Lý luận nhận thức của Chủ nghĩa duy vật biện chứng tt - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG THỊ HẠNH

LÝ LUẬN NHẬN THỨC CỦA CHỦ NGHĨA
DUY VẬT BIỆN CHỨNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội- 2011
Mục Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài…………………………………… 01
2 Tình hình nghiên cứu………………………………………….02
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………….……… 10
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu…………………… 10
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu………………… 10
6 Đóng góp mới về khoa học………………………… 10
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn….……………… 11
8 Kết cấu của luận văn………………………………………… 11
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1
Sự hình thành và phát triển lý luận nhận thức của
C.Mác và Ph.Ăngghen
1.1 Tiền đề lịch sử của sự hình thành lý luận nhận thức của Mác
và Ăngghen
1.1.1 Tiền đề triết học………………………………………………13
1.1.2 Tiền đề khoa học tự nhiên ………………………………… 18
1.2 Sự hình thành những quan điểm về nhận thức của Mác và
Ăngghen (giai đoạn 1843-1846)……………….…………………………….20
1.3 Mác và Ăngghen phát triển lý luận nhận thức
1.3.1 Mác và Ăngghen phát triển lý luận nhận thức trong nghiên
cứu kinh tế chính trị học……………………………………………………30
1.3.2 Ph.Ăngghen phát triển nhận thức luận mácxít trong nghiên
cứu khoa học tự nhiên………………………………………………………43
1.3.3 C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển học thuyết về nhận thức
trong một số tác phẩm khác………………………………………………49
Chương 2
V.I Lênin phát triển lý luận nhận thức của
chủ nghĩa duy vật biện chứng

Cùng với phép biện chứng, lôgíc học, nhận thức luận mácxít có vai trò đặc biệt quan trọng đối với
việc xây dựng, khái quát và giải thích đúng đắn những thành tựu mới của khoa học. Ngày nay khi khoa
học tự nhiên đang ra sức tìm kiếm một lý luận khái quát mới, những tư tưởng mới thì việc chú ý đến
những vấn đề phương pháp luận là đặc biệt quan trọng. Đó là khả năng tổng hợp ở trình độ cao, khả năng
nắm bắt và vận dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt, sáng tạo các nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện
chứng với tư cách phương pháp luận và nguyên tắc chung mà tư duy phải tuân theo trong nhận thức và
giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
Trong thời đại phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức, vai
trò của nhận thức luận đã tăng lên hơn bao giờ hết. Việc hiểu đúng và nắm vững lý luận nhận thức mácxít
là một điều kiện cần thiết để xem xét bản chất của đối tượng, đạt được những hiểu biết khái niệm, lý luận
khoa học về đối tượng, góp phần giải quyết được những vấn đề của thực tiễn. Thiết nghĩ việc quay trở về
với lịch sử phát triển tư tưởng của các nhà kinh điển về nhận thức là một điều cần thiết đối với những ai đã
và đang tham gia vào hoạt động lý luận. Chính vì lý do đó mà chúng tôi đã chọn đề tài Lý luận nhận thức
của chủ nghĩa duy vật biện chứng làm đề tài nghiên cứu của mình.
Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung chính gồm 2 chương và 6 tiết, phần kết luận và lịch sử các
tài liệu tham khảo.

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH

2
CHƯƠNG 1
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN NHẬN THỨC CỦA C.MÁC VÀ
PH.ĂNGGHEN


đủ. Trong số các nhà triết học hiện đại, phải kể đến Hium và Cantơ là những người đã đóng một vai trò rất
lớn trong sự phát triển của triết học”[23,tr.406]
Và đặc biệt là vai trò của phép biện chứng trong triết học Hêghen biểu hiện ra là lý luận nhận thức
và là hình thức cao nhất của lôgíc học, của tư duy lôgíc trước Mác. Lập trường duy tâm của Hêghen đã
cho rằng không phải ý thức, tư tưởng phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của tự nhiên và xã hội

3
mà ngược lại tự nhiên, xã hội phát triển trong sự phụ thuộc vào tư duy khách quan, tinh thần thế giới.
Song, với những đóng góp vào thành tựu vĩ đại của tư duy nhân loại, Hêghen xứng đáng là một nhà bách
khoa lúc đó. Đánh giá về vai trò của triết học Hêghen đặc biệt là Khoa học Lôgíc đối với triết học Mác,
V.I Lênin viết: “không thể hoàn toàn hiểu được “Tư bản” của C.Mác và đặc biệt là chương I của sách đó,
nếu chưa nghiên cứu kỹ và chưa hiểu toàn bộ Lôgic của Hêghen”[45,tr.190]
Sau triết học cổ điển Đức, không thể bỏ qua vai trò của triết học duy vật trước Mác đối với sự hình
thành và phát triển học thuyết Mác vể nhận thức. Chính nhờ việc khắc phục những hạn chế chủ nghĩa duy
vật trực quan thế kỷ XVII- XVIII mà Mác đã cải tạo có hệ thống phép biện chứng duy tâm của Hêghen,
xây dựng nó thành phép biện chứng thực sự khoa học là phép biện chứng duy vật.
Nhưng ưu điểm mà chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc đã đem đến là một ý nghĩa khoa học thực sự
cho phép biện chứng nói riêng, cho triết học Mác nói chung. Xét ở khía cạnh này thì không thể từ chối
công lao của Phoiơbắc: “Phoiơbắc là nhà tư tưởng duy nhất mà chúng ta nhận thấy có thái độ nghiêm túc,
phê phán đối với phép biện chứng của Hêghen; chỉ có ông mới có những phát hiện chân chính trong lĩnh
vực ấy và nói chung đã thực sự khắc phục triết học cũ. Tầm vĩ đại của cái mà Phoiơbắc đã làm, tính giản
dị khiêm tốn của ông khi ông phát biểu trước thế giới tương phản một cách lạ lùng với cái mà người ta
nhận thấy về phương diện này ở những nhà phê phán”[27, tr.219]
Như vậy, triết học cổ điển Đức với đỉnh cao là phép biện chứng duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa
duy vật trực quan là hai tiền đề triết học cơ bản cho sự ra đời và phát triển lý luận nhận thức duy vật biện
chứng. Chính nhờ việc khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũ mà Mác đã xây dựng được
nguyên tắc cơ bản đầu tiên của lý luận nhận mácxít- nguyên tắc duy vật biện chứng ngay ở những tác
phẩm đầu tiên trong giai đoạn hình thành của nó (1843-1846). C.Mác, Ph.Ăngghen trên cơ sở kế thừa
những thành tựu của các bậc tiền bối, phê phán và khắc phục những hạn chế của các ông, đã thực hiện một
cuộc cách mạng trong lịch sử triết học nói chung, trong lịch sử nhận thức luận nói riêng, xây dựng lên một

này chứng tỏ một điều là đã đến lúc phải xây dựng một nhận thức triết học độc lập- nhận thức triết học
duy vật biện chứng.
1.2 Sự hình thành những quan điểm về nhận thức của Mác và Ăngghen (giai đoạn 1843-
1846)
Cuộc cách mạng do Mác và Ăngghen thực hiện trong triết học và việc các ông cải tạo có phê phán
những thành tựu trước kia của tư tưởng loài người không phải là những nhiệm vụ khác nhau, bài trừ lẫn
nhau. Trái lại, như Lênin đã nhấn mạnh: “Tất cả thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp những
vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của loài người đã đặt ra”[46,tr.3]
Giai đoạn này là sự hình thành những nguyên tắc cơ bản đầu tiên quan trọng, mang tính tư tưởng
sâu sắc, có ý nghĩa đặt nền móng cho toàn bộ quá trình sáng tạo và phát triển hệ thống lý luận nhận thức.
Những quan điểm xuất phát này cho thấy Mác đã từng bước thoát khỏi sự chi phối của nền triết học cũ,
hình thành nên một thế giới quan mới gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn chính trị- xã hội.
Các tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn này có thể kể đến: “Lời nói đầu của Góp phần phê phán triết học
pháp quyền của Hêghen”, “Bản thảo kinh tế triết học- 1844”, “Gia đình thần thánh hay là phê phán sự phê
phán có tính phê phán chống Bru-nô Bauơ và đồng bọn”, “Hệ tư tưởng Đức”, “ Bức thư Mác gửi P.V
Annencốp ngày 28 tháng Chạp năm 1846”,“ Sự khốn cùng của triết học”; và “Tuyên ngôn của Đảng cộng
sản”.
Trong việc đề xuất những tư tưởng đầu tiên về nhận thức Mác đã khẳng định vai trò của lý luận
triết học mà cụ thể là lý luận cách mạng trong “Lời nói đầu của Góp phần phê phán triết học pháp quyền
của Hêghen”. Với tác phẩm này nguyên tắc căn bản của lý luận nhận thức đã thể hiện rõ nội dung là một
trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận khoa học, đòi hỏi lý luận phải được xây dựng phù hợp với yêu
cầu của cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản. Ông viết “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản
là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình, và chỉ cần
sấm sét của tư tưởng đánh một cách triệt để vào mảnh đất nhân dân còn nguyên vẹn ấy là việc giải phóng
người Đức thành con người sẽ hoàn thành”; “ sự giải phóng người Đức là sự giải phóng con người. Đầu
não của sự giải phóng ấy là triết học, trái tim của nó là giai cấp vô sản. Triết học không thể trở thành hiện
thực nếu không xóa bỏ bản thân mình, nếu không làm cho triết học biến thành hiện thực”[30,tr.589-590]

5
Đối với ông, lý luận không chỉ có nhiệm vụ nhận thức ra yêu cầu, địa vị lịch sử của quần chúng

tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một
vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý,
nghĩa là chứng minh tính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy mình. Sự tranh cãi về tính hiện
thực hay tính không hiện thực của tư duy tách rời thực tiễn, là một vấn đề kinh viện thuần túy”[34,tr.375].
Ở đây nhận thức phải chứng tỏ ý nghĩa, “sức mạnh”, tính chân lý của nó trong thực tiễn, nói cách khác,
nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn và phải được vận dụng, kiểm nghiệm trong thực tiễn. Nhờ xác định
được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, Mác đã xác định được chức năng của triết học là cải tạo thế
giới: Các nhà triết học chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau nhưng vấn đề là cải tạo thế giới.

6
Và như vậy với quan điểm về thực tiễn thì một trong những nội dung cơ bản của lý luận nhận thức duy vật
đã được xác định rõ ràng.
Vậy là, từ hoạt động thực tiễn chính trị, từ hoạt động báo chí, từ chỗ nhận ra được mối liên hệ thực
sự giữa triết học và thực tiễn, giữa tư tưởng và khát vọng về một nền triết học mới, Mác đã đặt cơ sở cho
lý luận nhận thức- nhận thức luận duy vật. Nhận thức này được xác lập từ việc lật ngược quan niệm của
Hêghen về mối liên hệ giữa nhà nước, gia đình và xã hội công dân thể hiện trong hai tác phẩm đầu tiên
đến việc làm rõ những quan niệm về con người, xã hội, về “lao động tha hóa”, đặc biệt việc hoàn thiện
những phạm trù về kinh tế như lợi ích, sản xuất vật chất, phương thức sản xuất, khái niệm “hình thức xã
hội” trong Hệ tư tưởng Đức đã cho thấy những tư tưởng duy vật khoa học về lịch sử đã được hình thành
với tư cách một hệ thống lý luận khoa học, và do đó tính chặt chẽ, rõ ràng cho việc tiến đến xây dựng một
lý luận nhận thức duy vật có cơ sở bền chặt của nó. Bên cạnh đó, nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho việc xác
lập quan điểm duy vật là cải tạo phép biện chứng của Hêghen trên lập trường duy vật, vì vậy có thể khẳng
định rằng, cùng với những tư tưởng mới về nhận thức thì sự hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử đã
không tách rời chủ nghĩa duy vật biện chứng tuy chúng không hoàn toàn trùng khít về thời gian, điều đó
cũng có nghĩa là lý luận nhận thức của triết học Mác luôn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với phép biện
chứng duy vật, và với quan niệm duy vật về lịch sử.
Đánh giá của Ph.Ăngghen về “Luận cương về Phoiơbắc”: “ Đó là những bút ký vội vàng để còn
nghiên cứu thêm, chứ tuyệt nhiên không phải để in, nhưng đó là những luận cương vô cùng quý giá, vì đó
là văn kiện đầu tiên chứa đựng mầm mống thiên tài của một thế giới quan mới”[25,tr.527-528] đã cho
thấy quá trình đề xuất những tư tưởng triết học mới về lịch sử làm tiền đề cho việc xây dựng hệ thống

giới theo phương thức riêng vốn có của nó, theo một phương thức khác với phương thức quán triệt thế
giới này của nghệ thuật, tôn giáo, tinh thần thực tiễn”[32,tr.878]; và “ngay cả trong phương pháp lý luận,
chủ thể, xã hội phải thường xuyên có mặt trong quan niệm của chúng ta như là một tiền đề”[32,tr.878]
Mác cho thấy phương pháp này đòi hỏi trước hết là phải tìm ra cái trừu tượng làm điểm xuất phát
để từ đó tư duy tiến lên nắm đối tượng trong tính chỉnh thể, toàn vẹn của nó. Cái trừu tượng xuất phát đó
trong nghiên cứu của Mác chính là nền sản xuất vật chất tư bản chủ nghĩa, để rồi sau đó ông xem xét toàn
bộ sự vận động của hình thái kinh tế- xã hội tư bản chủ nghĩa với kết cấu chung tất yếu của nó trong tính
nhiều mặt, nhiều yếu tố và các mối liên hệ. Từ đây, ông mới đi đến nhận thức về xã hội tư sản với những
đặc trưng cụ thể trong tính toàn vẹn của nó. Cái chỉnh thể này là cái cụ thể, là một “tổng thể phong phú
với rất nhiều tính quy định và quan hệ”: “xã hội tư sản là một tổ chức sản xuất phát triển nhất và đại diện
nhất trong lịch sử. Vì vậy, các phạm trù biểu thị những quan hệ của xã hội đó, kết cấu của xã hội đó, đồng
thời cũng cho ta cái khả năng hiểu thấu được kết cấu và các quan hệ sản xuất của tất cả các hình thái xã
hội đã diệt vong; xã hội tư sản đã được xây dựng lên trên những tàn dư và những yếu tố của những hình
thái xã hội ấy, một phần kéo theo sau nó những tàn dư còn chưa khắc phục được, một phần thì phát triển
đầy đủ tác dụng của những cái trước kia chỉ tồn tại dưới dạng một dấu hiệu báo trước mà thôi”[33,tr.71]
Ông viết thêm: “Cái cụ thể sở dĩ là cụ thể vì nó là sự tổng hợp của nhiều tính quy định, do đó, nó là
sự thống nhất của cái đa dạng. Cho nên trong tư duy, nó biểu hiện là một quá trình tổng hợp, là kết quả,
chứ không phải là điểm xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó cũng là điểm xuất phát
của trực quan và của biểu tượng. Trên con đường thứ nhất, toàn bộ biểu tượng biến một cách tinh vi thành
một tính quy định trừu tượng; trên con đường thứ hai, những tính quy định trừu tượng lại dẫn tới sự mô tả
lại cái cụ thể bằng con đường của tư duy”[32,tr.887]. Tại đây, con đường biện chứng của sự nhận thức với
đối tượng đặc thù là khoa kinh tế- chính trị đã được Mác vạch ra với hai giai đoạn, hai quá trình mà theo
cách gọi của Mác trong “Lời nói đầu” này thì quá trình đó phải trải qua hai con đường. Trên con đường
thứ nhất sự nhận thức bắt đầu từ những biểu tượng cảm tính ban đầu, được trừu tượng hóa và khái quát
hóa bằng con đường thứ hai, hiện ra với tư cách là cái cụ thể trong tính đầy đủ, trọn vẹn. Con đường thứ
hai đó của nhận thức được Mác coi như là trình độ lý luận cao hơn của quá trình nhận thức khoa học, vì
việc nhận thức một cách khoa học cái cụ thể, cái hoàn chỉnh, cái thống nhất trong vô số biểu hiện của quá
trình lịch sử của cái đó không thể thực hiện được một cách trực tiếp trong giai đoạn thứ nhất của việc
nghiên cứu nó, mà phải bước sang giai đoạn thứ hai của quá trình đó- giai đoạn nhận thức cái cụ thể trong


nói đến cái xã hội đó với tư cách là một xã hội như thế. Cần phải nắm vững điều đó, bởi vì nó cung cấp
ngay những lý do có tính chất quyết định để phân chia đối tượng”[32, tr885]
Phương pháp lôgíc cũng như nguyên tắc thống nhất giữa lôgíc và lịch sử không những có liên hệ
chặt chẽ với phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể mà còn hòa thành một khối với nó, phản ánh đối
tượng trong hệ thống phạm trù lôgích, trong quá trình vận động biện chứng của tư tưởng đi từ trừu tượng
đến cụ thể. Do vậy, việc nghiên cứu các phạm trù kinh tế trong xã hội tư sản phải được bắt đầu từ mối
quan hệ qua lại của chúng chứ không phải là trình tự lịch sử phát triển của chúng, các quan hệ phát triển
hơn có thể tồn tại về mặt lịch sử trước các quan hệ giản đơn, Mác nhấn mạnh: “Sắp xếp các phạm trù kinh
tế theo cái trình tự mà chúng đóng vai trò quyết định trong lịch sử, là một điều không thể được và sai
lầm”[32,tr.886]. Mác không theo sự dẫn dắt bởi trình tự lịch sử, mà bởi trình tự lôgíc.

9
Nội dung phương pháp luận của lý luận nhận thức tiếp tục được bổ sung trong nghiên cứu kinh tế
chính trị với các tác phẩm “ Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, “ C.Mác. Góp phần phê phán
khoa kinh tế chính trị”, đặc biệt là trong “Tư bản” một công trình nghiên cứu về kinh tế vĩ đại nhất của
nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học.
Trước hết, Mác tiếp tục phát triển một cách sáng tạo trong “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính
trị” và “Tư bản” nội dung phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, từ cái cụ thể bậc nhất đến cái cụ thể
bậc hai trên cơ sở sự thống nhất của phân tích và tổng hợp, của quy nạp và diễn dịch. Ở đây, Mác đồng
thời cải tạo một cách duy vật tư tưởng của Hêghen về sự đi lên từ cái trừu tượng đến cái cụ thể, sau khi đã
rút ra cái hạt nhân hợp lý trong tư tưởng đó, gạt bỏ cái vỏ thần bí, áp dụng tư tưởng ấy vào quá trình phản
ánh được quan niệm một cách biện chứng.
Sau khi giải quyết vấn đề điểm xuất phát của việc nghiên cứu kinh tế chính trị là hàng hóa, Mác xác
minh tính tất yếu của sự tiến lên về mặt lý luận từ cái trừu tượng đến cái cụ thể, từ cái đơn giản đến cái
phức tạp. Để nghiên cứu đối tượng trong tất cả tính cụ thể của nó, nghĩa là trong mọi liên hệ và quan hệ
của nó, tất nhiên phải tạm thời gạt bỏ tính muôn vẻ của những quan hệ vốn có của nó và nghiên cứu nó
dưới dạng thuần túy rồi sau đó chuyển sang nghiên cứu nó trong mọi liên hệ của nó với các hiện tượng
khác. Chẳng hạn, trước khi phân tích sản xuất tư bản chủ nghĩa trong sự thống nhất của nó với sự lưu
thông hàng hóa, lúc đầu Mác chỉ nghiên cứu sự sản xuất trên đại thể (tập I của bộ Tư bản) rồi ông nghiên
cứu sự lưu thông tư bản chủ nghĩa trong hình thức chung tách riêng khỏi sản xuất (tập II của bộ Tư bản)

hợp, quy nạp và diễn dịch ở Mác biểu hiện ra như những cái giống với những quá trình xảy ra trong bản
thân hiện thực (sự phân chia cái toàn bộ thành từng bộ phận, sự tổng hợp các bộ phận thành cái toàn bộ
và….) nghĩa là phản ánh những quá trình khách đó. Mác viết: “….Tiến trình của tư duy trừu tượng đi từ
cái đơn giản nhất lên cái phức tạp là phù hợp với quá trình lịch sử hiện thực”[32,tr.880]
Sau nữa, trong khi nghiên cứu tính quy luật khách quan của sự phát triển chủ nghĩa tư bản, Mác chỉ
ra rằng sự nghiên cứu lôgíc quá trình lịch sử chỉ dẫn tới sự nhận thức nó một cách thực sự khi sự nghiên
cứu ấy phản ánh quá trình lịch sử những giai đoạn cơ bản của nó một cách tuần tự như tình hình diễn ra
trong hiện thực khách quan. Về mối liên hệ này Ph.Ăngghen viết: “lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư
duy cũng phải bắt đầu từ đó, và sự vận động tiếp tục của nó chẳng qua là sự phản ánh quá trình lịch sử
dưới một hình thái trừu tượng và nhất quán về lý luận; nó là sự phản ánh đã được uốn nắn, nhưng là uốn
nắn theo những quy luật mà bản thân quá trình lịch sử hiện thực đã cung cấp, hơn nữa mỗi yếu tố đều có
thể được xem xét ở cái điểm phát triển mà ở đó quá trình đạt tới chỗ hoàn toàn chín muồi, đạt tới cái hình
thái cổ điển của nó”[21,tr.614-615]
Tác phẩm “Tư bản” là kiểu mẫu sáng ngời của phương pháp nghiên cứu lôgíc. Theo Mác, khi
nghiên cứu sự phát triển của khách thể nằm trong một giai đoạn phát triển nhất định của nó, không nên
nắm các yếu tố đang tác động qua lại trong kết cấu của nó theo trình tự là chúng đã xuất hiện trong tiến
trình lịch sử phát sinh, hình thành của khách thể như thế nào, mà cần phải xuất phát từ chỗ là những yếu tố
ấy chiếm vị trí như thế nào trong sự vận động và phát triển trên giai đoạn hiện tại của khách thể. Cụ thể
hơn, khi nghiên cứu mối quan hệ giữa tư bản- địa tô, Mác nói rằng thoạt nhìn không có gì tự nhiên hơn là
bắt đầu phân tích sản xuất tư bản chủ nghĩa từ địa tô, từ sở hữu ruộng đất bởi vì nó gắn liền với ruộng đất,
là nguồn gốc của mọi sản xuất, của mọi tồn tại, và với nông nghiệp là hình thái sản xuất đầu tiên. Nhưng
Mác lại cảnh báo rằng, không có gì sai lầm hơn thế? Dưới chủ nghĩa tư bản vấn đề đã bị thay đổi một cách
căn bản. Ở đây, tư bản đó là lực lượng kinh tế thống trị tất cả, còn sản xuất công nghiệp cũng chiếm địa vị
thống trị và chi phối tất cả các ngành sản xuất khác. Địa tô cũng bị chi phối bởi tư bản, phục tùng tư bản,
ngày càng biểu hiện là phạm trù phái sinh và thứ hai so với phạm trù tư bản, nó dần dần trở thành phạm
trù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa- địa tô tư bản chủ nghĩa. Trường hợp tương tự cũng diễn ra
khi phân tích lôgíc các phạm trù: tư bản công nghiệp- tư bản thương nghiệp- tư bản tiền tệ. Mác chỉ ra
rằng quan hệ giữa những phạm trù ấy trong kết cấu nội tại của xã hội tư bản không phù hợp với sự phát
triển lịch sử của những phạm trù ấy, sự phát triển này lại diễn ra theo trình tự ngược lại: tư bản thương
nghiệp- tư bản cho vay- tư bản công nghiệp.

những luận điểm quan trọng nhất của khoa học đó, những luận điểm này khái quát, tổng kết lịch sử của
đối tượng được nghiên cứu và lịch sử của khoa học nghiên cứu đối tượng ấy. Chính trị kinh tế học do Mác
sáng lập ra khái quát một cách sâu sắc nhất về mặt lý luận lịch sử của chủ nghĩa tư bản và đồng thời cũng
cải tạo một cách có phê phán toàn bộ lịch sử của khoa kinh tế qua nghiên cứu hình thái tư bản chủ nghĩa.
Trên cơ sở tài liệu của lịch sử chủ nghĩa tư bản và của lịch sử chính trị- kinh tế học coi như một
khoa học, Mác đã xác minh về mặt lý luận luận điểm về sự thống nhất giữa phép biện chứng duy vật, lôgíc
học và nhận thức luận. Trong bài “Các Mác” Lênin viết: “Trong quan niệm của Mác, phép biện chứng bao
hàm trong nó cái mà ngày nay người ta gọi là lý luận về nhận thức, nhận thức luận, lý luận này cũng phải
nghiên cứu đối tượng của mình một cách lịch sử, bằng cách nghiên cứu và khái quát nguồn gốc và sự phát
triển của nhận thức, của sự chuyển biến từ không biết đến biết”[48, tr.38]. Phép biện chứng, lôgíc học và
nhận thức luận của chủ nghĩa Mác gắn liền với lịch sử của nhận thức mà chúng ta nghiên cứu, khái quát,
tổng kết. Tất cả những cái đó chứng tỏ rằng “Tư bản” và những tác phẩm kinh tế của Mác đồng thời chính
là những công trình nghiên cứu thiên tài về triết học, trong đó những quy luật và những phạm trù quan

12
trọng nhất của phép biện chứng duy vật được nghiên cứu, những nguyên lý của nhận thức luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng được xác minh một cách khoa học.
Sau khi tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” của Mác ra đời, Ăngghen đã có bài
viết về tác phẩm này với tựa đề “C.Mác- Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”. Tại đây những nội
dung, ưu điểm và hạn chế của hai phương pháp là lịch sử và lôgíc được vận dụng trong kinh tế chính trị
học đã được Ph.Ăngghen chỉ ra, đồng thời ông cũng cho thấy sự bổ sung lẫn nhau giữa chúng. Ông viết:
“Việc phê phán khoa kinh tế chính trị, ngay cả theo phương pháp đã được xây dựng, vẫn có thể tiến hành
bằng hai cách: lịch sử hoặc lôgíc. Vì trong lịch sử cũng như trong phản ánh của lịch sử trên sách báo, tiến
trình phát triển, xét về toàn bộ, cũng đi từ những quan hệ đơn giản nhất đến những quan hệ phức tạp hơn,
nên tiến trình phát triển lịch sử của các trước tác kinh tế chính trị học cũng đem lại sợi dây chỉ đạo tự
nhiên mà sự phê phán có thể đi theo; đồng thời các phạm trù kinh tế xét về toàn bộ, cũng xuất hiện theo
một trình tự y như trong tiến trình phát triển lôgíc vậy”[21,tr.614]
Ph.Ăngghen cũng giải thích nếu sử dụng riêng phương pháp lịch sử thì “sẽ làm cho công việc trở
thành vô cùng tận”: “Lịch sử thường phát triển qua những bước nhảy vọt và những bước khúc khuỷu
quanh co, và nếu nhất định bất cứ ở chỗ nào cũng đều phải đi theo nó, thì không những sẽ phải nêu lên

cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX khoa học tự nhiên đã đạt được những thành tựu quan trọng mang
tính vạch thời đại. Đó là ba phát minh lớn: định luật bảo toàn vả chuyển hóa năng lượng, thuyết tế bào và
thuyết tiến hóa. Để hệ thống hóa những thành tựu của khoa học tự nhiên, chứng minh tính chất biện chứng
của nó, chứng minh cơ sở tự nhiên của triết học Mác, Ăngghen đã viết “Biện chứng của tự nhiên”. Trong
khi trình bày một cách rõ ràng và có hệ thống những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác ở cả hai tác
phẩm “Chống Đuyrinh” và “Biện chứng của tự nhiên”, những nội dung về lý luận nhận thức đã được bổ
sung và phát triển trong những hình thức mới bên cạnh những nội dung về phép biện chứng duy vật và
quan điểm duy vật lịch sử cơ bản.
Trước hết, Ăngghen đề cập đến quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc và bản
chất của nhận thức trong “Chống Đuyrinh”. Theo Ăngghen nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực
khách quan vào trong đầu óc con người: “Tất cả những ý niệm đều rút ra từ kinh nghiệm, chúng là sự
phản ánh của hiện thực, những sự phản ánh trung thành hoặc méo mó”[17,tr.892]. Nguồn gốc của sự nhận
thức là thế giới bên ngoài “chứ không phải nảy sinh ra trong óc như một sự vật của tư duy thuần
túy”[18,tr.59]
Bàn đến thực tiễn với tư cách là một nội dung quan trọng của lý luận nhận thức, Ph.Ăngghen cho
rằng, mọi tri thức khoa học của con người suy đến cùng đều sinh ra từ nhu cầu của thực tiễn, khẳng định
vai trò của thực tiễn là cơ sở và động lực của nhận thức. Ông viết: “Cũng như tất cả các khoa học khác,
toán học sinh ra từ những nhu cầu thực tiễn của con người: từ việc đo diện tích các khoảnh đất và việc đo
dung tích của những bình chứa, từ việc tính toán thời gian và từ cơ học. Nhưng cũng như trong mọi lĩnh
vực của tư duy, đến một trình độ phát triển nào đó, những quy luật được rút ra bằng con đường trừu tượng
hóa từ thế giới hiện thực, cũng bị tách khỏi thế giới hiện thực, bị đem đối lập với thế giới hiện thực như là
một cái gì độc lập, như là những quy luật từ bên ngoài mà thế giới phải thích ứng theo”[18,tr.59]
Trong “Biện chứng của tự nhiên” Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng, chính việc con người cải biến tự
nhiên là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của sự phát triển trí tuệ của con người. Sự hình thành các
ngành khoa học cũng do sản xuất quy định: “Cần thiết phải nghiên cứu sự phát triển tuần tự của riêng từng
ngành khoa học tự nhiên. Trước hết là thiên văn học, một ngành đã vì thời tiết mà tuyệt đối cần thiết cho
những dân tộc chăn nuôi và làm ruộng. Thiên văn học chỉ có dựa vào toán học mới phát triển được. Do đó
mà người ta phải nghiên cứu cả toán học. Sau đó, đến một giai đoạn phát triển nhất định của nông nghiệp
và trong những khu vực nhất định (đưa nước lên để tưới ruộng ở Ai Cập), và nhất là cùng với sự phát triển
của thủ công nghiệp thì cơ học cũng phát triển theo. Chẳng bao lâu, cơ học lại trở nên cần thiết cho hàng

hạn nhất định, nó có thể chuyển hóa cho nhau nếu vượt qua giới hạn đó: “giữa chân lý và sai lầm, cũng
giống như tất cả những phạm trù lôgíc học vận động trong những cực đối lập, chỉ có giá trị tuyệt đối trong
một phạm vi cực kỳ hạn chế”[18,tr.132]
Có thể thấy rằng, cùng với sự phát triển của khoa học và những thành tựu của khoa học tự nhiên
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lý luận nhận thức mácxít đã thực sự khẳng định được vai trò và sức mạnh
to lớn của nó trong việc nhận thức thế giới và giải thích đúng đắn những thành tựu mới của khoa học. Đến
giai đoạn này những nguyên tắc cơ bản thuộc nội dung của lý luận nhận thức như nguyên tắc duy vật
khẳng định nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan
của thế giới khách quan; quan điểm cho rằng nhận thức trên cơ sở thực tiễn; cùng với vấn đề về bản chất
của nhận thức đã được Ph.Ăngghen làm rõ trong sự phê phán những quan điểm sai trái, phản khoa học của
Đuyrinh, trong mối liên hệ chặt chẽ với khoa học tự nhiên, điều này cũng có nghĩa rằng mỗi thành tựu của
khoa học không thể tách rời với mỗi bước phát triển của tư duy lý luận.
1.3.3 C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển học thuyết về nhận thức trong một số tác phẩm khác
Câu hỏi: “Con người có thể nhận thức được thế giới hay không?” đã trở thành nội dung cốt yếu
trong nhiều học thuyết triết học. Việc trả lời cho câu hỏi trên sẽ quy định khuynh hướng, tính chất của mỗi

15
trường phái triết học. Giải quyết được vấn đề cơ bản này cũng có nghĩa là sẽ tiếp tục xác lập nguyên tắc cơ
bản của lý luận nhận thức duy vật biện chứng. Đây không phải là lần đầu tiên Ăngghen bàn đến nội dung
nguyên tắc này, nhưng trong tác phẩm “Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” nó
đã được trình bày kèm theo những mục đích rõ ràng là nhằm thể hiện những quan điểm của ông và Mác
đối với triết học Hêghen và nhất là đối với triết học của Phoiơbắc.
Điều đầu tiên ông khẳng định: “Vấn đề cơ bản của triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn
đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”[23,tr.403] Tiếp nữa là mối liên hệ giữa tư duy và tồn tại với khả năng
nhận thức của con người “vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại còn có một mặt khác: những suy nghĩ của
chúng ta về thế giới xung quanh ta có quan hệ như thế nào với bản thân thế giới ấy? Tư duy của chúng ta
có thể nhận thức được thế giới hiện thực không? Trong các quan niệm và các khái niệm của chúng ta về
thế giới hiện thực, chúng ta có thể phản ánh được một hình ảnh đúng đắn hiện thực không?”[23,tr.405]
Căn cứ vào câu trả lời những câu hỏi trên như thế nào, các nhà triết học chia thành hai phái, những
người thừa nhận sức mạnh và năng lực của con người có thể nhận thức, khám phá những bí mật của thế

điển Đức” ông viết: “Nhưng tất cả các mâu thuẫn ấy, một khi đã loại bỏ vĩnh viễn thì chúng ta sẽ đạt tới
cái được mệnh danh là chân lý tuyệt đối, lịch sử thế giới kết thúc, tuy vậy, lịch sử vẫn cứ phải tiếp tục diễn
ra, mặc dù nó không còn việc gì để làm nữa. Thế là lại nảy sinh ra mâu thuẫn mới, không thể giải quyết
được”[23,tr.398], và khi toàn bộ nền triết học kết thúc thì “Lúc đó người ta sẽ thôi nghĩ tới mọi “chân lý
tuyệt đối”, người ta ra sức tìm kiếm những chân lý tương đối có thể đạt được bằng những khoa học thực
chứng và bằng sự tổng hợp những kết quả của các khoa học đó bởi tư duy biện chứng”[23,tr.398]. Ở đây
Ăngghen đã tiếp tục khẳng định tư tưởng của mình trong Chống Đuyrinh và Biện chứng của tự nhiên,
quan điểm rất cụ thể là, khả năng nhận thức của con người là có hạn, “vừa là tối cao vừa là không tối cao”,
do vậy sẽ không thể có một chân lý vĩnh cửu cho nhận thức của nhân loại trước một thế giới vô tận, nếu
điều này xảy ra thì có nghĩa là mọi mâu thuẫn đã được giải quyết, và sẽ đồng nghĩa với việc “lịch sử thế
giới kết thúc” và “toàn bộ nền triết học kết thúc”. Chân lý cho nhận thức của con người phải được đặt
trong mối liên hệ giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối, không có một chân lý tuyệt đối cho mọi
nhận thức khoa học.
Một tác phẩm nữa trong giai đoạn này cũng cần được đề cập đến, mặc dù nội dung về lý luận
nhận thức không nhiều, đó là tác phẩm “Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học”.
Đây là tác phẩm được Ăngghen viết từ tháng Giêng đến tháng Ba năm 1880, bên cạnh nội dung chính là
lý luận mácxít về chủ nghĩa xã hội, thì ngay trong lời mở đầu của tác phẩm trong khi phê phán những
người bất khả tri thuộc phái Cantơ mới xuất hiện và quan điểm về “vật tự nó” không thể biết nổi tiếng của
Cantơ, Ph.Ăngghen đã thừa nhận sự hiểu biết của con người đối với mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới,
ông viết: “chúng ta chỉ có thể nói thêm rằng vào thời Cantơ, sự hiểu biết của chúng ta về những sự vật tự
nhiên hãy còn khá vụn vặt, đến nỗi ở đằng sau mỗi sự vật ấy người ta còn có thể cho rằng còn có một “vật
tự nó” bí ẩn đặc biệt nữa. Nhưng từ đó đến nay, nhờ sự tiến bộ khổng lồ của khoa học, những sự vật
không thể hiểu biết được ấy đã lần lượt được nhận thức, được phân tích và hơn thế nữa, được tái tạo
ra”[22,tr.435]
Nhắc đến vai trò của nhận thức cảm tính, mặc dù còn chưa thật sâu sắc, nhưng xem đó là giai đoạn
đầu tiên của quá trình nhận thức chân lý, Ph.Ăngghen nói thêm “Cho đến nay chưa có một trường hợp nào
buộc chúng ta phải kết luận rằng những tri giác cảm tính của chúng ta, được kiểm tra một cách khoa học,
lại gây ra trong trí óc chúng ta những biểu tượng về thế giới bên ngoài, mà xét về bản tính lại không đúng
với hiện thực, hay giữa thế giới bên ngoài và những tri giác của chúng ta về thế giới ấy, lại có một sự
không ăn khớp có tính chất bẩm sinh”[22,tr.435]

lôgíc đó để giải quyết vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu. Trong “Tư bản”, Mác đã áp dụng lôgíc, phép
biện chứng và lý luận nhận thức (không cần ba từ: đó cùng là một cái duy nhất) của chủ nghĩa duy vật vào
một khoa học duy nhất”[45,tr.359-360]. Công trình với nội dung cực kỳ phong phú này không chỉ thâu
tóm mọi mặt đời sống xã hội, mà còn là sự thể hiện rõ ràng tính nhất quán và giá trị to lớn của các quan
điểm của Mác trong triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, và quan trọng hơn đó còn
là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân.
Ph.Ăngghen trên cơ sở kế thừa những thành tựu mà C.Mác đã đạt được tiếp tục phát triển những
nội dung mới của lý luận nhận thức dựa trên những điều kiện lịch sử cụ thể, đó là sự phát triển nhanh
chóng của khoa học tự nhiên vào cuối thế kỷ XVIII- đầu thế kỷ XIX, cùng với nhiệm vụ bác bỏ chủ nghĩa
cơ hội, phê phán những người có tư tưởng phản chủ nghĩa Mác như Latxan, Đuyrinh; đáp ứng những yêu
cầu về lý luận và thực tiễn của phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản ở nước Đức vào cuối thế kỷ XIX.
Đóng góp lớn của Ăngghen trong giai đoạn này là đã bổ sung nội dung mới vào nguyên tắc nhận thức duy
vật biện chứng, khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con người; làm sâu sắc và phong phú những
nội dung cơ bản về bản chất của nhận thức, về vai trò của thực tiễn đối với quá trình nhận thức phản ánh
thế giới đúng đắn, chân thực đồng thời làm rõ vấn đề chân lý. Với tất cả những nội dung trên Ph.Ăngghen
đã thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc quan điểm của Mác về nhận thức nói riêng về triết học Mác
nói chung tạo điều kiện xây dựng nhận thức luận mácxít thành một hệ thống lý luận thực sự khoa học,

18
đảm bảo rằng mỗi một quan điểm nhận thức mới được xây dựng thì cũng đồng thời là một quan điểm biện
chứng, quan điểm duy vật lịch sử cơ bản được phát triển trong toàn bộ tiến trình hoàn thiện của chúng.

2.1 Tiền đề lịch sử cho sự phát triển lý luận nhận thức của V.I.Lênin
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Chủ
nghĩa đế quốc xuất hiện càng làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn cơ bản vốn có của phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản là sự phát triển không đều về kinh tế và
chính trị của nó. Mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản diễn ra gay gắt. Các phong trào của
nông dân chống địa chủ phong kiến và phong trào giải phóng dân tộc phát triển gắn chặt với phong trào
cách mạng của giai cấp vô sản. Cách mạng vô sản chín muồi ở khâu yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc.
Nước Nga là nơi tập trung những mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc, chế độ chuyên chế Nga hoàng cản trở
quá trình hình thành chủ nghĩa tư bản, cuộc chiến tranh Nga- Nhật, khủng hoảng kinh tế làm cho đời sống
quần chúng vô cùng cơ cực. Nước Nga trở thành điểm nút tập trung những mâu thuẫn lớn của chủ nghĩa
đế quốc. Trung tâm cách mạng từ Đức chuyển sang Nga.
Để chống lại giai cấp vô sản, giai cấp tư sản đế quốc sử dụng bọn cơ hội trong phong trào công
nhân và chủ nghĩa xét lại để làm yếu phong trào cách mạng. Chủ nghĩa xét lại trở thành một hiện tượng
quốc tế. Các Đảng của quốc tế II mất vai trò lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đang chín muồi.
Một tất yếu lịch sử là phải có các đảng cách mạng kiểu mới, định ra lý luận cho các đảng đó phù hợp với
điều kiện lịch sử mới, điều kiện của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời đại đế quốc chủ nghĩa,
đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa xét lại, thống nhất triệt để lý luận cách mạng với thực tiễn.
Giai cấp vô sản Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng mácxít kiểu mới do Lênin đứng đầu đã trở thành
đội tiên phong của giai cấp công nhân quốc tế. Giai cấp công nhân Nga cùng với giai cấp nông dân đã làm
cuộc cách mạng dân chủ tư sản 1905- 1907, rồi làm cuộc cách mạng tháng Hai 1917, sau đó tiếp tục phát
triển thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại, đã mở đầu thời đại mới trong lịch sử thế
giới.
Sự phát triển của khoa học tự nhiên vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dẫn tới cuộc cách mạng
trong khoa học tự nhiên, đặc biệt là trong lĩnh vực vật lý học với phát minh về điện tử và cấu tạo nguyên
tử đã làm đảo lộn căn bản quan niệm về thế giới của vật lý học cổ điển, dẫn tới “cuộc khủng hoảng vật
lý”. Điều đó dẫn đến yêu cầu phải khái quát về mặt triết học, đặc biệt là về mặt nhận thức của nó, trả lời
những vấn đề mà khoa học đặt ra. Thời kỳ này còn xuất hiện nhiều trào lưu duy tâm phản động như chủ
nghĩa kinh nghiệm phê phán, chủ nghĩa thực dụng, v.v…Chủ nghĩa cơ hội, xét lại thì đội lốt “đổi mới”
chủ nghĩa Mác cho thích ứng với tình thế, hòng thay đổi chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử bằng các biến dạng duy tâm tôn giáo. Bọn Mensêvích, những người Nga theo chủ nghĩa

Trong giai đoạn mở đầu sự phát triển triết học Mác nói chung, lý luận nhận thức mácxít nói riêng,
Lênin đã viết hàng loạt các tác phẩm như“ Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống chủ
nghĩa dân chủ- xã hội ra sao?”(1894), Làm gì?(1902)”, “Một bước tiến hai bước lùi”(1904), “Hai sách
lược của Đảng dân chủ- xã hội trong cách mạng dân chủ”(1905),“Cương lĩnh của chúng ta”, “Chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” (Tháng 2- tháng 10.1908)
Tác phẩm“ Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống chủ nghĩa dân chủ- xã hội ra
sao?”. Trước hết, Lênin tiếp tục xây dựng nguyên tắc duy vật cơ bản của lý luận nhận thức duy vật biện
chứng bằng khái niệm hình thái kinh tế- xã hội. Việc Lênin chú ý nghiên cứu lý luận hình thái kinh tế- xã
hội của Mác, bảo vệ học thuyết mácxít về sự phát triển lịch sử không tách rời sự phê phán, vạch ra hạn chế
của quan điểm duy tâm chủ quan của phái dân túy tự do chủ nghĩa. Lênin chứng minh rằng sự phát triển
xã hội là một quá trình khách quan của sự phát triển và thay đổi các thời đại lịch sử, các giai cấp, các
phương thức sản xuất, đặc biệt là các quan hệ sản xuất trong liên hệ của nó với lực lượng sản xuất. Ông
viết: “Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản
xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan
niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử- tự nhiên”[56,tr.380]
Ở đây, lý luận hình thái kinh tế- xã hội đã chứng minh được tính chân lý của nó trong một điều kiện
lịch sử cụ thể. Tầm quan trọng của phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là của học
thuyết hình thái kinh tế- xã hội đã giúp cho Lênin vạch ra khả năng phát triển của nền kinh tế Nga cũng
như toàn bộ hình thái xã hội Nga bắt nguồn sâu xa từ sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất.

21
Thứ hai, nội dung của lý luận nhận thức duy vật biện chứng về sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn đã được Lênin vận dụng vào thực tiễn cách mạng nước Nga và tồn tại dưới một hình thức mới là sự
thống nhất giữa lý luận cách mạng và thực tiễn cách mạng Nga.
Lý luận phải đáp ứng những vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Ông yêu cầu công tác lý luận và công tác tổ
chức phải gắn chặt với nhau. Ông nhấn mạnh: “ Không ở đâu và (……)Không bao giờ có một người
mácxít nào đã xây dựng những quan điểm dân chủ- xã hội của mình trên một cơ sở nào khác, ngoài cái cơ
sở là sự phù hợp của những quan điểm ấy với hiện thực và với lịch sử những quan hệ kinh tế- xã hội nhất
định, nghĩa là phù hợp những quan hệ kinh tế- xã hội Nga”[56,tr.236-237], bởi vì “phép biện chứng chân

những nội dung quan trọng của lý luận nhận thức là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, cụ thể là lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status