Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan tại chi cục Hải quan Nội Bài - Pdf 25

LỜI MỞ ĐẦU
Trước bối cảnh nền kinh tế nước ta đang hội nhập sâu vào nền
kinh tế thế giới. Đặc biệt, từ khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới
WTO kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực. Hoạt động
xuất nhập khẩu diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn, khối lượng hàng hóa
cũng tăng lên rất nhanh. Mặt khác, khi kinh tế phát triển tinh trạng buôn
lậu, gian lận thương mại, trốn thuế càng xảy ra nhiều hơn, với nhiều hình
thức tinh vi và phức tạp. Nhiệm vụ của cơ quan Hải quan là phải quản lý,
kiểm soát hoat động xuất nhập khẩu, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách
nhà nước. Đồng thời, phải đảm bảo việc thông quan hàng hóa nhanh
chóng tạo thuận lợi cho quá trình xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp.
Tình hình đó đã đặt ra cho hải quan Việt Nam những yêu cầu bức thiết,
đòi hỏi ngành Hải quan phải tiến hành một cuộc cách mạng chuyển từ
kiểm tra hàng hóa trước khi thông quan sang kiểm tra sau thông quan bởi
cách làm này mang lại nhiều ưu điểm đó là kiểm soát tốt tình hình xuất
nhập khẩu, đảm bảo thông quan nhanh với chi phí thấp, hạn chế được
tinh trạng buôn lậu, chốn thuế, tạo thuận lợi cho hoạt đọng ngoại thương.
Tuy nhiên vấn đề kiểm tra sau thông quan mới được hải quan Việt Nam
áp dụng một thời gian và vẫn còn những tồn tại vướng mắc cần được
khắc phục và hoàn thiện.
Xuất phát từ hoàn cảnh thực tế cùng với quá trình học tập tại
trường Kinh Tế Quốc Dân và thực tập tại chi cục Hải quan cửa khẩu sân
bay quốc tế Nội Bài em chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau
thông quan tại chi cục Hải quan Nội Bài” Chuyên đề nhằm mục tiêu tìm
hiểu tình hình hoạt động tại Chi cục hải quan cửa khẩu SBQT Nội Bài;
quy trình thực hiện kiểm tra sau thông quan, các ưu nhược điểm trong
quá trình thực hiện, phân tích các nhân tố liên quan, và đưa ra các giải
pháp để hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Chi cục hải
1
quan cửa khẩu SBQT Nội Bài. Đề tài đã chọn được tìm hiểu thông qua
một số phương pháp: phép biện chứng duy vật, thống kê, phân tích tổng

Trên thế giới, kiểm tra sau thông quan được biết đến với cái tên “
kiểm tra trên cơ sở kiểm toán”. Công ước về đơn giản hóa và hài hòa thủ
tục hải quan (Công ước Kyoto) ngày 18/5/1973 có hiệu lực ngày
25/9/1974 và được sửa đổi bổ sung trong tháng 9/1999, tại Phần phụ lục
tổng quát, Chương VI có quy định về các hoạt động có tên gọi là kiểm
toán sau thông quan và kiểm toán hệ thống sổ sách doanh nghiệp.
Theo Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) “ Kiểm tra sau thông
quan là quy trình công tác cho phép viên chức Hải quan kiểm tra tính
chính xác của hoạt động khai hải quan bằng việc kiểm tra các hồ sơ, tài
liệu ghi chép về kế toán và thương mại liên quan đến hoạt động buôn
bán, trao đổi hàng hóa và tất cả các số liệu, thông tin, bằng chứng khác
cho cơ quan Hải quan mà hiện tại đang được các đối tượng kiểm tra (cá
nhân hoặc doanh nghiệp) trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào hoạt động
buôn bán quốc tế nắm giữ”.
Đối với Hải quan ASEAN thì “Kiểm tra sau thông quan là một
biện pháp kiểm soát hải quan có hệ thống mà cơ quan Hải quan thấy thỏa
mãn về độ chính xác và trung thực của việc khai báo hải quan thông qua
việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ có liên quan, hệ thống kinh doanh và dữ liệu
thương mại của các cá nhân, các công ty tham gia trực tiếp hoặc gián
3
tiếp vào thương mại quốc tế”. Đồng thời Hải quan ASEAN cũng phân
tích sáu khía cạnh cơ bản của kiểm tra sau thông quan.
Thứ nhất, KTSTQ chia sẻ trách nhiệm quản lý hải quan có hệ
thống với các đơn vị chức năng khác của hải quan (đơn vị thông quan,
đơn vị điều tra vi phạm hải quan và các đơn vị khác). KTSTQ không
phải là một hệ thống độc lập mà là một chức năng của tổ chức Hải quan.
Kiểm tra sau thông quan đóng vai trò của mình như đã được chỉ rõ đồng
thời gắn bó chặt chẽ với các chức năng liên quan khác, trong phạm vi
chiến lược tổng thể bao trùm toàn bộ ngành Hải quan.
Thứ hai, KTSTQ là một phương pháp kiểm tra của các cán bộ Hải

các thông tin liên quan, bao gồm cả dữ liệu điện tử, do các cá nhân, công
ty có liên quan cung cấp nhằm thực hiện mục tiêu trên. Cán bộ KTSTQ
tập hợp các bằng chứng thu thập từ các nguồn thông tin, đánh giá chúng
trên cơ sở quy định pháp luật hải quan và sau đó xác định xem các tờ
khai có đáp ứng yêu cầu hải quan hay không.
Cuối cùng, KTSTQ không chỉ hướng vào đối tượng khai báo mà
cả các cá nhân, công ty khác liên quan đến thương mại quốc tế.
Còn theo Hải quan Việt Nam: Điều 32 Luật Hải quan sửa đổi, bổ
sung và TT114/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 : KTSTQ là hoạt động
nghiệp vụ do cơ quan chuyên trách của ngành Hải quan thực hiện nhằm
thẩm định tính chính xác, trung thực của việc khai hải quan đối với hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan và đánh giá mức độ tuân thủ pháp
luật của người khai hải quan làm cơ sở xem xét mức độ ưu tiên trong việc
làm thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan và xử lý vi phạm (nếu có).
KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan nhằm:
-Thẩm định tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ mà
chủ hàng, người được chủ hàng ủy quyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất
5
khẩu, nhập khẩu đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan Hải quan đối với
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan;
-Thẩm định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải
quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
1.1.2.Sự cần thiết của hoạt động kiểm tra sau thông quan.
Công tác KTSTQ xuất phát từ những yêu cầu hết sức khách quan
từ thực tiễn phát triển mạnh mẽ của hoạt động xuất nhập khẩu và quản lí
hải quan hiện đại, đồng thời cũng phù hợp với các mục tiêu lớn của Hải
quan Việt Nam. Chúng ta đều biết rằng nhiệm vụ của ngành Hải quan là
kiểm tra, giám sát hoạt động xuất nhập khẩu, thực hiện quản lý nhà nước
về hải quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Để làm tốt nhiệm vụ đó
quả không dễ chút nào đối với ngành Hải quan trong giai đoạn hiện nay.

Tất cả những yếu tố trên đã khẳng định vấn đề kiểm tra sau thông
quan là một vấn đề tất yếu trong giai đoạn hiện nay.
1.1.3. Mục đích của công tác kiểm tra sau thông quan.
Công tác KTSTQ nhằm kiểm tra lại hồ sơ hải quan để xác đinh sự
chính xác, trung thực của các nội dung đã được người khai hải quan khai
báo thuộc đối tượng quản lý của cơ quan Hải quan, xem xét sự phù hợp với
quy định pháp luật của các nội dung. Từ đó cơ quan Hải quan có thể đánh
giá được mức độ tuân thủ pháp luật hải quan của người khai hải quan.
Đồng thời, mục đích khác của công tác KTSTQ đó là tạo điều kiện
cho hàng hóa xuất nhập khẩu lưu chuyển nhanh chóng, thuận lợi. Thực
hiện được mục đích này là nhờ công tác KTSTQ đã thẩm định lại những
hồ sơ hàng hóa xuất nhập khẩu đã được thông quan, hỗ trợ đắc lực cho
khâu thông quan, giảm tỷ lệ kiểm tra hàng hoá trong thông quan xuống
dưới 10%.
Một mục đích cũng rất quan trọng của công tác này là bảo vệ
nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Đó là nhờ tác dụng chống buôn lậu,
7
gian lận thương mại và tăng tính tuân thủ pháp luật của công tác
KTSTQ.
Ngoài ra, công tác KTSTQ còn nhằm khai thác, bố trí nguồn nhân
lực và phương tiện kiểm tra hải quan của ngành một cách hiệu quả nhất.
1.1.4.Vai trò của công tác kiểm tra sau thông quan.
Công tác KTSTQ đã khẳng định được vai trò quan trọng trong
những năm gần đây. Điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau:
Đối với cơ quan Hải quan: KTSTQ dã giúp ngành Hải quan nâng
cao được năng lực quản lý của mình, thực hiện chống gian lận thương
mại, chốn thuế có hiệu quả hơn. KTSTQ có tác dụng răn đe những doanh
nghiệp muốn luồn lách các kẽ hở của chính sách pháp luật trong quá
trình thông quan. Vì ngay cả khi lô hàng XNK vi phạm pháp luật được
thông quan bằng cách này hay cách khác thì những lô hàng hóa đó vẫn

ngân sách nhà nước, chống thất thu thuế. Đồng thời, nó cũng góp phần
hoàn chỉnh cơ chế, chính sách, pháp luật của nhà nước, bảo vệ quyền lợi
quốc gia, bảo vệ nền sản xuất trong nước.
KTSTQ đang ngày càng được nhìn nhận có một vị trí to lớn trong
hoạt động hải quan. Sự nhìn nhận đúng đắn về công tác KTSTQ sẽ giúp
các nhà làm chính sách hoạch định chiến lược phát triển và đầu tư thích
đáng cho hoạt động KTSTQ, giúp các doanh nghiệp có một cái nhìn
chuẩn mực đối với công tác KTSTQ, nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp
luật của các doanh nghiệp đồng thời nâng cao vị thế, hiệu quả hoạt động
kiểm tra sau thông quan, xứng đáng với sự đầu tư của ngành Hải quan
nói riêng và của Nhà nước nói chung.
1.1.5.Lợi ích của công tác kiểm tra sau thông quan.
Công tác KTSTQ mang lại nhiều lợi ích cho chính cơ quan Hải
quan, cho nhà nước và doanh nghiệp. Cụ thể:
9
Với cơ quan Hải quan: nhờ KTSTQ mà cơ quan Hải quan đã quản
lý được hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp một các liên tục
trong một mối quan hệ tổng thể và thống nhất. Công tác KTSTQ thực
hiện trên cơ sở lựa chọn, đánh giá từng doanh nghiệp, kiểm tra có trọng
điểm trên cơ sở nghi vấn từ đó giúp cho ngành Hải quan tiết kiệm được
nguồn nhân lực trong khâu kiểm tra trước thông quan.
Với nhà nước: nhờ KTSTQ có tác dụng răn đe, hạn chế các doanh
nghiệp có khả năng vi phạm pháp luật hải quan nên đã làm tăng khả
năng tập trung và đảm bảo việc thu nộp thuế đúng, đủ, kịp thời cho ngân
sách nhà nước, chống thất thu thuế. Nhờ nguồn thu ổn định từ thuế mà
nhà nước có thể thực hiện các chinh sách và chiến lược đầu tư cho phát
triển kinh tế theo đung mục tiêu đã đề ra. Ngoài ra, KTSTQ còn góp
phần thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển, tạo thuận lợi cho sự phát
triển kinh tế của đất nước.
Với doanh nghiệp: công tác KTSTQ đã đem lại lợi ích không nhỏ

kiểm tra
Bước 2. Thu thập, phân tích thông tin về đối tượng kiểm tra
Bước 3. Yêu cầu doanh nghiệp giải trình
Bước 4. Kiểm tra tại doanh nghiệp
Bước 5. Kết luận kiểm tra sau thông quan, kiểm tra thuế tại trụ sở
doanh nghiệp
Bước 6. Báo cáo kết quả kiểm tra, đề xuất ý kiến xử lý
Bước 7. Quyết định ấn định thuế (nếu có)
Bước 8. Lập biên bản vi phạm hành chính (nếu có)
Bước 9. Quyết định xử lý vi phạm hành chính (nếu có)
Bước 10. Giải quyết khiếu nại (nếu có)
Bước 11. Tổ chức rút kinh nghiệm
Bước 12. Cập nhập thông tin và lưu trữ hồ sơ
11
Các bước trong quy trình 2 có thể được khái quát thành ba phần nối
tiếp nhau theo thứ tự: Lập kế hoạch và lựa chọn đối tượng kiểm tra; tiến
hành kiểm tra thực tế; đánh giá kết quả kiểm tra. Cụ thể như sau:
Lập kế hoạch và lựa chọn đối tượng kiểm tra:
- Phải xác định được các lĩnh vực cần kiểm tra, các nội dung cần
kiểm tra để làm định hướng cho công tác kiểm tra.
- Lựa chọn các đối tượng có nguy cơ rủi ro cao để tiến hành kiểm
tra.
Tiến hành kiểm tra thực tế:
- Chuẩn bị kiểm tra thực tế: Đánh giá các thông tin thu thập được
trong khâu trước, đánh giá thông tin về điểm mạnh, điểm yếu của đối
tượng kiểm tra về cơ cấu tổ chức, thông tin mặt hàng, phương thức thanh
toán, trị giá hải quan, chi phí khác có liên quan….
- Liên lạc ban đầu với đối tượng kiểm tra: trước khi tiến hành
kiểm tra thực tế tại trụ sở của đối tượng kiểm tra, cơ quan Hải quan phải
tiến hành thông báo với đối tượng kiểm tra các nội dung ngày giờ và thời

Giai đoạn 1: Hồ sơ trong quá trình kiểm tra sau thông quan, kiểm
tra thuế tại trụ sở Hải quan.
Giai đoạn 2: Hồ sơ trong quá trình kiểm tra sau thông quan kiểm
tra thuế tại trụ sơ doanh nghiệp.
Giai đoạn 3: Hồ sơ giai đoạn ban hành quyết định hành chính.
Giai đoạn 4: Hồ sơ giai đoạn giải quyết khiếu nại.
Giai đoạn 5: Giai đoạn tham gia tố tụng.
Giai đoạn 6: Lưu trữ hồ sơ.
1.2 Khái quát về chi cục Hải quan Nội Bài.
1.2.1 Lịch sử hình thành.
Chi cục Hải quan Sân bay quốc tế Nội Bài là một đơn vị trực thuộc
cục Hải quan Hà Nội.Cùng với sự phát triển lớn mạnh của cục Hải quan Hà
13
Nội, chi cục Hải quan sân bay quốc tế Nội Bài cũng được xây dựng và
trưởng thành. Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị của
Thủ đô lực lượng Hải quan thủ đô cần được tăng cường và mở rộng.Trước
yêu cầu đó, đầu năm 1978, trạm Hải quan Sân bay quốc tế Thủ đô hay trạm
Hải quan Nội Bài đã được triển khai hoạt động. Ngày 02/6/1981, Bộ Ngoại
thương ra quyết định số 583/BNT/TCCB chuyển Trạm Hải quan Sân bay
quốc tế thủ đô thành Chi cục Hải quan SBQT Thủ đô. Từ năm 1982 chi cục
Hải quan SBQT Thủ đô lấy tên là chi cục Hải quan cửa khẩu Sân bay quốc
tế Nội Bài và phát triển cho đến ngày nay.
1.2.2 Cơ cấu tổ chức
Do địa bàn hoạt động của chi cục khá rộng, lại xa cơ quan cục và
thành phố nên cơ cấu tổ chức của chi cục được bố trí như sau:
Ban chỉ huy chi cục gồm: một chi cục trưởng và sáu chi cục phó.
Chi cục có 10 đội, tổ công tác bao gồm:
Đội tổng hợp có 25 người làm nhiệm vụ tổng hợp số liệu của các
đội trong chi cục, thống kê quản lý, lưu trữ số liệu, tổng kết báo cáo kết
quả công tác của chi cục.

Nhiệm vụ:
-Tiến hành thủ tục Hải quan, thực hiện kiểm tra, giám sát Hải quan
đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, chuyển cửa khẩu,
phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo quy định của
pháp luật.
- Tiến hành kiểm soát Hải quan để phòng, chống buôn lậu, chống
gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới trong
địa bàn hoạt động của Chi cục Hải quan.
- Phối hợp với các lực lượng chức năng khác để thực hiện công tác
chống buôn lậu, chống gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng
hoá qua biên giới ngoài địa bàn hoạt động của Chi cục Hải quan.
15
- Tiến hành thu thuế và các khoản thu khác theo quy định của
pháp luật đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thực hiện theo dõi đôn
đốc thu thuế nợ đọng, cưỡng chế thuế và phúc tập hồ sơ Hải quan; đảm
bảo thu đúng, thu đủ, nộp kịp thời vào ngân sách nhà nước.
- Thực hiện thống kê nhà nước về Hải quan đối với hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh,
quá cảnh thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Hải quan.
- Thực hiện việc lập biên bản, ra quyết định tạm giữ hàng hoá,
tang vật phương tiện vi phạmn hành chính về Hải quan và xử lý vi phạm
hành chính về Hải quan; giải quyết khiếu nại hành chính và giải quyết tố
cáo theo thẩm quyền Chi cục Hải quan được pháp luật quy định.
- Kiến nghị với các cấp có thẩm quyền những vấn đề cần sửa đổi,
bổ sung về chính sách quản lý Nhà nước về Hải quan đối với hoạt động
xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế
đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, các quy định, quy trình thủ tục
Hải quan và những vấn đề vượt quá thẩm quyền giải quyết của Chi cục
Hải quan.
- Phối hợp chặt chẽ với cơ quan Nhà nước, tổ chức hữu quan trên

Về vấn đề xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đã được chú trọng và
đầu tư hợp lý. Chi cục chủ động đề xuất với lãnh đạo các cấp đầu tư sủa
chữa, cải thiện môi trường làm việc cho cán bộ công chức, bổ sung nhiều
trang thiết bị phục vụ công tác của chi cục. Hiện nay, chi cục đã có tru sở
làm việc khan trang đáp ứng được yêu cầu làm việc đặt ra. Do đặc thù
hoạt động tại sân bay
Nội Bài có tầm quan trọng và ảnh hưởng lớn nên Hải quan Nội
Bài luôn nhận được sự quan tâm đầu tư của ngành Hải quan. Hải quan
Nội Bài được trang bị nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại như hệ thống
camera quan sát hiện đại trong khu vực nhà ga hành khách T1, hệ thống
17
gồm 18 máy soi hàng hoá, 7 máy kiểm tra, phát hiện chất ma tuý, 2 máy
do nồng độ phóng xạ.
1.3 Công tác kiểm tra sau thông quan của hải quan các nước trên
thế giới
1.3.1 Công tác kiểm tra sau thông quan của Hải quan Nhật Bản
Năm 1966, thủ tục thông quan hàng nhập khẩu của Nhật Bản
chuyển từ hệ thống Hải quan tính thuế sang hệ thống người nhập khẩu tự
khai báo và tính thuế. Từ đây, một yêu cầu đặt ra là làm thế nào để kiểm
tra và rà soát kỹ các tờ khai, đảm bảo thu đúng thuế nhưng vẫn giải
phóng hàng nhanh. Để giải quyết vấn đề này, năm 1968, hệ thống
KTSTQ của Hải quan Nhật Bản đã được triển khai.
Cơ cấu tổ chức:
Ở Nhật Bản, cơ quan Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính. Toàn lãnh
thổ Nhật Bản được chia làm 9 vùng Hải quan là: Tokyo, Yokohama,
Kobe, Osaka, Nagoya, Moji, Nagasaki, Hakodate và Okinawa. Số lượng
cán bộ công chức hải quan khoảng 8.300 người. Ngoại trừ Hải quan
Okinawa, mỗi Hải quan vùng đều có 4 vụ: Vụ hợp tác quốc tế, Vụ Pháp
chế, Vụ Thông quan và Vụ kiểm tra sau nhập khẩu và kiểm soát hải quan
vùng. Bộ phận KTSTQ trực thuộc Vụ Kiểm tra sau nhập khẩu và kiểm

nghiệp đã được lưu lại và bảo mật, được tiến hành theo những luật đã
ban hành không chỉ riêng Luật Hải quan.
Khi thấy cần thiết phải tiến hành một vụ việc KTSTQ, nhân viên
hải quan có quyền được chất vấn người nhập khẩu (doanh nghiệp) trong
phạm vi Luật cho phép, phúc tập các sổ sách và tài liệu liên quan đến
hàng hóa nhập khẩu-hoặc kiểm tra hàng hóa (Luật Hải quan, điều 105,
khoản 1). Người bị kiểm tra (doanh nghiệp) khi bị KTSTQ nếu không trả
lời câu hỏi, trả lời không đúng sự thật, không đồng ý hoặc cản trở nhân
19
viên hải quan tiến hành nhiệm vụ hay có bất kỳ hành động chống đối nào
sẽ bị phạt 500.000 Yên (Luật Hải quan, điều 114, Mục 5).
Phương pháp KTSTQ của Hải quan Nhật Bản là Hải quan vùng
Tokyo chỉ đạo việc KTSTQ của tất cả các phòng đầu ngành trong thời
hạn 4 năm một lần, và tất cả tài liệu liên quan đến hàng hóa đã thông
quan sẽ phải lưu giữ ở Tokyo. Mục tiêu của KTSTQ thay đổi dựa trên
tình hình cụ thể của hàng năm.
Theo Hải quan Nhật Bản, KTSTQ nên giới hạn trong một vài
trường hợp mà số thuế chênh lệch bị phát hiện vượt trội chứ không làm
tất cả. Nên sử dụng những phương pháp trên để tiến hành KTSTQ bởi
phương pháp này không chỉ đơn thuần điều chỉnh thuế sau khi thông
quan mà còn xét đến chi phí chuẩn bị và hiệu quả công việc của bên bị
kiểm tra, cụ thể ở đây là người nộp thuế.
1.3.2 Công tác kiểm tra sau thông quan của Hải quan Trung quốc
Từ tháng 4/1992 Hải quan Trung quốc đã tiến hành thí điểm áp
dụng biện pháp KTSTQ tại 03 đơn vị có hoạt động XNK phức tạp. Đến
01/3/1997 Quốc Vụ Viện nước CHND Trung hoa công bố Điều lệ
KTSTQ trong đó quy định trong thời hạn 3 năm kể từ ngày hàng hoá
XNK được thông quan, cơ quan HQ tiến hành hạch toán, kiểm tra sổ
sách kế toán, chứng từ, đơn chứng báo quan và các tài liệu liên quan
khác cùng với hàng hóa XNK hữu quan của người bị kiểm tra để thẩm

- Các hoạt động xử lý kết quả kiểm tra
Theo quy định của Hải quan Indonesia, ngay từ khâu liên hệ ban
đầu đến khi kết thúc kiểm tra, nhóm KTSTQ phải luôn duy trì liên lạc,
hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp và các đơn vị hải quan khác. Bên cạnh
đó, nhóm KTSTQ cần lập báo cáo để bảo đảm rằng tất cả những phát
hiện và những vấn đề khác đều được xem xét, thảo luận giữa doanh
nghiệp và các cán bộ KTSTQ. Bản báo cáo này sẽ được chuyển cho cả
21
doanh nghiệp và người quản lý công tác KTSTQ. Thêm vào đó, việc
phối hợp với các tổ chức khác, như cơ quan ngân sách, cơ quan thuế
thông qua việc trao đổi thông tin liên quan đến doanh nghiệp được kiểm
tra cũng sẽ đóng góp rất lớn vào hoạt động KTSTQ để có hiệu quả cao,
đặc biệt là trong giai đoạn lựa chọn doanh nghiệp.
Khi tiến hành KTSTQ, Hải quan Indonesia kiểm tra kỹ lưỡng dựa
trên tất cả các thông tin liên quan, kể cả dữ liệu điện tử do doanh nghiệp
có liên quan cung cấp. Cán bộ KTSTQ tích luỹ các bằng chứng thu được
từ các thông tin, từ đó đánh giá về những thông tin này dựa trên các quy
định của hải quan, đồng thời xác định tính tương thích giữa tờ khai hải
quan và các quy định của hải quan.
Để tiến hành KTSTQ một cách có hiệu quả, theo Hải quan
Indonesia cần phải quy định nghĩa vụ lưu giữ các ghi chép kế toán của
doanh nghiệp, cán bộ KTSTQ phải có kiến thức và kỹ năng chuyên sâu
về kế toán, thương mại và các quy định của hải quan nhằm thực hiện
KTSTQ tốt và có hiệu quả. Theo Luật Hải quan Indonesia, KTSTQ
không chỉ hướng đến người khai báo hải quan mà cả những doanh
nghiệp có liên quan đến thương mại quốc tế như bạn hàng trong nội địa
của người nhập khẩu, đại lý làm thủ tục hải quan, chủ kho chứa hàng
Theo Hải quan Indonesia, để áp dụng KTSTQ một cách có hiệu
quả, cơ quan hải quan cần xây dựng những biện pháp có tính chiến lược
và phối hợp tổng thể, bao gồm những yếu tố chủ yếu như sau: Hệ thống

với cấp lãnh đạo từ cấp phòng trở lên, người thay thế phải được lựa
chọn, quy hoạch và đào tạo để đảm bảo thay thế tốt người tiền nhiệm.
Theo Luật Hải quan Thái Lan nhân viên hải quan có quyền tiến
hành KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp hoặc bên liên quan và có quyền tra
cứu các tài liệu do ngân hàng của doanh nghiệp quản lý. Thông thường
nhóm kiểm tra gồm ít nhất 3 người và một trưởng nhóm. Thời gian
23
thông báo KTSTQ sẽ được gửi đến doanh nghiệp ít nhất là 10 ngày trước
khi bắt đầu kiểm tra. Trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể không
được tính đến và cơ quan Hải quan có thể bắt đầu ngay công việc của
mình, nhất là đối với trường hợp kiểm tra người mua hàng của nhà nhập
khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định trị giá GATT. Hải quan có thể kiểm
tra tờ khai trong 10 năm trở lại đây bởi theo quy định hiện hành những
khoản chênh lệch thuế trong 10 năm gần nhất sẽ đều được thu lại. Thời
hạn lưu giữ hồ sơ liên quan của doanh nghiệp là 5 năm. Sự khác biệt
giữa thời gian kiểm tra và thời gian lưu giữ hồ sơ có thể gây khó khăn
cho việc KTSTQ. Do đó, Hải quan Thái Lan đang đề nghị được điều
chỉnh thời hạn này, theo hướng thời hạn lưu giữ hồ sơ và thời hạn phải
truy thu thuế (sau khi có kết luận của KTSTQ) đều là 5 năm. Một đợt
kiểm tra phải được hoàn thành trong 10 ngày và sau đó đoàn công tác
phải có báo cáo gửi cho lãnh đạo và doanh nghiệp. Nếu có nghi ngờ về
vi phạm, các tài liệu liên quan sẽ được giữ lại bởi đó sẽ là chứng cứ vi
phạm và được lưu giữ tại cơ quan Hải quan. Trong vòng ba ngày sau khi
cuộc kiểm tra kết thúc, báo cáo kiểm tra sẽ phải hoàn thành để cập nhật
cho cơ sở dữ liệu đánh giá rủi ro. Khi tiến hành KTSTQ, việc tìm ra
nguyên nhân của sự chênh lệch giữa hồ sơ và số thuế thực tế được nộp là
rất cần thiết. Hải quan Thái Lan có nhiều biện pháp xử lý những doanh
nghiệp không nộp thuế theo kết luận của đoàn KTSTQ như cưỡng chế
làm thủ tục, đưa vụ việc ra “Toà án trung ương về thuế”. Kể từ tháng 4-
2004, Hải quan Thái Lan đang áp dụng chương trình “KTSTQ thông qua

KTSTQ

25

Trích đoạn Cơ sở pháp lý quy định hoạt động kiểm tra sau thông quan ở Việt Nam. Tăng cường sự phối hợp giữa Hải quan Nội Bài với các ban ngành liên quan và với doanh nghiệp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và văn bản hướng dẫn thực hiện kiểm tra sau thông quan Với Tổng cục Hải quan. Với Bộ tài chính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status