ “con người- thế giới” nói
chung.
Thứ hai, dựa trên khuynh hướng duy lý của Đềcáctơ, Lépnít và khoa học
tự nhiên thế kỷ XVII- XVIII, hơn ai hết, ông nhận thấy vai trò đặc biệt của tri
thức lý luận đối với khoa học với hai đặc tính là phổ quát và tất yếu, coi đây
là nền tảng của quá trình nhận thức chân lý của con người, vì vậy Cantơ coi
nhiệm vụ cơ bản của triết học lý luận là luận chứng các mệnh đề tiên nghiệm
tổng hợp có được như thế nào. Tức là làm rõ các tri thức lý luận của khoa học
có được như thế nào. Việc xác định nhiệm vụ cơ bản của triết học nhằm luận

14
chứng cơ sở của tri thức lý luận một cách có hệ thống là một trong những
thành tựu vĩ đại của triết học Cantơ.
Thứ ba, trong triết học lý luận của mình Cantơ cho rằng nhận thức luận
không phải là nghiên cứu quá trình nhận thức của con người, khám phá ra bản

Trong tác phẩm lớn “Hiện tượng học tinh thần” của mình Hêghen đề cao
vai trò của nhận thức khái niệm, coi nó là dạng nhận thức cao nhất của con
người, vì chỉ có khái niệm mới đi sâu vào bản chất của sự vật, khái niệm là
linh hồn của sự vật. Để đạt đến nhận thức sự vật bằng khái niệm thì con người
cần phải có tư duy lôgíc khái niệm. Điều đáng chú ý là, với chủ nghĩa duy lý,
Hêghen đã cố gắng giải quyết vấn đề Cantơ đã đặt ra- vấn đề không nhận thức
được bằng khoa học “vật tự nó”, bằng cách đồng nhất giữa hai yếu tố chủ thể
và khách thể, theo ông, chân lý không chỉ là thực thể mà còn là chủ thể đầy
sống động. Con người vừa là chủ thể vừa là kết quả của quá trình hoạt động
của mình. Chính trong quá trình nhận thức và cải biến thế giới tự nhiên, tư
duy và trí tuệ của con người mới hình thành, đó là một quá trình liên tục phát
triển, vì vậy chân lý là sự thống nhất giữa giữa tinh thần và vật chất.
Hêghen ý thức được rằng hạn chế này của Cantơ xuất hiện không phải là
một điều ngẫu nhiên, nó tất yếu được suy ra từ các lý do sau: thứ nhất, đó là
sự không thể khắc phục được sự phân định giữa chủ thể và khách thể. Cantơ
không cho phép có khả năng hợp nhất giữa chúng do vậy, khách thể ở ông
bao giờ cũng là cái không đạt tới được, không nhận thức được đối với chủ
thể; thứ hai, Cantơ thừa nhận khoa học tự nhiên lý thuyết là mẫu mực của
“khoa học”. Đối với khoa học tự nhiên này thì sự đối lập giữa chủ thể và
khách thể là thực sự không thể khắc phục được. Hêghen đi tìm sự đồng nhất
giữa chủ thể và khách thể, xác lập sự đồng nhất này trong quá trình nhận thức.
Chủ thể và khách thể không còn là bên ngoài đối với nhau, mà thâm nhập lẫn
nhau, sống cuộc sống của nhau.
Tuy nhiên, với hệ thống triết học duy tâm, Hêghen đã vấp phải một hạn
chế khi tuyệt đối hóa vai trò của bản thân tư duy, sự thống nhất giữa chủ thể
và khách thể, giữa tinh thần và vật chất cuối cùng được ông quy lại thành quá

16
trình vận động của “tinh thần tuyệt đối” không cứng đờ mà luôn sống động và
chuyển hóa liên tục. Điều này có nghĩa rằng, triết gia lớn người Đức đã kiên

hình thức biểu hiện con buôn -bẩn thỉu của nó mà thôi”[34, tr.370].
Ph.Ăngghen đã nhận xét rằng, Phoiơbắc đã đạt đến quan điểm duy vật triệt để
trong nhận thức về tự nhiên nhưng lại không đạt đến quan điểm như vậy về
lịch sử. Và chính Phoiơbắc đã tuyên bố: “Đi lùi lại đằng sau, tôi hoàn toàn
nhất trí với các nhà duy vật chủ nghĩa, nhưng tiến lên phía trước, tôi không
nhất trí với họ”[23, tr.305]
Nhưng ưu điểm mà chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc đã đem đến là một ý
nghĩa khoa học thực sự cho phép biện chứng nói riêng, cho triết học Mác nói
chung. Xét ở khía cạnh này thì không thể từ chối công lao của Phoiơbắc:
“Phoiơbắc là nhà tư tưởng duy nhất mà chúng ta nhận thấy có thái độ nghiêm
túc, phê phán đối với phép biện chứng của Hêghen; chỉ có ông mới có những
phát hiện chân chính trong lĩnh vực ấy và nói chung đã thực sự khắc phục
triết học cũ. Tầm vĩ đại của cái mà Phoiơbắc đã làm, tính giản dị khiêm tốn
của ông khi ông phát biểu trước thế giới tương phản một cách lạ lùng với cái
mà người ta nhận thấy về phương diện này ở những nhà phê phán”[27, tr.219]
Như vậy, triết học cổ điển Đức với đỉnh cao là phép biện chứng duy tâm
của Hêghen và chủ nghĩa duy vật trực quan là hai tiền đề triết học cơ bản cho
sự ra đời và phát triển lý luận nhận thức duy vật biện chứng. Chính nhờ việc
khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũ mà Mác đã xây dựng được
nguyên tắc cơ bản đầu tiên của lý luận nhận mácxít- nguyên tắc duy vật biện
chứng ngay ở những tác phẩm đầu tiên trong giai đoạn hình thành của nó
(1843-1846). Thêm một lần nữa, đánh giá cao về vai trò phép biện chứng duy
tâm của Hêghen, C.Mác trong bộ “Tư Bản” đã viết: “Tính chất thần bí mà
phép biện chứng đã mắc phải trong tay Hêghen- tuyệt nhiên không ngăn cản
Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức
những hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy. Ở Hêghen, phép
biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện
được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau lớp vỏ thần bí”[38, tr.35].

18

19
XVII-XVIII làm cho “quan niệm mới về giới tự nhiên được hoàn thành trên
những nét cơ bản: tất cả cái gì cứng nhắc đều bị tan ra, tất cả cái gì là cố định
đều biến thành mây khói, và tất cả những gì đặc biệt mà người ta cho là tồn
tại vĩnh cửu thì đã trở thành nhất thời; và người ta đã chứng minh rằng toàn
bộ giới tự nhiên đều vận động theo một dòng và một tuần hoàn vĩnh
cửu”[15,tr.471]. Đến lượt mình khoa học tự nhiên không thể tiếp tục phát
triển nếu “ không từ bỏ tư duy siêu hình mà quay trở lại với tư duy biện
chứng, bằng cách này hay cách khác”[15,tr.490]. Nhưng nếu tư duy biện
chứng ở triết học cổ đại chỉ mới là một trực kiến thiên tài “thì đối với chúng ta
nó là kết quả của một công trình nghiên cứu khoa học chặt chẽ dựa trên kinh
nghiệm và vì vậy nó thể hiện ra dưới một hình thức dứt khoát và rõ ràng hơn
nhiều”[15, tr.471]. Sự phát triển của khoa học tự nhiên lúc này chứng tỏ một
điều là đã đến lúc phải xây dựng một nhận thức triết học độc lập- nhận thức
triết học duy vật biện chứng.
Như vậy lịch sử nhận thức luận mácxít đã ra đời như một tất yếu lịch sử
không những vì nó là sự phản ánh đòi hỏi của thực tiễn xã hội, mà còn là đòi
hỏi phải giải đáp được chính xác vấn đề mà nhân loại đang đặt ra: “con người
có khả năng nhận thức được thế giới hay không ?” Có thể khẳng định, người
đầu tiên có công lao to lớn trong việc đặt ra và đã giải quyết ở mức độ nhất
định, vấn đề xây dựng một cơ sở khoa học cho nhận thức về tự nhiên, về vũ
trụ nói chung là Cantơ: “Cantơ đã mở đầu sự nghiệp khoa học của ông bằng
việc biến thái dương hệ vĩnh viễn và bất biến của Newtơn,- sau khi đã có cái
hích đầu tiên nổi tiếng kia,- thành một quá trình lịch sử: đó là quá trình xuất
hiện mặt trời và tất cả mọi hành tinh từ khối tinh vân đang xoay chuyển. Từ
đó, ông đã rút ra được cái kết luận là sự nảy sinh của thái dương hệ cũng giả
định sự tiêu vong tất yếu của nó trong tương lai”[18, tr.39]. Cantơ đã nhận ra
vai trò hết sức quan trọng của nhận thức lý tính với đặc trưng cơ bản là quá
trình tổng hợp. Còn người bắt tay vào giải đáp vấn đề đó với một quy mô, tầm
vóc hết sức to lớn chính là Hêghen. Mặc dù trên cơ sở duy tâm, nhưng triết

cố gắng vượt ra ngoài giới hạn quan niệm một bên là của Hêghen và một bên

21
là của phái Hêghen trẻ về vấn đề quan hệ của tư duy đối với hiện thực xung
quanh bên ngoài.
Nếu Hêghen quả quyết rằng tư duy phù hợp với tồn tại vì nó có ý thức
đầy đủ về bản chất sáng tạo của bản thân nó “cái gì hợp lý thì hiện thực và cái
gì hiện thực thì hợp lý”, thì Mác đại diện cho phái Hêghen trẻ đã đem lý tính
phê phán đối lập với thế giới “chưa được phê phán”, cho rằng mâu thuẫn giữa
ý thức có tính chất phê phán và tồn tại, xét đến cùng, là biến đổi tồn tại một
cách hợp lý, nâng tồn tại lên trình độ yêu cầu của lý tính. Sự thống nhất của ý
thức về hiện thực bên ngoài theo Mác cần phải trải qua những trình độ khác
nhau: sự hòa hợp; kết quả của sự phát triển của sự tự ý thức được thay thế
bằng một cuộc xung đột rất sâu sắc, cuộc xung đột này không thể giải quyết
bằng con đường lý luận (con đường phê phán) mà phải bằng thực tiễn.
Những lập luận này của Mác còn xa với quan niệm duy vật về ý thức và
sự tự ý thức với tính cách là những quan hệ nhất định của chủ thể đối với hiện
thực khách quan. Nhưng ở đây đã chứa đựng mầm mống của quan niệm sâu
sắc về mối tương quan biện chứng giữa hoạt động có ý thức của con người
với những tiền đề khách quan và kết quả của hoạt động đó, hay nói cách khác
mầm mống về mối tương quan giữa lý luận và thực tiễn, một trong những nội
dung của lý luận nhận thức duy vật biện chứng đã xuất hiện.
Mùa xuân năm 1843 “Báo sông Ranh” bị chính phủ Phổ đóng cửa vì
tuyên truyền tư tưởng cách mạng. Mác rời Côlônhơ đi Cơraixơnắc. Ở đây ông
chuyên chú nghiên cứu lịch sử hiện đại nhất là lịch sử cách mạng tư sản Pháp
1789-1794, đọc tác phẩm của các nhà duy vật Pháp như Rútxô, Môngtexkiơ
và chẳng bao lâu tiến tới chỗ xét lại triết học pháp quyền của Hêghen một
cách có phê phán. Nhờ công tác ở “Báo sông Ranh” ông thấy rõ ràng là cần
phải xét lại triết học đó. Kết quả của hoạt động đó của Mác được thể hiện
trong tác phẩm lớn đầu tay của Mác là “Góp phần phê phán triết học pháp

được xây dựng phù hợp với yêu cầu của cuộc đấu tranh cách mạng của giai
cấp vô sản. Ông viết “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật
chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của

23
mình, và chỉ cần sấm sét của tư tưởng đánh một cách triệt để vào mảnh đất
nhân dân còn nguyên vẹn ấy là việc giải phóng người Đức thành con người sẽ
hoàn thành”; “ sự giải phóng người Đức là sự giải phóng con người. Đầu não
của sự giải phóng ấy là triết học, trái tim của nó là giai cấp vô sản. Triết học
không thể trở thành hiện thực nếu không xóa bỏ bản thân mình, nếu không
làm cho triết học biến thành hiện thực”[30, tr.589-590]
Đối với ông, lý luận không chỉ có nhiệm vụ nhận thức ra yêu cầu, địa vị
lịch sử của quần chúng nhân dân, mà còn phải có khả năng thâm nhập vào
quần chúng và trở thành lực lượng vật chất. Cần phải thấy rằng, với luận điểm
trên Mác đã nói cụ thể đến sự thống nhất giữa lý luận cách mạng và thực tiễn
cách mạng của giai cấp vô sản, chứ không phải đề cập đến sự thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn nói chung. Dĩ nhiên, việc xác lập nguyên tắc này không
những nhằm định hướng cho sự đề xuất những tư tưởng triết học trong tác
phẩm mà còn là cho cả quá trình sáng tạo triết học Mác, chủ nghĩa Mác.
Sau những tác phẩm đầu tiên có ý nghĩa quan trọng, quan điểm cơ bản
đầu tiên để xây dựng lý luận nhận thức mácxít tiếp tục được C.Mác,
Ph.Ăngghen xác lập chắc chắn và rõ ràng trong “Bản thảo kinh tế triết học-
1844”, “Gia đình thần thánh hay là phê phán sự phê phán có tính phê phán
chống Bru-nô Bauơ và đồng bọn” qua việc đưa ra tư tưởng về lao động để
phê phán toàn diện phép biện chứng duy tâm của Hêghen, chuyển sự phê
phán này thành sự phê phán chủ nghĩa duy tâm nói chung một cách hoàn bị
nhất và có hệ thống nhất. Các ông kiên quyết phê phán toàn bộ triết học duy
tâm trước kia với đặc điểm của nó là đem đối lập lý luận với thực tiễn, tư biện
với khoa học thực nghiệm, triết lý trừu tượng với tính đảng; khẳng định vai
trò của lợi ích là yếu tố tạo ra động lực để quần chúng nhân dân thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status