Vấn đề quy luật cơ bản của tư duy trong lôgíc học phương tây - Pdf 25


VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VIỆN TRIẾT HỌC
ĐẶNG THỊ THUÝ ĐIỆU
VẤN ĐỀ QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA
TƢ DUY TRONG LÔGÍC HỌC
PHƢƠNG TÂY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC


TƢ TƢỞNG VỀ QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA TƢ DUY TRONG 46
LÔGÍC HỌC PHƢƠNG TÂY SAU ARISTOTLE 46
2.1. Vấn đề quy luật cơ bản của tư duy trong triết học Leibniz 49
2.2. Những đánh giá của Kant và Hêghen về quy luật cơ bản của tư duy 58
2.3. Sự phê phán và đổi mới cách hiểu về quy luật cơ bản của tư duy ở một số nhà lôgíc học hiện
đại 70
2.4. Ý nghĩa của các quy luật cơ bản của tư duy đối với nhận thức 84
KẾT LUẬN 94
Tài liệu tham khảo……………………………………………………………………………… 98 2

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời kỳ văn minh trí tuệ mà năng lực tư duy
là giá trị cơ bản đảm bảo sự phát triển bền vững, mạnh mẽ của xã hội. Những
thành quả mà con người đạt được có sự đóng góp không nhỏ của lôgíc học
hình thức. Do đó, điều quan trọng là phải nâng cao năng lực tư duy, muốn vậy
chúng ta phải tôn trọng các quy luật của nó. Việc nghiên cứu lôgíc học là điều
cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao chất lượng tư duy.
Lôgíc học là khoa học nghiên cứu tư duy lôgíc của con người. Mọi đối
tượng đều có hai mặt là nội dung và hình thức, do đó tư duy cũng có hai mặt
phân biệt nhau là nội dung và hình thức. Khoa học lôgíc, vì vậy cũng được

lôgíc học hình thức có vai trò rất lớn trong việc "cải thiện" khả năng tư duy.
Nó giúp con người tư duy một cách có hệ thống, nhất quán, chính xác, rõ ràng
và không rơi vào mâu thuẫn lôgíc, điều đó dẫn chúng ta đến thói quen tư duy
chặt chẽ, sử dụng chính xác các thuật ngữ trong cuộc sống. Việc tiếp thu kiến
thức lôgíc học còn giúp chúng ta khám phá ra chân lý một cách nhanh nhất,
ngắn nhất thông qua việc sử dụng thành thạo các tri thức đó. Lôgíc học hình
thức không chỉ cần thiết cho hoạt động học tập mà còn rất cần thiết trong cuộc
sống sinh hoạt hàng ngày của mỗi người.
Các quy luật cơ bản của tư duy lôgíc có vai trò không nhỏ trong hoạt
động nhận thức và nghiên cứu khoa học. Vì là các quy luật cơ bản của tư duy
nên chúng có phạm vi tác động rất lớn, mang tính phổ biến đối với quá trình
nhận thức của con người. Việc tiếp thu đúng các quy luật cơ bản của lôgíc học
hình thức là một trong những điều kiện cần để đạt tới chân lý khách quan,
giúp chúng ta phát hiện ra mâu thuẫn trong lập luận, từ đó cho phép con
người chính xác hoá các sự kiện, hiện tượng để có thể chỉ đạo hoạt động thực
tiễn một cách có hiệu quả. Trong những trường hợp cụ thể những quy luật này
đóng vai trò là công cụ đắc lực giúp chúng ta có được lựa chọn tối ưu nhất.
4
Tuy nhiên, như đã nói, chúng ta có thể vận dụng những quy luật này
một cách tự phát, nhưng việc tìm hiểu, lĩnh hội chúng một cách tự giác, khoa
học sẽ giúp con người chủ động và thuận lợi hơn trong quá trình khám phá,
tiếp thu chân lý mới.
Tư duy lôgíc chính là một bộ phận hợp thành, một bộ phận không thể
thiếu của tư duy khoa học. Việc nâng cao năng lực tư duy lôgíc có vai trò đặc

Lôgíc học hình thức có vai trò rất lớn trong việc rèn luyện, phát triển tư
duy, nhưng lôgíc học hình thức chỉ được đưa vào giảng dạy ở một số ít trường
đại học, còn ở các trường cao đẳng và trung cấp thì người học gần như không
được học môn học này. Ở nước ngoài, ngay ở trình độ phổ thông trung học
học sinh đã được học và nắm vững tri thức của môn khoa học quan trọng này.
Ở nước ta, không chỉ có học sinh phổ thông mà nhiều khoa và nhiều trường
đại học cũng không đưa môn học này vào chương trình giảng dạy. Có thể nói
rằng, ở nước ta, lôgíc học hình thức vẫn còn là một môn khoa học "trẻ". Ngay
những người giảng dạy, nghiên cứu lôgíc học trước các khái niệm được coi là
cơ bản mà có khi vẫn còn phải tranh luận rất nhiều. Điều đó được thể hiện rất
rõ trong hội thảo khoa học do Viện Triết học tổ chức tháng 12/2006: "Lôgíc
học: những vấn đề nảy sinh trong nghiên cứu, giảng dạy và ý nghĩa của nó",
và hội thảo về lôgíc học được tổ chức mới đây (7/2008) tại thành phố Hồ Chí
Minh. Các bài viết, các bài trao đổi ý kiến trong giới lôgíc học vẫn toát lên
những băn khoăn, trăn trở để có được cách nhìn nhận thống nhất về khoa học
này, trước hết là với những vấn đề then chốt nhất, trong đó có vấn đề về quy
luật cơ bản của tư duy.
Những nghiên cứu về lôgíc học trong giới hạn mà chúng tôi sưu tầm
được đã thể hiện tinh thần đầy trách nhiệm của những người nghiên cứu và
giảng dạy lôgíc học cố gắng làm cho môn khoa học này ngày càng phát triển
vừa theo hướng phổ cập, vừa theo hướng chuyên sâu. Trong bài: "Lôgíc hình
6
thức và phương pháp của toán học" [49] tác giả Vũ Văn Viên đã phân tích rõ
quan hệ giữa lôgíc hình thức và phương pháp của toán học đồng thời khẳng


7
trình bày vấn đề này trong phán đoán thì có lẽ tác giả đã lầm giữa nội hàm của
khái niệm với bản thân khái niệm khi được diễn đạt ở khía cạnh khác nhau.
Bài: “Đôi điều trao đổi với tác giả cuốn: “Tỡm hiểu lụgic học”” [31] của
Trọng Nhân đã chỉ ra các lỗi lôgíc trong cuốn “Tìm hiểu lôgíc” của Lê Tử
Thành. Trọng Nhân không tập trung vào toàn bộ các vấn đề của lôgíc học mà
chỉ đề cập đến vấn đề “Những hình thức cơ bản của tư duy” như khái niệm,
phán đoán. Sự phê phán của Trọng Nhân về cơ bản là đúng duy chỉ có điểm
phê phánư về suy luận là sai vì từ hai phán đoán đơn nhất và phán đoán bộ
phận ta không thể có suy luận đúng, ngay cả ví dụ ông đưa ra cũng vi phạm
quy tắc lôgíc vì trong suy luận đó M không chu diên lần nào. Nguyễn Ngọc
Hà có bài: "Phi mâu thuẫn có phải bao giờ cũng là quy luật của tư duy đúng
đắn?" [7], bài viết đã đặt vấn đề về tính đúng đắn của quy luật mâu thuẫn.
Theo tác giả, một số nhà triết học mácxít khẳng định rằng phi mâu thuẫn
không phải bao giờ cũng là quy luật đúng đắn của tư duy vì vẫn có những
mâu thuẫn lôgíc là đúng, chỉ có lôgíc biện chứng mới là khoa học đúng đắn và
xứng đáng là công cụ của hoạt động nhận thức và nghiên cứu khoa học. Theo
tôi, khẳng định quy luật phi mâu thuẫn là đúng nhưng cần giải thích rõ hơn về
vấn đề này nếu không rất dễ gây ra nhận thức sai vấn đề. Sở dĩ có tình trạng
này là vì đối tượng của lôgíc học hình thức là tư duy phản ánh về đối tượng ở
phẩm chất xác định, ở trạng thái tĩnh tại, nhưng tất cả các sự vật hiện tượng
trong thế giới kể cả tư duy lại tồn tại trong trạng thái vận động và biến đổi
không ngừng, do đó khi đem nội dung của quy luật phi mâu thuẫn áp dụng
vào xem xét tư duy phản ánh sự vật ở trạng thái vận động và phát triển thì
không còn phù hợp nữa. Bản thân lôgíc học hình thức vẫn là công cụ đắc lực
trong hoạt động nhận thức và nghiên cứu khoa học vì lôgíc hình thức chính là
giai đoạn không thể thiếu của lôgíc biện chứng, trong hoạt động nhận thức và
nghiên cứu khoa học chúng ta phải sử dụng kết hợp và hợp lý cả hai loại lôgíc


đồng nhất, mâu thuẫn, loại trừ cái thứ ba, lý do đầy đủ.
9
- Nêu ý nghĩa của các quy luật cơ bản của tư duy trong nhận thức khoa học.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, nhất là phần về tư duy và quan hệ của nó với tồn tại.
- Phương pháp: phân tích, tổng hợp, lôgíc và lịch sử, so sánh, diễn dịch
và quy nạp.

5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Quy luật cơ bản của tư duy không chỉ có các quy luật của tư duy hình
thức mà còn bao gồm cả các quy luật của tư duy biện chứng, nhưng đề tài chỉ
giới hạn ở các quy luật cơ bản của tư duy mà lôgíc hình thức nghiên cứu.
- Do thời gian và trình độ của tác giả có hạn nên luận văn chưa thể trình
bày hết các quan niệm về quy luật cơ bản của tư duy hình thức trong toàn bộ
quá trình phát triển của lôgíc học phương Tây, mà mới chỉ trình bày quan
điểm của một số tác giả tiêu biểu như: Aristotle, Lepnit, Kant, Hêghen và của
một số nhà lôgíc học đầu thế kỷ XX như: Vasilev, Lucasevich, Geitinh, Post,
Reikhenbach, Glinvenko, v.v…
6. Cái mới của luận văn
- Làm rõ đóng góp của các nhà triết học, lôgíc học trong lịch sử vào sự
phát triển các quan niệm về quy luật cơ bản của tư duy lôgíc và khẳng định
những cống hiến có giá trị của họ.
- Phân tích những đặc trưng của các quy luật cơ bản của tư duy hình thức.

không thể phủ nhận được. Ngay từ buổi bình minh của nhân loại những tri
thức về quy luật đã hình thành, không những thế vấn đề quy luật còn được
quan tâm nghiên cứu với tư cách là khái niệm khoa học. Trong lịch sử triết
học phạm trù quy luật được rất nhiều nhà triết học quan tâm, định nghĩa theo
nhiều cách khác nhau và nó chủ yếu được quy về một hoặc một số các phạm
trù khác. Mác, Ăngghen và Lênin mặc dù rất quan tâm đến phạm trù quy luật
11
nhưng không phát biểu thành định nghĩa mà chỉ đưa ra những đặc trưng cơ
bản của nó bao gồm tính khách quan, tính tất yếu, tính bản chất và tính phổ
biến,… Các giáo trình đại học và cao đẳng hiện nay trình bày định nghĩa về
quy luật cũng chưa được thống nhất. Ở đây chúng tôi xin nêu ra một vài định
nghĩa về quy luật trong một số tài liệu:
"Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại
giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật, hay giữa
các sự vật, hiện tượng với nhau" [1, 230].
"Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất yếu và phổ biến giữa các
sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng của thế giới
khách quan" [38, 110].
"Quy luật là mối liên hệ tất yếu, bản chất, phổ biến và ổn định, được
lặp đi lặp lại giữa các sự vật, hiện tượng" [10, 85].
Phần lớn các ý kiến đều thống nhất với nhau ở những điểm chủ yếu và
chúng tôi cho rằng: Quy luật là những mối liên hệ khách quan, tất yếu và phổ
biến giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật hoặc
giữa các sự vật, hiện tượng nhất định.

người phản ánh chân thực thế giới sống của mình, chỉ có những tri thức như
vậy mới đáp ứng được nhu cầu hoạt động sống của con người. Tuy nhiên, sự
vật hiện tượng trong thế giới không chỉ tồn tại trong vô vàn mối liên hệ lẫn
nhau mà còn tồn tại trong sự vận động và phát triển không ngừng, ngay cả tư
duy, nhận thức của con người cũng không là ngoại lệ. Trong quá trình tồn tại
và phát triển của mình, những tri thức nào không phản ánh đúng đắn đối
tượng và quy luật của nó như đang có trong hiện thực khách quan sẽ nhanh
chóng bị đào thải vì chúng không thể là kim chỉ nam cho hoạt động của con
người.
Như vậy, quy luật còn là sản phẩm của nhận thức con người trong quá
trình tiếp xúc, nghiên cứu đối tượng, nó là sự kết tinh của kinh nghiệm và tri
thức của con người trong quá trình chinh phục thế giới xung quanh. Quy luật,
13
ở một nghĩa nhất định, chính là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan, con
người dùng ngôn ngữ chủ quan của mình để diễn đạt quy luật của thế giới
khách quan, nhưng nội dung của quy luật lại phản ánh trung thực các mối liên
hệ, nghĩa là tinh thần của quy luật ấy hoàn toàn đồng nhất với sự tồn tại nội
tại của đối tượng. Chính vì lẽ đó nên nội dung của quy luật là khách quan,
không phụ thuộc vào ưý muốn chủ quan của con người. Nhận thức quy luật
cũng chính là nhận thức đối tượng, những tri thức về quy luật phản ánh tính
ổn định, tính bản chất của đối tượng. Những đặc tính của đối tượng được
phản ánh trong quy luật sẽ luôn luôn được thoả mãn khi gặp các điều kiện cần
và đủ cho sự tác động của quy luật đó. Từ đó có thể thấy, nhận thức của con
người về đối tượng cần phải hướng tới những tri thức mang tính quy luật.

hiện tượng thuộc phạm vi tác động của quy luật. Nói về đặc trưng này,
Ăngghen khẳng định: "Hình thức của tính phổ biến trong tự nhiên là quy luật"
[25, 702].
Tính phổ biến của quy luật có quan hệ mật thiết với tính tất yếu nội tại
vì tính tất yếu là cái luôn xảy ra và luôn được lặp lại trong những điều kiện
nhất định, như vậy tính phổ biến rất dễ nhận thấy thông qua sự lặp lại của nó,
chỉ có điều không phải mọi cái được lặp lại đều được gọi là quy luật mà chỉ
có những cái phổ biến phản ánh sự ổn định, bền vững, phản ánh mối liên hệ
bên trong mang tính bản chất mới đươc gọi là quy luật. "Quy luật là cái gì bền
vững (cái được bảo toàn) trong hiện tượng" [22, 160].
Từ sự phân tích ở trên có thể thấy rằng quy luật còn là mối liên hệ bản
chất vì cái bản chất không phải là cái gì khác mà chính là sự tổng hợp của tất
cả những mặt, những mối liên hệ tất yếu, tương đối ổn định ở bên trong sự
vật, hiện tượng. Chính Lênin cũng cho rằng: "Quy luật là phản ánh của cái
bản chất trong sự vận động của vũ trụ" [22, 161]. Ở đây rất cần lưu ưý rằng,
mỗi quy luật chỉ phản ánh một quan hệ bản chất xác định của sự vật, hiện
tượng nhất định, chứ không phản ánh hết bản chất của đối tượng nghiên cứu.
Muốn xét mọi bản chất của sự vật, hiện tượng thì người ta phải xét tổng hợp
tất cả các quy luật phản ánh sự vật, hiện tượng đó. Điều đó cho phép ta khẳng
15
định rằng một sự vật, hiện tượng có thể có nhiều quy luật nhưng quy luật cơ
bản - cái phản ánh chính bản chất của sự vật, hiện tượng được nêu - thì chỉ là
hữu hạn. Nhận thức của chúng ta không chỉ nên hướng đến nhận thức quy luật
của sự vật, hiện tượng mà còn rất cần nhận thức và phân biệt được đâu là quy

chất đến hiện tượng, từ bản chất cấp một đến bản chất cấp 2… đến vô hạn, để
đi đến được cái vô hạn đó con người nhất định phải bằng cách nào đó tiếp xúc
với đối tượng, nếu không tiếp xúc với đối tượng thì toàn bộ nhận thức của con
người về đối tượng chỉ là mớ lý thuyết suông. Những lý thuyết kiểu như vậy
thường là không đáp ứng được đòi hỏi của thực tế cuộc sống vì nó mang tính
chủ quan duy ý chí, còn thực tế cuộc sống lại đòi hỏi những tri thức mang tính
khách quan.
Cùng với sự phát triển của xã hội, tư duy của con người ngày càng
hoàn thiện hơn, tinh xảo hơn. Sự phát triển của xã hội chính là sự thể hiện khả
năng chinh phục tự nhiên của con người, từ đó cho phép con người ngày càng
tạo ra những sự vật mới, thoát khỏi tình trạng cuộc sống con người hoàn toàn
phụ thuộc vào tự nhiên, làm cho cuộc sống của con người ngày càng thoải
mái, dễ chịu hơn. Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại càng ngày càng đặt ra những
vấn đề mới đe doạ mạng sống của con người. Sở dĩ như vậy là do con người
trong quá trình sinh hoạt đã qúa tham lam những lợi ích trước mắt mà quên đi
lợi ích lâu dài vốn đảm bảo sự phát triển bền vững của mình.
Tư duy với ý nghĩa như vậy có mối quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ và
có tính xã hội. Tư duy thường được diễn đạt dễ hiểu nhất bởi ngôn ngữ, thông
qua ngôn ngữ mà người ta hiểu được tư tưởng của nhau, cũng chính nhờ ngôn
ngữ mà chúng ta có thể nắm bắt được tư tưởng của những người sống cách xa
chúng ta hàng thế kỷ. Nhận thức của con người bao giờ cũng phản ánh thế
giới sống của chính mình, phản ánh thế giới vật chất mà con người đang hiện
tồn trong đó. Chính vì thế, tư duy mang những đặc trưng, dấu ấn riêng của thời
đại.

18
chính là mối quan hệ phổ biến, tất yếu giữa các khái niệm, giữa các bộ phận
cấu thành khái niệm; với phán đoán đó là mối quan hệ của các phán đoán đơn
trên hình vuông lôgíc, tính chất chu diên của các thuật ngữ trong phán đoán,
giá trị chân lý của các phán đoán phức; với suy luận thì quy luật có thể hiểu là
các quy tắc của nó v.v Điều đó cho thấy quy luật tư duy trong lôgíc học hình
thức là rất nhiều, mặc dù vậy nó luôn phải thoả mãn các đặc điểm chung của
quy luật tư duy là tính khách quan và tính tất yếu.
Tư duy là thành tố tinh thần của hoạt động con người, các quy luật của
tư duy mặc dù là sản phẩm của chính hình thức hoạt động đó nhưng vẫn có
tính khách quan: nghĩa là các quy luật của tư duy tác động không phụ thuộc
vào ý chí, ý muốn của bất kỳ ai. Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng vật chất là
cái có trước, cái quyết định ý thức con người, nhận thức con người phải
hướng đến phản ánh đúng thực tại khách quan, nhưng tư duy ý thức con
người vẫn có tính độc lập tương đối, vẫn vận hành khá độc lập và tuân theo
quy luật riêng của mình như những thực thể vật chất khác. Với ư nghĩa như
vậy nó là tư duy phổ biến, khi chúng ta hướng tới nhận thức tư duy với
ưnghĩa như đã nêu, thì sự phản tư đó cũng chính là quá trình tư duy về chính
tư duy.
Tính tất yếu của quy luật tư duy thể hiện ở chỗ: tư duy không thể diễn
ra theo cách nào khác, mà phải theo quy tắc xác định của bản thân nó. Trong
quá trình tư duy, nó tác động đến tất cả các tư tưởng khác nhau về nội dung
nhưng có cấu trúc như nhau.
Quy luật tư duy trong lôgíc học hình thức thì có nhiều, nhưng quy luật
phản ánh chính bản chất của tư duy hình thức hay còn gọi là quy luật cơ bản
của tư duy hình thức - tư duy lôgíc thỡ lôgíc truyền thống đã biết đến 4 quy
luật là: quy luật đồng nhất, quy luật mâu thuẫn, quy luật loại trừ cái thứ ba,

thời của chúng. Tư duy với tư cách là cái tồn tại hiện thực cũng không thoát
khỏi quy luật chung đó của tồn tại, nó cũng luôn vận động và phát triển. Lôgíc
học hình thức chỉ phản ánh được một thời đoạn nhất định của tư duy chứ
20
không phản ánh được sự vận hành của tư duy như là một quá trình. Với đặc
điểm riêng biệt như vậy nên những quy luật của tư duy lôgíc hình thức không
tránh khỏi những hạn chế nhất định trong khuôn khổ đối tượng của khoa học
này. Tuy nhiên, tư duy hình thức với các quy luật cơ bản của nó lại có vai trò
không nhỏ trong nhận thức khoa học; nó như là giai đoạn không thể thiếu
trong quá trình nhận thức chân lý. Nhận thức khoa học nếu thiếu tư duy hình
thức thì chỉ là nhận thức phiến diện, ngụy biện về đối tượng.
Quy luật tư duy hình thức hoàn toàn thống nhất với quy luật tư duy
biện chứng, bởi vì quá trình nhận thức là quá trình thống nhất giữa việc xem
xét đối tượng ở trạng thái đứng im tương đối, với việc nghiên cứu nó trong sự
vận động, biến đổi, phát triển không ngừng.
Việc tuân thủ các quy luật tư duy hình thức cơ bản sẽ đảm bảo cho
tư duy đó có được các tính chất cơ bản của tư duy đúng đắn phản ánh
chân thực hiện thực khách quan là: tính nhất quán, tính phi mâu thuẫn,
tính xác định, tính có cơ sở và tính được chứng minh trong quá trình nhận
thức của con người.
1.2. Tiền đề tƣ tƣởng cho sự hình thành quan niệm Aristotle về quy luật
cơ bản của tƣ duy
Có thể nói, triết học phương Tây ra đời và hình thành trước tiên ở Hy
Lạp, đó cũng chính là một trong những nơi mà tri thức nhân loại được hình

Lịch sử triết học chỉ ra rằng, ở Hi Lạp cổ đại thời kỳ trước Aristotle,
những tư tưởng triết học và lôgíc học vẫn chưa tách rời nhau. Chính vì thế các
tư tưởng về lôgíc học thường được trình bày lẫn với các vấn đề khác của triết
học. Các quy luật của tư duy thường được đồng nhất với quy luật của tồn tại.
Việc đó gây không ít khó khăn cho quá trình nghiên cứu. Những mầm mống
tri thức đầu tiên về quy luật cơ bản của tư duy lôgíc đã có trong học thuyết
của các nhà tư tưởng thuộc trường phái Êlê là Parmenit và Zenon.
Trước tiên ta tìm hiểu tư tưởng về quy luật cơ bản của tư duy trong các
luận điểm triết học của Parmenit. Trong quá trình xây dựng quan niệm triết
22
học mới của mình, khi trình bày về tồn tại, Parmenit đã bộc lộ những ý tưởng
về quy luật đồng nhất, đồng thời một phần nhỏ nội dung của nó cũng mang
dáng dấp của quy luật mâu thuẫn. Điều này thể hiện rất rõ trong các luận điểm
xuất phát của ông:
"1. Tư tưởng và đối tượng của tư tưởng là một;
2. Cái đang hiện diện là cái có, còn cái gì không tồn tại là không có;
3. Tồn tại cũng như không tồn tại là có, do đó không tồn tại là không
có” [45, 22].
Tồn tại theo quan niệm của Parmenit chính là thực tại, là thế giới sống,
là cái đang hiện hữu với mỗi người. Thực tại đó là cái duy nhất. Ngoài nó ra
không còn bất kỳ cái gì khác. Tự bản thân nó tồn tại một cách vĩnh viễn, luôn
luôn đồng nhất với chính mình. Điều đó cũng có nghĩa là, nó không bao giờ
có thể biến đổi theo bất kỳ cách nào; sự tồn tại của nó là vĩnh cửu, là bất
động. Parmenit thừa nhận rằng tồn tại là có, có nghĩa là thừa nhận sự tồn tại

thức quan niệm đó tương ứng với tư tưởng cho rằng tồn tại là chân thực và
không tồn tại là giả dối. Parmenit không khẳng định chắc chắn rằng ngoài hai
trường hợp đó ra thì không thể có trường hợp nào khác. Toàn bộ nội dung mà
ông trình bày toát lên một điều: tồn tại chắc chắn là có, không tồn tại là không
có, nếu có tồn tại chỉ có thể là sự tồn tại của cái không, hai ý nghĩa này luôn
luôn là một. Tồn tại và không tồn tại là hai tư tưởng nằm trong quan hệ mâu
thuẫn, trong đó tồn tại là có, là chân thực, không tồn tại là không có, không
chân thực. Điều đó xác nhận một điều là, ta có toàn quyền xác định và xác
định được giá trị chân lý của hai tư tưởng mâu thuẫn đó, giá trị chân lý của
chúng nhất thiết luôn là như vậy, không thể khác được. Quan niệm về tồn tại
của Parmenit như vậy hoàn toàn phù hợp với tư tưởng về quy luật mâu thuẫn
đồng thời mang đầy đủ đặc điểm của quy luật này.
Nếu như Permenit đã bộc lộ những mầm mống tư tưởng về quy luật
đồng nhất và quy luật mâu thuẫn, thì Zenon - học trò của Parmenit - đã biết
dùng quy luật mâu thuẫn một cách tự phát để chứng minh sự không tồn tại
của vận động, của không gian, của tri giác. Các luận cứ mà Zenon đưa ra để
24
chứng minh thực chất là các apori (nghịch lý), vì nội dung của chúng mâu
thuẫn với những cái đang tồn tại hiện thực. Nhưng để bác bỏ được sự vô lý
trong các lập luận đó thì không đơn giản chút nào. Chỉ có những bộ óc tư duy
nhạy bén, sâu sắc, có khả năng khái quát hoá cao thì mới bác bỏ được. Chính
các apori này có đóng góp rất lớn đối với sự phát triển của tư duy biện chứng,
đặc biệt là các apori về vận động. Khi nhận định về đóng góp của Zenon cho
sự phát triển của triết học, Hêghen cho rằng "ông là cha đẻ của phép biện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status