Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường Nhật bản của công ty TNHH Ban Dai Việt Nam. - Pdf 25

SVTH: Nguyễn Thị Hải Yến GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
Chương 1:Tổng quan nghiên cứu giải pháp đẩy mạnh xuất
khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường Nhật bản của
công ty TNHH Ban Dai Việt Nam.
1.1.Tính cấp thiết.
Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập
khẩu của các nước là thước đo kết quả quá trình hội nhập quốc tế và phát triển
trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia.
Hoạt động xuất nhập khẩu còn là yếu tố quan trọng nhằm phát huy mọi
nguồn nội lực, tạo thêm vốn đầu tư để đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm,
thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong nhiều năm qua, lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam đã giành được
nhiều thành tựu đáng kể.Trong sự thành công của ngành xuất khẩu không thể
không kể đến sự đóng góp tuy không lớn nhưng cũng có phần đáng kể của mặt
hàng linh kiện điện tử với 4,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu,mặc dù ngành
công nghiệp điện tử mới xuất hiện cách đây không lâu
Tiềm năng hợp tác kinh tế –thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản là hết
sức to lớn. Cùng với việc ký kết hiệp định thương mại song phương, Việt Nam
gia nhập WTO, quan hệ thương mại hai nước đã bước sang trang mới. Vì vậy
việc xem xét khả năng thâm nhập của hàng linh kiện điện tử vào thị trường Nhật
Bản một thị trường có dung lượng tiêu thụ lớn nhất thế giới đã trở nên rất cần
thiết. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi cũng không ít những khó khăn thách
thức đòi hỏi không chỉ sự nỗ lực của của doanh nghiệp Việt Nam,mà còn sự hỗ
trợ tích cực từ phía Nhà nước để có thể tiếp cận và đẩy mạnh xuất khẩu hàng
linh kiện điện tử Việt Nam vào thị trường tiềm năng nhưng cũng lắm chông gai
này.
Công ty TNHH Ban Dai Việt Nam là một công ty tuy chưa thực sự lớn
mạnh trên thị trường quốc tế nhưng nó có nhiều lợi thế về xuất khẩu.Do là công
ty có 100% vốn đầu tư của Nhật Bản,và đã có kinh nghiệm rất nhiều trong việc
1
SVTH: Nguyễn Thị Hải Yến GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt

Cuối cùng, căn cứ vào xu hướng phát triển của môi trường vĩ mô, môi
trường ngành để đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu mặt
hàng linh kiện điện tử của công ty sang thị trường Nhật Bản.
1.4.Phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu:Đề tài tập trung nghiên cứu giải pháp đẩy mạnh
xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử của công ty TNHH Ban Dai Việt Nam.
Nội dung:đẩy mạnh xuất khẩu hàng linh kiện điện tử.
Thời gian:Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến nay.
Thị trường:Nghiên cứu trên thị trường Nhật Bản.
1.5.Một số khái niệm và phân định nội dung vấn đề nghiên cứu giải pháp
đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử.
1.5.1.Một số khái niệm và lý thuyết.
1.5.1.1.Một số khái niệm.
a.Khái niệm xuất khẩu.
Xuất khẩu là hoạt động nhằm tiêu thụ một phần tổng sản phẩm xã hội ra
nước ngoài.
Hoạt động xuất khẩu là quá trình trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các
quốc gia. Sự trao đổi mua bán hàng hóa là một hình thức của các mối quan hệ xã
hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất
hàng hóa riêng biệt của quốc gia.
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa không phải là những hành vi mua bán
riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức ở cả
bên trong và bên ngoài đất nước nhằm thu được ngoại tệ, những lợi ích kinh tế
xã hội thúc đẩy hoạt động sản xuất hàng hóa trong nước phát triển góp phần
chuyển đổi cơ cấu kinh tế và từng bước nâng cao đời sống nhân dân. Các mối
3
SVTH: Nguyễn Thị Hải Yến GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
quan hệ này xuất hiện có sự phân công lao động quốc tế và chuyên môn hóa sản
xuất.
b.Vai trò của xuất khẩu.

phẩm của doanh nghiệp. Từ đó thu được vốn và lợi nhuận để mở rộng sản xuất,
tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển. Xuất khẩu sẽ mang lại cho doanh
nghiệp nhiều thuận lợi như: tăng tài sản vô hình của doanh nghiệp trên trường
quốc tế, tạo thêm vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đào tạo cán
bộ, đổi mới công nghệ, khai thác các tiềm lực hiện có, tạo viêc làm, tăng thu
nhập cho người lao đông. Đồng thời cũng thông qua xuất khẩu mà doanh nghiệp
có cơ hội tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm về trình độ quản lý, ứng dụng khoa học
công nghệ… từ các doanh nghiệp nước ngoài nhằm tạo ra các sản phẩm có chất
lượng cao, mẫu mã đa dạng phong phú tăng khả năng cạnh tranh trên trường
quốc tế.
c.Nội dung của hoạt động xuất khẩu:
Nghiên cứu tiếp cận thị trường.
Để hiểu rõ các yếu tố của thị trường,nắm rõ các quy luật biến động của thị
trường nhằm mục đích thích ứng kịp thời và làm chủ nó thì việc nghiên cứu thị
tường là vô cùng cần thiết.Nghiên cứu thị trường hàng hóa thế giới có ý nghĩa
quan trọng sống còn trong sự phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế,đặc biệt là
công tác xuất nhập khẩu của các quốc gia nói chung và doanh nghiệp nói
riêng.Nghiên cứu và nắm rõ đặc điểm và sự biến động của thị trường và giá cả
hàng hóa thế giới là nền móng vững chắc đảm báo cho các tổ chức sản xuất hoạt
động trên thị tường thế giới có hiệu quả nhất.
Lập phương án kinh doanh.
Trên cơ sở những kết quả thu lượm được trong quá trình nghiên cứu thị
trường,đơn vị lập phươn án kinh doanh.Phương án này là kế hoạch hoạt động
của đơn vị nhằm đạt đến những mục tiêu xác định trong kinh doanh.
Việc xác định phương án kinh doanh bao gồm:
5
SVTH: Nguyễn Thị Hải Yến GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
• Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân.
• Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện, phương thức kinh doanh.
• Đề ra mục tiêu.

doanh nghiệp.
Biện pháp gia tăng sản lượng xuất khẩu cho doanh nghiệp:Công ty nên
gia tăng sản lượng sản xuất để tận dụng công nghệ và cơ sở hạ tầng hiện có,tăng
sản lượng có thể sẽ giảm được giá thành để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Biện pháp phát triển công nghệ:Phát triển công nghệ sẽ tạo ra được nhiều
sản phẩm với chất lượng tốt và số lượng lớn,ngoài ra còn giúp các công nhân
sản xuất dễ dàng hơn. Các doanh nghiệp thường mở rộng quy mô sản xuất, phát
triền công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa mặt hàng. Trong
số các giải pháp này thì ưu tiên phát triển công nghệ thường được chú trọng áp
dụng. Bởi lẽ khi doanh nghiệp áp dụng được công nghệ sản xuất tiên tiến thì sẽ
nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất và tăng năng suất lao động.
Biện pháp đẩy mạnh nghiên cứu thị trường: Tham gia vào các tam giác và
tứ giác tăng trưởng trong khu vực để đẩy mạnh chính sách đa dạng hoá thị
trường. Đó là chính sách “nhìn về phương Đông” trong thập kỷ 80 của thế kỷ 20
nhằm mở rộng thị trường sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.
Trong thời gian tới các công ty cần điều chỉnh và tổ chức lại phòng kế
hoạch thị trường, nên bổ sung thêm phòng chuyên nghiên cứu về thị trường và
phòng xuất nhập khẩu. Cần chuyên môn hoá từng công việc cụ thể, đảm bảo
thực hiện tốt hoạt động xuất nhập khẩu ngay từ khâu tìm kiếm thị trường và đối
tác làm ăn đến khẩu tiêu thụ sản phẩm.
Biện pháp thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực linh kiện điện tử:Ngành
điện tử là ngành đòi hỏi số lượng vốn đầu tư khá lớn nên càng nhiều vốn đầu tư
thì việc sản xuất và xuất khẩu sẽ dễ dàng hơn. Thông qua việc thiết lập các uỷ
ban đầu tư và các quy chế luật khuyến khích đầu tư đã đem lại sự phát triển cao
7
SVTH: Nguyễn Thị Hải Yến GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
độ của ngành công nghiệp điện tử lắp ráp và chế tạo linh kiện ở khu vực, chúng
ta cần đặc biệt quan tâm thúc đẩy khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, và
như thế cần có đối sách thu hút đầu tư nước ngoài có hiệu quả bằng cách quảng
bá đất nước và quảng bá địa điểm cho các tỉnh và các vùng công nghiệp trên thị

khảo sát thị trường, thuê tư vấn… đảm bảo sự gắn bó chặt chẽ giữa sản xuất –
lưu thông và tiêu thụ xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của người mua. Có nhiều
hình thức để xúc tiến xuất khẩu nhưng doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức sao
cho phù hợp nhất, mang lại hiệu quả nhiều nhất cho mình.
Biện pháp về nguồn nhân lực:Nhân lực là một thành phần không thể thiếu
trong tất cả mọi lĩnh vực sản xuất hay kinh doanh.Việc đẩy mạnh phát triển đào
tạo nguồn nhân lực là vô cùng cần thiết. Để việc nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực có hiệu quả, công ty cần có chế độ khuyến khích cán bộ công nhân
viên theo học các khoá tại chức và dài hạn, đi học tập bồi dưỡng kiến thức ở các
trường đào tạo. Đặc biệt cần có hình thức đào tạo thích hợp và khẩn trương về
khả năng ngoại ngữ, tin học, nghiệp vụ xuất nhập khẩu cho cán bộ làm công tác
xuất nhập khẩu của công ty.
Ngoài ra còn có nhiều biện pháp có thể đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
cho các doanh nghiệp thường áp dụng đó là: biện pháp tăng sức cạnh tranh cho
sản phẩm,biện pháp tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị…
1.5.3.Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu
mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường Nhật Bản của công ty TNHH Ban
Dai Việt Nam.
1.5.3.1.Kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử của Việt Nam.
Kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tính đến
cuối tháng 12 đạt 131,5 triệu USD, giảm 50,4% so với tháng trước, nâng tổng
kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện trong năm đạt
2,8 tỉ USD, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm ngoái.
Hoa kỳ, Nhật Bản luôn là thị trường dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu máy
vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện trong năm 2010, với Hoa Kỳ đạt kim
9
SVTH: Nguyễn Thị Hải Yến GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
ngạch 433 triệu USD, tăng 42% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 15,7% trong
tổng kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; Nhật Bản
đạt kim ngạch 381 triệu USD, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm

qua nhiều cách khác nhau.Các kết quả thu được là kết quả mới.
* Thông qua phiếu điều tra:
Phiếu điều tra được xây dựng trên hai dạng câu hỏi là: câu hỏi mở và câu
hỏi đóng. Các câu hỏi chủ yếu là câu hỏi mở với các câu trả lời đã được giới
hạn. Ngoài ra còn có câu hỏi đóng để người trả lời có thể nêu rõ quan điểm của
mình. Mẫu phiếu điều tra trắc nghiệm bao gồm nội dung về: thị trường, mặt
hàng kinh doanh, các khó khăn công ty gặp phải trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh và tập trung vào các vấn đề liên quan đến hoạt động xuất khẩu
của công ty sang thị trường Nhật Bản. Các câu hỏi trong phiếu điều tra nhằm thu
thập số liệu sơ cấp về tình hình xuất khẩu của công ty ra thế giới, đặc biệt là hoạt
động xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản một cách khách quan và đầy đủ.
* Thông qua phỏng vấn điều tra:
Các câu hỏi phỏng vấn đã được thiết kế sẵn chú trọng xoay quanh các vấn
đề về thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng linh kiện điện tử và các biên pháp
nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng linh kiện điện tử của công ty. Đồng thời ghi
chép các quan điểm, giải pháp giải quyết vấn đề của người được phỏng vấn.
Người được phỏng vấn gồm có: giám đốc điều hành, trưởng phòng tổ chức,
trưởng phòng kinh doanh, trưởng phòng xuất nhập khẩu và một nhân viên phòng
kế hoạch thị trường.
11
SVTH: Nguyễn Thị Hải Yến GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
2.1.2.Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp.
Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp trong nội bộ công ty, các bảng tổng hợp
kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, các báo cáo xuất nhập khẩu và các
loại hợp đồng đều được sử dụng để phân tích. Các nguồn dữ liệu này lấy từ
phòng kế hoạch thị trường, phòng kinh doanh và các phòng ban liên quan khác
của doanh nghiệp.
Tài liệu về chính sách,thông tư,quy định về việc xuất khẩu hàng hóa trên
các website trên mạng internet.
2.1.3.Phương pháp sử dụng để phân tích dữ liệu.

Thị trường Nhật Bản:thiết bị điên tử,các linh kiện điên tử,dây cáp
điện trong xe ô tô cho các hãng sản xuất ô tô.
Thị trường Trung Quốc:các sản phẩm điện tử,các bộ phận để sản
xuất ra các mặt hàng điện tử như nồi cơm điện,tủ lạnh,máy giặt…
2.2.2.Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu giải pháp thúc đẩy
xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị tường Nhật Bản của công ty
TNHH Ban Dai Việt Nam.
Là các nhân tố mang tầm cỡ quốc gia có tác động lớn tới hoạt động xuất
khẩu sang thị trường Nhật Bản của công ty. Tất cả các doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu đều chịu ảnh hưởng của nhóm nhân tố này.
2.2.2.1.Nhóm nhân tố về chính trị,pháp luật.
Trong kinh doanh quốc tế, vấn đề quan trọng nhất của môi trường chính
trị là sự ổn định của hệ thống chính trị quốc gia.
Thuế quan và hạn ngạch: Nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng linh kiện điện
tử chính phủ Việt Nam đã không sử dụng thuế và hạn ngạch xuất khẩu đối với
mặt hàng linh kiện điện tử. Trái lại Việt Nam còn áp dụng các biện pháp trợ cấp
13
SVTH: Nguyễn Thị Hải Yến GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
xuất khẩu đối với hàng điện tử như: đầu tư vốn nhà nước xây dựng cơ sở vật
chất cho ngành điện tử, giảm lãi suất đối với các doanh nghiệp điện tử
Tiêu chuẩn kĩ thuật: đây là biện pháp phi thuế quan nhằm hạn chế số
lượng hàng nhập khẩu của nước chủ nhà. Nhật Bản đưa ra rất nhiều tiêu chuẩn
kĩ thuật gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam như: tiêu chuẩn về kỹ
thuật, đóng gói, chất lượng sản phẩm…Là một quốc gia khó tính nhưng do biết
tìm hiểu thị trường và đáp ứng đơn đặt hàng từ phía đối tác nên công ty Ban Dai
Việt Nam đã khắc phục được rào cản này và không ngừng đẩy mạnh xuất khẩu
sang Nhật Bản.
2.2.2.2.Nhóm nhân tố về kinh tế.
Các lực lượng kinh tế thế giới cần phải quan tâm đầu tiên gồm: cán cân
thương mại, định hướng thị trường, đầu tư nước ngoài và hệ thống tiền tệ thế giới.

nghiệm và hiểu biết về việc xuất khẩu mặt hàng này.Ngành điện tử là ngành còn
non trẻ đang trong giai đoạn phát triển ban đầu nên mang đầy đủ những đặc
điểm thụ động của một nền sản xuất nhận chuyển giao công nghệ.
Nguồn cung ứng của hầu hết các mặt hàng điện tử đều phụ thuộc vào thị
trường nước ngoài. Phần lớn nguyên liệu phục vụ lắp ráp trong nước là từ nhập
khẩu. Thị trường nội địa chỉ cung cấp được một số nguyên liệu đơn giản vì thế
công nghiệp điện tử nước ta phụ thuộc rất nhiều vào thị trường nước ngoài
Công nghiệp điện tử là ngành có công nghệ phát triển với tốc độ rất
nhanh, thay đổi liên tục, và nó tác động lên nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác
Về mặt thị trường: Các tập đoàn, các hãng điện tử lớn cạnh tranh gay gắt
trong việc chiếm lĩnh thị trường. Còn các nước đang phát triển nhập khẩu linh
kiện và nhận chuyển giao công nghệ, đồng thời sản xuất, xuất khẩu lại sản phẩm
điện tử thành phẩm.
15
SVTH: Nguyễn Thị Hải Yến GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
Ngành công nghiệp điện tử là ngành cần có lượng vốn lớn để đầu tư cho
các lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu triển khai các sản phẩm mới, đào tạo kỹ sư,
chuyên gia có tay nghề… Trong khi các nước khác đang mở cửa để thu hút
nguồn đầu tư nước ngoài thì chính phủ ta vẫn áp dụng chính sách bảo hộ bằng
biện pháp thuế quan đối với ngành công nghiệp sản xuất điện tử và linh kiện
điện tử trong nước.
Các doanh nghiệp trong nước đang ở trong tình trạng không chủ động
được về công nghệ, nguyên liệu và chưa điều tiết được thị trường. Công nghệ
của ngành điện tử nhất là công nghệ của các doanh nghiệp trong nước lạc hậu
hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực.Nếu so sánh với 5 nước ASEAN
gồm Thái Lan,Singapo,Malaysia,Philippines,Indonesia đang ở trong giai đoạn 3
là nghiên cứu thiết kế sản phẩm,điện tử công nghệ cao thì ngành công nghiệp
điện tử VN mới đang ở giai đoạn 1,là lắp ráp sản phẩm từ phụ kiện nhập
khẩu,công nghệ hỗ trợ đang ở giai đoạn đầu tư phát triển.
Tình hình sản xuất và cung ứng hàng điện tử phụ thuộc rất nhiều vào

Uy tín của doanh nghiệp: Công ty là công ty có 100% vốn đầu tư của
Nhật Bản,xuất hiện sớm so với sự phát triển của ngành công nghiệp điện tử.Do
là công ty có FDI của Nhật nên được nhiều thuận lợi hơn trong việc xuất khẩu
hàng linh kiện điện tử sang Nhật.Hoạt động khá lâu và có uy tín trong việc xuất
khẩu linh kiện điện tử sang các thị trường khác với chất lượng tốt và giá thành
rẻ,do giá nhân công rẻ.
2.3.Thực trạng xuất khẩu hàng linh kiện điện tử của công ty TNHH Ban
Dai Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.
2.3.1.Đặc điểm thị trường Nhật bản.
Thị trường Nhật Bản từ trước đến nay vẫn là một thị trường hứa hẹn đối
với nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Tổng mức tiêu dùng trong nước của Nhật
Bản tăng nhanh, đạt khoảng 55% trong tổng mức tăng trưởng GDP. Đây là một
chỉ số tạo động lực cho các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường này.
17
SVTH: Nguyễn Thị Hải Yến GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
Nhật Bản – nền kinh tế lớn thứ hai thế giới - là một thị trường lớn với dân
số khoảng 128 triệu và có sức mua lớn. Người tiêu dùng Nhật Bản ưa chuộng sự
đa đẹp, hoàn hảo, tiện dụng là phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng Nhật
Bản hiện nay.Những năm gần đây, kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản ngày
càng tăng. Như vậy, có thể tin tưởng rằng kim ngạch thương mại hai chiều giữa
Việt Nam và Nhật bản của các năm tiếp theo sẽ rất tốt.Hàng xuất khẩu của Việt
Nam ngày càng được chấp nhận tại thị trường Nhật Bản nhưng thị phần vẫn còn
rất khiêm tốn, hiện mới đạt xấp xỉ 1% tổng kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản.
Trong khi đó, thị phần của Trung Quốc là 20,5%, Thái Lan 2,94%, Malaysia
2,8%, Philippines 1,4%, Singapore 1,13% .Sở dĩ kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam sang Nhật Bản còn khiêm tốn là do các DN chưa nắm bắt được hết những
lợi thế và khắc phục những khó khăn khi thâm nhập thị trường này.
Chúng ta nhận thấy thị trường hàng linh kiện điện tử của Nhật Bản là một
thị trường giàu tiềm năng.Do mặt hàng điện tử của Nhật luôn được ưa chuộng
trên thế giới và có sức sản xuất tiêu thụ tương đối lớn.Chính vì vậy nhu cầu về

người Nhật đảm nhận việc tìm kiếm đối tác tại thị trường Nhật Bản sẽ dễ dàng
hơn rất nhiều.Viêt Nam là một nước có giá nhân công khá rẻ cũng tạo nên năng
lực cạnh tranh lớn về giá sản phẩm cho công ty.
2.3.3.Kim ngạch xuất khẩu của công ty.
Để thấy được vai trò xuất khẩu hàng linh kiện điện tử đối với hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty em xin đưa ra bảng số liệu sau:
19
SVTH: Nguyễn Thị Hải Yến GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
Bảng 3.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Ban Dai
Việt Nam năm 2010.
Đơn vị:1000USD.
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Tổng doanh thu 15.133 15.167 20.454
Kim ngạch xuất khẩu 8.326 10.441 14.785
Tỷtrọng xuất
khẩu(%)
55 68,84 72,3
Lợi nhuận 576 856 1.143
Chi cổ tức (%) 11 15 20
(Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường )
Nhìn vào bảng trên ta thấy, xuất khẩu đóng vai trò vô cùng quan trọng đối
với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ trọng xuất khẩu tăng
đáng kể trong ba năm gần đây. Nếu như năm 2008 xuất khẩu chỉ chiếm 55%
tổng doanh thu thì đến năm 2009 chiếm 68,84% và đỉnh cao là năm 2010 lên tới
72,3% tổng doanh thu. Kim ngạch xuất khẩu tăng chứng tỏ sự đầu tư vào hoạt
động xuất khẩu của công ty đã thu được những kết quả khả quan. Mặc dù vậy
doanh thu của công ty còn tăng rất chậm từ năm 2008 đến 2009. Sang năm 2009
tổng doanh thu tăng rất ít, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng suy thoái
kinh tế toàn cầu. Đây cũng là lý do giải thích tại sao kim ngạch xuất khẩu của
công ty tăng rất chậm từ năm 2008 đến năm 2009. Không chỉ có công ty mới

hướng tăng chậm với năm 2008, nhưng nó vẫn chiếm 50,1% tổng kim ngạch
xuất khẩu. Sản lượng xuất khẩu sang Nhật Bản cao nhất vào năm 2010, đạt
7.961nghìn USD, nhưng giảm 0,3 % so với năm 2009. Nguyên nhân là do Nhật
Bản là quốc gia chịu ảnh hưởng lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2009. Vì vậy mà nhập khẩu hàng linh kiện điện tử giảm. Mặt khác theo kết quả
điều tra trắc nghiệm thì có tới 40% ý kiến cho rằng xuất khẩu sang Nhật Bản
giảm trong năm 2009 là do công ty chưa chủ động ứng phó kịp thời với điều
kiện môi trường kinh doanh thay đổi.
Công ty chưa đầu tư đúng mức vào việc nghiên cứu kỹ thị trường nên kim
ngạch xuất khẩu tuy có cao nhưng vẫn chưa thật sự có sức mạnh để quảng bá
được hình ảnh thương hiệu của công ty đến với thị từng nước ngoài.
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua đã gây khó khăn rất lớn cho
công ty,bởi thị tường Nhật bản là khách hàng chính của công ty và cũng là quốc
gia chịu ảnh hưởng không nhỏ từ cuộc khủng hoảng kinh tế.Do đó nhập khẩu
21
SVTH: Nguyễn Thị Hải Yến GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
điện tử tại Nhật Bản giảm sút nhanh chóng làm cho kim ngạch xuất khẩu sang
Nhật Bản của công ty cũng giảm.
2.3.4.Cơ cấu,số lượng sản phẩm của công ty.
Các mặt hàng xuất khẩu chính của công ty bao gồm;linh kiện xe ô tô,linh
kiện tủ lạnh,dây cáp điện trong ô tô,linh kiện các loại sản phẩm điện tử khác…
Bảng số liệu dưới đây sẽ cho chúng ta biết rõ hơn về tình hình xuất khẩu các loại
mặt hàng này.
Bảng 3.3 : Các mặt hàng sản xuất chính của công ty.
Đơn vị:1000sp.

Tên sản phẩm
Sản lượng tiêu thụ.
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ

2. Linh kiện tủ lạnh 700.442 42,97 590.478 46,52 801.126 33,82
3. Dây cáp điện ô tô 507.364 31,12 386.317 30,44 572.433 24,17
4. Linh kiện sp khác 100.769 6,18 - - 392.221 16,56
5. Các sp khác - - - - 100.102 4,23
6. Tổng 1630119 100 1269168 100 2368698 100
(Nguồn:Phòng kế hoạch thị trường)
Qua bảng trên cho chúng ta thấy hầu như các mặt hàng mà công ty sản
xuất đều được xuất khẩu với số lượng lớn trừ các sản phẩm không phải là linh
kiện thì được tiêu thụ tại thị trường nội địa.Trong các sản phẩm xuất khẩu chính
thì thì sản phẩm linh kiện tử lạnh được xuất khẩu với số lượng lớn nhất.Qua các
năm là 42,97% năm 2008,46,52 % năm 2009 nhưng đến năm 2010 thì chỉ chiếm
33,82 % so với tổng số mặt hàng xuất khẩu.Tiếp đến là sản phẩm dây cáp điện
trong ô tô cũng được xuất khẩu nhiều.Mặt hàng các sản phẩm điện tử khác thì
năm 2008 và 2009 chỉ tiêu thụ trong thị trường nội địa nhưng đến năm 2010 thì
đã được xuất khẩu đi nước khác.Tuy số lượng và phần trăm trong tổng sản
lượng vẫn ít chỉ chiếm 4,23 % nhưng nó cho thấy một hướng đi mới trong việc
sản xuất và xuất khẩu của công ty.
Công ty đã chưa sản xuất được số lượng sản phẩm theo đúng năng suất
mà có thể sản xuất được theo như kế hoạch.Với công nghệ và nhân công của
mình công ty có thể sản xuất và xuất khẩu được số lượng sản phẩm chất lượng
với số lượng lớn hơn.
23
SVTH: Nguyễn Thị Hải Yến GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
2.3.5.Các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu công ty đã áp dụng.
Đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa bằng chính sách giá: Theo kết quả điều tra
trắc nghiệm thì có tới 60% ý kiến cho rằng giá xuất khẩu của công ty sang Nhật
Bản là thấp, 30% ý kiến cho là trung bình còn 10% cho là rất thấp. Qua đó ta
thấy chính sách về giá của công ty chưa được chú trọng đúng mức, hiệu quả đem
lại là chưa cao. Công ty chỉ ký hợp đồng khi phía đối tác yêu cầu nên nhiều khi
vì có được hợp đồng mà doanh nghiệp bất chấp ký với mức giá thấp nhằm có

xuất khẩu của công ty vẫn tăng.Năm 2010 công ty đã đứng vững trở lại sau cuộc
khủng hoảng 2009 và đã đi lên phát triển mạnh mẽ hơn trong ngành điện tử,kim
ngạch xuất khẩu tăng lên đạt 72,3% trong năm 2010.
Thứ hai,công ty liên tục tiến hành đẩy mạnh hoạt động mở rộng thị
trường,bên cạnh việc chú trọng phát triển các thị trường truyền thống thì công ty
cũng đã tìm kiếm đối tác mới.Hiện nay thị trường tiêu thụ của công ty đã ở trên
rất nhiều các quốc gia của Châu Á.Việc mở rộng thị trường có ý nghĩa rất lớn
đối với tiềm năng phát triển của công ty sau này đồng thời nó là cách phòng vệ
tốt nhất trước những thay đổi đột ngột của một thị trường chủ chốt nào đó.
Thứ ba, công ty đã bước đầu đổi mới và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh, từng bước triển khai chiến lược đa dạng hóa sản phẩm, đa ngành nghề
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status