Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Ngày nay, toàn cầu hóa đang là xu thế chung của nhân loại, không có quốc gia
nào thực hiện chính sách đóng cửa mà có thể phát triển được. Chính vì vậy, thương
mại quốc tế đóng vai trò là mũi nhọn của một quốc gia, ngành thương mại quốc tế là
một lĩnh vực cực kỳ năng động để thúc đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập với nền
kinh tế thế giới.
Gia nhập WTO, Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với các
nền kinh tế khác và mở rộng các mối quan hệ kinh tế của mình.
Để đẩy mạnh việc phát triển kinh tế và tham gia tốt vào mối quan hệ kinh tế quốc
tế, Đảng và Nhà nước ta có những chính sách phù hợp. Đó là việc phát triển kinh tế
theo xu hướng mở cửa, chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có
sự điều tiết của Nhà nước. Bên cạnh việc khuyến khích đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
thì vấn đề nhập khẩu nhằm tăng cường lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của
các ngành kinh tế, tiết kiệm chi phí sản xuất, hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu, đáp ứng
nhu cầu dân sinh, tiếp thu khoa học công nghệ và kỹ năng quản lý từ các nước trên thế
giới… đối với nước ta - một nước đang ở giai đoạn đầu của quá trình Công nghiệp hoá
- hiện đại hoá đất nước là một hoạt động tối cần thiết.
Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng nhập khẩu các mặt
hàng mà họ có nhu cầu, do vậy họ đã uỷ thác cho doanh nghiệp khác thực hiện. Để
đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra thuận lợi và an toàn, một nghiệp vụ quan
trọng đối với các doanh nghiệp là xây dựng các hợp đồng. Tuy nhiên trên thực tế do
nhiều nguyên nhân mà quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu vẫn gặp phải một số
vướng mắc, ảnh hưởng đến hiệu quả việc thực hiện hợp đồng. Vấn đề đặt ra là phải
hoàn thiện hơn nữa quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu nói chung và hợp đồng
nhập khẩu uỷ thác nói riêng nhằm giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp.
Trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu than Vinacomin,
nhập khẩu máy móc thiết bị ngành than cũng là một trong những hoạt động chính của
công ty. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó, Công ty cũng đã đầu tư nhân
lực và tài chính cho lĩnh vực này và đạt được một số thành tựu. Tuy nhiên, thực tế cho
móc thiết bị tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu than Vinacomin.
- Về không gian nghiên cứu: thị trường Nga.
Nguyễn Thị Dung –K43E3 Khoa Thương Mại Quốc Tế
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
- Về thời gian nghiên cứu: thu thập và tổng hợp số liệu trong 3 năm 2008, 2009
và 2010.
1.5. Kết cấu của luận văn
Gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài.
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về quy trình thực hiện hợp
đồng nhập khẩu ủy thác
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng quy trình
thực hiện hợp đồng nhập khẩu ủy thác máy móc thiết bị từ thị trường Nga tại
Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu than Vinacomin.
Chương 4: Kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện quy trình thực hiện hợp đồng
nhập khẩu ủy thác máy móc thiết bị từ thị trường Nga tại Công ty Cổ phần xuất
nhập khẩu than Vinacomin.
Nguyễn Thị Dung –K43E3 Khoa Thương Mại Quốc Tế
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY
TRÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU ỦY THÁC
2.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản
2.1.1. Nhập khẩu và nhập khẩu ủy thác
Nhập khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa
và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài
cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Tuy nhiên, theo cách thức
biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình
mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại. Còn việc mua dịch vụ
được tính vào mục cán cân phi thương mại.
Đơn vị tính khi thống kê về nhập khẩu thường là đơn vị tiền tệ (Dollar, triệu
- Có hạn ngạch hoặc chỉ tiêu nhập khẩu, nếu uỷ thác nhập khẩu những hàng hoá
thuộc hạn ngạch hoặc kế hoạch định hướng.
- Ðược cơ quan chuyên ngành đồng ý bằng văn bản đối với những mặt hàng
nhập khẩu chuyên ngành.
- Có khả năng thanh toán hàng hoá nhập khẩu uỷ thác.
• Ðối với bên nhận uỷ thác
- Có giấy phép đăng ký kinh doanh và giấy phép đăng ký mã số xuất nhập khẩu.
- Có ngành hàng phù hợp với hàng hoá nhận xuất nhập khẩu uỷ thác.
c. Phạm vi
- Uỷ thác và nhận uỷ thác nhập khẩu những mặt hàng không thuộc diện Nhà
nước cấm nhập khẩu.
- Bên uỷ thác chỉ được uỷ thác nhập khẩu những mặt hàng nằm trong phạm vi
kinh doanh đã được quy định trong giấy phép đăng ký kinh doanh.
- Bên uỷ thác có quyền lựa chọn bên nhận uỷ thác có đủ điều kiện theo quy
định trên để ký hợp đồng uỷ thác.
2.2. Một số lý thuyết liên quan đến quy trình thực hiện hợp đồng ủy thác nhập
khẩu
2.2.1. Hợp đồng thương mại quốc tế và hợp đồng ủy thác nhập khẩu
Hợp đồng thương mại quốc tế
Là sự thỏa thuận giữa các bên đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác
nhau. Trong đó một bên là người xuất khẩu (bên bán), bên kia là người nhập khẩu (bên
Nguyễn Thị Dung –K43E3 Khoa Thương Mại Quốc Tế
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
mua). Người xuất khẩu có trách nhiệm chuyển quyền sở hữu sang người nhập khẩu
một lượng tài sản (gọi là hàng hóa), còn người nhập khẩu có trách nhiệm nhận hàng và
trả tiền hàng.
Nội dung của hợp đồng phải có các điều khoản chủ yếu sau:
- Tên hàng
- Số lượng
- Chất lượng
• Bên ủy thác:
- Yêu cầu bên được uỷ thác thông báo đầy đủ về tình hình thực hiện hợp đồng uỷ
thác
- Khiếu nại đòi bên uỷ thác bồi thường thiệt hại do bên được uỷ thác gây ra.
2.2.2.2. Trách nhiệm của mỗi bên khi tham gia hợp đồng
• Bên được ủy thác (bên nhận ủy thác):
- Thực hiện mua bán hàng hoá theo hợp đồng uỷ thác.
- Thông báo cho bên uỷ thác về các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện hợp
đồng uỷ thác; trong trường hợp có chỉ dẫn của bên uỷ thác phù hợp với hợp đồng uỷ
thác thì bên được uỷ thác phải tuân theo chỉ dẫn đó.
- Bảo quản, giữ gìn tài sản, tài liệu được giao để thực hiện hợp đồng uỷ thác.
- Giữ bí mật về những thông tin có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng uỷ
thác.
- Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận trong hợp đồng uỷ thác.
Ngoài ra, bên được uỷ thác không được uỷ thác lại cho bên thứ 3 thực hiện hợp
đồng uỷ thác mua bán hàng hoá đã ký, trừ trường hợp có sự chấp thuận bằng văn bản
của bên uỷ thác.
• Bên ủy thác:
- Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết cho việc thực hiện hợp
đồng uỷ thác.
- Trả phí uỷ thác.
- Chịu trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng uỷ thác của bên thứ 3 trong
trường hợp chấp thuận việc uỷ thác lại cho họ.
- Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận trong hợp đồng uỷ thác.
Nói chung, các bên tham gia hoạt động NK uỷ thác phải nghiêm chỉnh thực hiện
những quy định của hợp đồng uỷ thác nhập khẩu do các bên tham gia đã ký và các quy
định của pháp luật. Việc tranh chấp giữa các bên sẽ được giải quyết trên cơ sở thương
Nguyễn Thị Dung –K43E3 Khoa Thương Mại Quốc Tế
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
lượng; nêu thương lượng không đi đến kết quả, thì sẽ đưa ra Toà Án Kinh tế. Phán
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
Hy vọng đề tài của em có thể bổ sung một cách nhìn mới hơn về quy trình thực
hiện hợp đồng nhập khẩu ủy thác cũng như có thể góp phần nhỏ bé làm phong phú
hơn kho luận văn của trường ta.
2.5. Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu
2.6.1. Quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu ủy thác
2.6.1.1. Xin giấy phép nhập khẩu
Xin giấy phép nhập khẩu là vấn đề đầu tiên về mặt pháp lý để tiến hành các bước
tiếp theo.
Hồ sơ xin giấy phép nhập khẩu gồm:
- Hợp đồng
- Phiếu hạn ngạch (nếu hàng thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch)
- Hợp đồng ủy thác XNK (nếu đó là trường hợp ủy thác XNK)
- Giấy báo trúng thầu của bộ tài chính (nếu là hàng xuất khẩu trả nợ nước ngoài)
Thông thường bên ủy thác sẽ có trách nhiệm xin các giấy phép nhập khẩu hoặc
quota đối với hàng chịu hạn ngạch.
2.6.1.2. Mở L/C
Hình thức thanh toán bằng thư tín dụng chứng từ - L/C là một phương thức rất
phổ biến trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu bởi tính an toàn và chắc chắn của
nó.
Để thanh toán bằng hình thức này thì công việc đầu tiên và bắt buộc nhà nhập
khẩu phải làm đó là mở L/C. Trong thực hiện hợp đồng nhập khẩu ủy thác, trách
nhiệm mở L/C thuộc về bên nhận ủy thác.
Những giấy tờ cần thiết để đến ngân hàng xin mở L/C:
- Đơn xin mở L/C (theo mẫu in sẵn của Ngân hàng). Cơ sở viết đơn là hợp đồng
mua bán ngoại thương đã ký kết.
- Hợp đồng ngoại thương.
- Hợp đồng ủy thác nhập khẩu.
- Quota (nếu là các hàng hóa quản lý bằng hạn ngạch).
- Phương án kinh doanh trả chậm (nếu L/C trả chậm).
Khai báo hải quan: chủ hàng sẽ kê khai chi tiết hàng hóa lên tờ khai hải
quan bao gồm các nội dung như: tên hàng, kí mã hiệu, phẩm chất, số lượng, khối
lượng, đơn giá, tổng giá trị và xuất xứ của hàng hóa…đồng thời nộp kèm các chứng
từ khác có liên quan (giấy phép nhập khẩu, C/O, C/I, C/Q, hóa đơn, phiếu đóng gói,
bản kê chi tiết).
Nguyễn Thị Dung –K43E3 Khoa Thương Mại Quốc Tế
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
Xuất trình hàng hóa: doanh nghiệp nhận ủy thác nhập khẩu phải xuất trình
hàng hóa tại địa điểm quy định và tạo mọi điều kiện để cơ quan hải quan kiểm tra hàng
hóa thực tế.
Thực hiện các quyết định của hải quan: Sau khi kiểm tra giấy tờ và hàng hóa,
Hải quan sẽ ra một trong các quyết định như: cho hàng qua biên giới, cho hàng qua
biên giới có điều kiện, không được phép nhập khẩu…
Mọi quyết định của Hải quan đều có tính cưỡng chế đối với chủ hàng. Nếu chủ
hàng có hành vi vi phạm sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự.
Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày mở tờ khai hải quan, bên nhận ủy thác phải
thay mặt chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ thuế (thuế nhập khẩu và thuế VAT).
2.6.1.6. Nhận, kiểm tra hàng nhập và giao hàng cho bên ủy thác
Tùy theo hàng hóa được vận chuyển bằng phương tiện gì mà doanh nghiệp nhận
ủy thác sẽ có cách thức nhận hàng thích hợp như: nhận hàng vận chuyển bằng đường
sắt, đường bộ, đường biển, đường hàng không. Người nhập khẩu nhận hàng tại trạm
giao hàng không, tổ chức vận chuyển hàng về kho riêng của mình.
Sau khi nhận hàng nhập khẩu, bên nhập khẩu ủy thác sẽ cùng với bên giao ủy
thác, công ty giám định hàng hóa, cơ quan ga, cảng, cơ quan kiểm dịch động thực vật
kiểm tra.
Nếu trong quá trình kiểm tra phát hiện có tổn thất hư hỏng thì bên nhập khẩu ủy
thác phải lập thư dự kháng và lập ngay một biên bản giám định và yêu cầu cơ quan
kho cảng, công ty giám định do hai bên chọn ký nhận. Biên bản đó chính là bằng
chứng để bên nhập khẩu ủy thác khiếu nại bên xuất khẩu. Nếu làm tốt việc kiểm tra
hàng hóa, phát hiện kịp thời những sai sót và đòi bên xuất khẩu bồi thường ngay thì sẽ
thủ tục giải quyết khiếu nại cũng tuân theo pháp luật trong nước.
Thông thường, khi xảy ra những vấn đề phát sinh trong thực hiện hợp đồng, các
bên cần có sự hòa giải, thương lượng với nhau. Nếu các bên không tự hòa giải được thì
sẽ đưa ra cơ quan trọng tài hoặc tòa án có thẩm quyền để giải quyết.
2.6.1.9. Thanh lý hợp đồng
Sau khi hợp đồng ủy thác nhập khẩu đã được thực hiện hoàn tất, bên ủy thác và
bên nhận ủy thác sẽ thỏa thuận ngày, giờ và địa điểm để cùng nhau kí vào biên bản
thanh lý hợp đồng.
Nội dung của biên bản thanh lý hợp đồng bao gồm:
- Tên và địa chỉ của bên giao và bên nhận ủy thác
- Hàng hóa (như trong hợp đồng đã kí)
Nguyễn Thị Dung –K43E3 Khoa Thương Mại Quốc Tế
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
- Thanh toán (ghi rõ các khoản tiền mà bên giao đã chuyển)
- Các khoản mục khác
Việc ký biên bản thanh lý là sự xác nhận việc hoàn thành hợp đồng của bên ủy
thác đối với bên nhận ủy thác, khẳng định rằng bên ủy thác đã được nhận hàng như
mong muốn và bên nhận ủy thác đã được thanh toán đầy đủ tiền hàng, các chi phí và
phí ủy thác.
Nguyễn Thị Dung –K43E3 Khoa Thương Mại Quốc Tế
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN
TÍCH THỰC TRẠNG QUY TRÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU
ỦY THÁC MÁY MÓC THIẾT BỊ TỪ THỊ TRƯỜNG NGA TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THAN VINACOMIN
3.1. Phương pháp hệ nghiên cứu
3.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
a. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập từ các nguồn sau:
- Phương pháp điều tra sử dụng bảng câu hỏi: thiết lập bảng điều tra trắc
giữa lý thuyết với việc tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu ủy thác máy móc thiết bị
từ thị trường Nga thực tế diễn ra tại Vinacomin để đưa ra những kết luận sát thực hơn.
3.2. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến
quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu ủy thác máy móc thiết bị từ thị trường
Nga tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Than Vinacomin
3.2.1. Giới thiệu về công ty
3.2.1.1. Khái quát về doanh nghiệp
• Tên công ty: CÔNG TYCỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THAN –
VINACOMIN
• Tên Tiếng Anh: Vinacomin - Coal Import Export Joint Stock Company
• Tên viết tắt: COALIMEX
• Loại hình doanh nghiệp: Công ty Cổ phần
• Trụ sở: 47 phố Quang Trung, P. Trần Hưng Đạo, Q. Hoàn
Kiếm, Hà Nội
Điện thoại : (04) 39424634
Fax : (04) 39422350
Email : [email protected]; [email protected]
Website : www.coalimex.vn; www.coalimex.net
Giấy CNĐKKD : Số 0103006588 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp. Hà Nội cấp, đăng ký
lần đầu ngày 25/1/2005, đăng ký thay đổi lần thứ 9 ngày 6/10/2010.
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Than - VINACOMIN (COALIMEX) mà tiền
thân là Công ty Xuất nhập khẩu than và Cung ứng vật tư, được thành lập ngày 01
tháng 01 năm 1982, trực thuộc Bộ Mỏ và Than; năm 1996 đổi tên thành Công ty Xuất
nhập khẩu và Hợp tác Quốc tế - COALIMEX, đơn vị thành viên của Tổng Công ty
Nguyễn Thị Dung –K43E3 Khoa Thương Mại Quốc Tế
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
Than Việt Nam. Từ ngày 01 tháng 02 năm 2005 chính thức mang tên Công ty Cổ phần
Xuất nhập khẩu Than Việt Nam - COALIMEX, Công ty con của Tập đoàn Công
nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam. Đến 1/1/2007, Công tyđổi tên thành Công ty Cổ
phần Xuất nhập khẩu Than – TKV (V-COALIMEX). Tháng 10/2010, CÔNG TY CỔ
• Xuất khẩu:
+ XK Than:
thị trường: Hàn Quốc, Trung Quốc, Bungari, Cuba, Thái Lan, Philipines, Malaysia,
Ấn Độ…
Trong đó thị trường lớn nhất là Trung Quốc
+ XK Lao động:
thị trường: Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia, Quatar
• Nhập khẩu:
+ mặt hàng: máy móc, vật tư. VD: lốp đặc chủng, thiết bị khoan xúc EKG, xoay
cầu, cáp điện các loại. xe tải siêu trọng, dàn chống, băng tải dốc, thép chống lò….
+ thị trường: Nga, Mỹ , Nhật Bản, Ba Lan, Trung Quốc, Thụy Điển….
• Kinh doanh văn phòng cho thuê
3.2.2. Đánh giá ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến quy trình thực hiện
hợp đồng nhập khẩu ủy thác máy móc thiết bị từ thị trường Nga tại Công ty Cổ
phần xuất nhập khẩu than Vinacomin
Quá trình tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu ủy thác từ thị trường Nga của
Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu than Vinacomin trong thực tế phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố. Đó có thể là những yếu tố chủ quan xuất phát từ bên trong doanh nghiệp, cũng
có thể là do các yếu tố khách quan từ bên ngoài như các chính sách của Nhà nước, các
yếu tố mang tính quốc tế
3.2.2.1. Các nhân tố khách quan
- Tình hình chính trị - pháp luật trong nước và quốc tế:
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động nhập khẩu nói
riêng là hoạt động giao dịch buôn bán trao đổi thương mại giữa các chủ thể ở các quốc
gia khác nhau. Bởi vậy, hoạt động này chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố chính
trị, luật pháp của mỗi quốc gia cũng như những quy định chung của luật pháp quốc tế.
Các công ty kinh doanh nhập khẩu đòi hỏi phải tuân thủ các qui định của các quốc gia
có liên quan, các tập quán và luật pháp quốc tế.
Môi trường chính trị ổn định, luật pháp thông thoáng sẽ thúc đẩy hoạt động
thương mại quốc tế giữa các quốc gia với nhau.
• Chính sách tín dụng: Nếu nhà nước thắt chặt tín dụng, thì các doanh nghiệp sẽ
khó khăn trong việc huy động vốn kinh doanh cũng như dễ bỏ qua các cơ hội đầu tư
Nguyễn Thị Dung –K43E3 Khoa Thương Mại Quốc Tế
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
tốt. Ngược lại, nếu chính sách tín dụng thông thoáng, sẽ kích thích các doanh nghiệp
đầu tư làm ăn tạo ra của cải cho xã hội.
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, ở cuối tháng 4/2011 vừa qua, lãi suất cho
vay đã tăng mạnh ở cả ba mảng: cho vay nông nghiệp, cho vay sản xuất thông thường
và cho vay phi sản xuất. Trong đó, lãi suất cho vay sản xuất nông nghiệp nông thôn,
xuất khẩu từ 14,5-17%/năm (trước chỉ từ 14,5 – 15%/năm); cho vay sản xuất kinh
doanh khác từ 17-20%/năm (trước là 16 – 18%/năm); đối với lĩnh vực phi sản xuất từ
20-23%/năm (trước là từ 18-22%/năm).
Tuy vậy theo phản ánh thực tế, hiện vẫn có một số ngân hàng đã phá rào lãi suất
huy động lên mức từ 15%-19%/năm, dẫn đến lãi suất cho vay trong lĩnh vực sản xuất
kinh doanh bị đẩy lên mức tới 22%, thậm chí có ngân hàng thương mại tự đặt ra nhiều
loại phí khiến lãi suất vay thực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ lên tới 27%/năm. Với
lãi suất cho vay hiện tại quá cao, doanh nghiệp muốn thu lãi được trên đồng vốn đi vay
thì lợi nhuận phải cao hơn so với lãi suất - đây là một bài toán khó với các doanh
nghiệp trong bối cảnh giá cả tăng, chi phí sản xuất tăng, sức mua thị trường giảm.
Ngoài ra, lãi suất cho vay USD cũng là một thông tin đáng quan tâm với các
doanh nghiệp nhập khẩu, cũng theo Ngân hàng Nhà Nước trong tháng 4/2011 lãi suất
cho vay USD bình quân khoảng 6,83% /năm, trong đó lãi suất cho vay phổ biến ở mức
6-7,5%/năm đối với ngắn hạn, 7-8,5%/năm đối với trung và dài hạn. Những ngày đầu
tháng 5, lãi suất cho vay USD trung và dài hạn tăng lên 7,5 -8,5%/năm.
Với lãi suất cho vay hiện tại quá cao, doanh nghiệp muốn thu lãi được trên đồng
vốn đi vay thì lợi nhuận phải cao hơn so với lãi suất - đây là một bài toán khó với các
doanh nghiệp trong bối cảnh giá cả tăng, chi phí sản xuất tăng, sức mua thị trường
giảm.
- Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế:
Các yếu tố hạ tầng phục vụ hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá quốc tế có ảnh
31/12/2010, tổng số doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường là 53 doanh nghiệp, trong
đó gồm 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 12 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ,
10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm. Thị trường bảo
hiểm tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định và đóng góp vào tăng trưởng chung của
nền kinh tế.
• Hệ thống thông tin, liên lạc: việc thực hiện hoạt động nhập khẩu không thể tách
rời với công việc vận chuyển thông tin liên lạc, vì nhờ có thông tin liên lạc hoạt động
mà các nước cách xa nhau vẫn thông tin được với nhau để thỏa thuận tiến hành hợp
Nguyễn Thị Dung –K43E3 Khoa Thương Mại Quốc Tế
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
đồng một cách kịp thời. Thực tế cho thấy rằng sự phát triển của hệ thống thông tin như
internet, Fax, telex, DHL, VMS…đã đơn giản hóa các khâu công việc của hoạt động
nhập khẩu rất nhiều, giảm bớt hàng loạt chi phí, nhanh gọn kịp thời, chính xác.
Tại Việt Nam, hệ thống thông tin cũng đã và đang được cải thiện rất nhiều so với
trước đây góp phần làm cho hoạt động nhập khẩu được nhanh chóng, an toàn và hiệu
quả. Bên cạnh đó, việc tự động hóa trong các khâu làm thủ tục hải quan, hải quan điện
tử đang trong giai đoạn mới đi vào hoạt động, còn chưa thực sự mang lại hiệu quả như
mong đợi.
- Đối thủ cạnh tranh:
Trước đây, Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu than Vinacomin là đơn vị duy nhất
có chức năng nhập khẩu máy móc vật tư cho ngành Than. Nhưng sau khi Nhà nước
mở cửa thực hiện cơ chế thị trường trong ngành than thì ngoài Công tycòn có các đơn
vị như chi nhánh Hà Nội Công ty than Cẩm Phả, Than Nội Địa, Công ty vật tư vận tải
và xếp dỡ cũng có chức năng nhập khẩu tương tự. Đơn vị nào đáp ứng được chất
lượng hàng hóa, giá thấp, quá trình thực hiện các thủ tục thương mại đơn giản, chính
xác và thời gian giao hàng đúng với yêu cầu thì sẽ giành được vị trí cung cấp hàng cho
các bạn hàng.
Điều đó, đòi hỏi Công ty phải ngày càng nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể
đứng vững và phát triển trong điều kiện có sự cạnh tranh mãnh liệt của thị trường
trong và ngoài nước cũng như trong và ngoài ngành Than.
ngoại thương do đó nắm vững các kỹ năng đàm phán quốc tế, luật pháp quốc tế, hiểu
rõ tập quán thương mại của các đối tác…đó là những lợi thế của công ty.
Mặt khác, bản thân Vinacomin là một doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh
vực xuất nhập khẩu nói chung cũng như nhập khẩu ủy thác nói riêng. Công ty là một
thành viên của tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam, do đó uy tín của Công ty với các
đối tác là khá lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của Công ty.
3.3. Kết quả điều tra trắc nghiệm về thực trạng quy trình thực hiện hợp đồng
nhập khẩu ủy thác máy móc thiết bị từ thị trường Nga tại Công ty Cổ phần xuất
nhập khẩu than Vinacomin
3.3.1. Thực trạng quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu ủy thác từ thị trường
Nga tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Than Vinacomin
Sau khi phát phiếu điều tra và phỏng vấn chuyên sâu tại Công ty Cổ phần xuất
nhập khẩu Than Vinacomin, kết quả thu được như sau:
Nguyễn Thị Dung –K43E3 Khoa Thương Mại Quốc Tế
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
Phần A- Đánh giá chung về quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu ủy thác
máy móc thiết bị từ thị trường Nga tại công ty cổ phần XNK than Vinacomin.
Với quy ước đánh giá:
1= Kém
2= Bình thường
3= Khá tốt
4= Tốt
5= Rất tốt
Chú ý:Với những bước trong quy trình Vinacomin không tham gia thực hiện thì
sẽ không đánh giá.
Sau khi thu về 8 phiếu điều tra, tổng hợp và thu được kết quả đánh giá chung về
quy trình thực hiện hợp đồng NKUT máy móc thiết bị từ thị trường Nga tại Vinacomin
như sau:
Bảng 3.1 – Đánh giá tổng hợp các bước thực hiện quy trình NKUT
B1: Xin giấy phép nhập khẩu
Thực tế, việc xin giấy phép nhập khẩu tại Công ty sau khi phỏng vấn cán bộ được
trả lời như sau: Công ty Vinacomin là một thành viên của tập đoàn Than – Khoáng sản
Việt Nam là một đơn vị hạch toán độc lập được thành lập theo quyết định của Nhà
nước, đã được cấp phép xuất khẩu than và nhập khẩu thiết bị máy móc,vật tư cung ứng
cho quá trình khai thác mỏ, bởi vậy Công ty không có nhiệm vụ phải xin giấy phép
nhập khẩu.
2. Mở L/C
Hầu hết các hợp đồng nhập khẩu ủy thác máy móc thiết bị từ thị trường Nga của
Công ty đều thanh toán theo hình thức L/C trả ngay không hủy ngang (Irrevocable L/C
and at sign) chiếm 95%, và chỉ có khoảng 5% hợp đồng nhập khẩu theo hình thức L/C
trả chậm.
Với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, thì bước đầu tiên bắt buộc là
Công ty phải tiến hành mở L/C.
Ngân hàng mở L/C mà Công ty chọn là ngân hàng CP Ngoại thương
Vietcombank. Đây là ngân hàng lớn, có giao dịch với nhiều ngân hàng trên thế giới,
thuận tiện cho Công ty trong quá trình đàm phán ký hợp đồng.
Đơn xin mở L/C (theo mẫu in sẵn của Ngân hàng) được hoàn thiện dựa trên các
điều khoản của hợp đồng nhập khẩu.
Đơn xin mở L/C cùng với các chứng từ khác như: bản sao hợp đồng nhập khẩu,
giấy cam kết thanh toán của công ty, ủy nhiệm chi được chuyển tới ngân hàng mở L/C.
Ủy nhiệm chi bao gồm: một ủy nhiệm chi để ký quỹ theo quy định về việc mở L/C,
một ủy nhiệm chi để trả thủ tục phí cho ngân hàng về việc mở L/C. Thông thường phí
trả cho Ngân hàng về việc mở L/C là 0,3% giá trị hợp đồng. Phần ký quỹ tùy theo thỏa
thuận ký kết trong hợp đồng giữa Công ty và nhà xuất khẩu, thông thường sẽ ký quỹ
khoảng 10%, cũng có những trường hợp không ký quỹ.
Điều này được nhân viên Công ty giải thích như sau: do Ngân hàng và Công ty
có mối quan hệ làm ăn lâu dài, sự tin tưởng của Ngân hàng vào khả năng thanh toán
Nguyễn Thị Dung –K43E3 Khoa Thương Mại Quốc Tế
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại
của Công ty là lớn (Công ty có tài chính mạnh, luôn có nguồn ngoại tệ thu từ xuất